Ngăn chặn tin nhắn giả mạo ngân hàng - Nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao

Công nghệ & ngân hàng số
Theo chuyên gia công nghệ, phương thức phát tán tin nhắn mạo danh SMS Brandname (gồm SMS quảng cáo và SMS chăm sóc khách hàng) của ngân hàng không mới nhưng rất khó ngăn chặn. Nguy hiểm ở chỗ, tin nhắn giả Brandname không khác gì tin nhắn thật, khiến điện thoại tự động xếp chung với các tin nhắn thật, người dùng rất khó phân biệt.
aa

Theo chuyên gia công nghệ, phương thức phát tán tin nhắn mạo danh SMS Brandname (gồm SMS quảng cáo và SMS chăm sóc khách hàng) của ngân hàng không mới nhưng rất khó ngăn chặn. Nguy hiểm ở chỗ, tin nhắn giả Brandname không khác gì tin nhắn thật, khiến điện thoại tự động xếp chung với các tin nhắn thật, người dùng rất khó phân biệt.
Để tăng cường đảm bảo an ninh, bảo mật cho thanh toán trực tuyến trong thời gian tới, các tổ chức tín dụng (TCTD) cần tăng cường công tác truyền thông đến khách hàng về các thủ đoạn của tội phạm mạng và các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán thẻ. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng cần tiếp tục chủ động triển khai các giải pháp để tăng cường đảm bảo an ninh, bảo mật trong cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến nói riêng và an ninh mạng nói chung.

Ngân hàng tiếp tục cảnh báo về tin nhắn giả mạo ngân hàng

Ngày 03/4/2023, Ngân hàng Thương mại (NHTM) cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã thông báo về sự xuất hiện trở lại tình trạng lừa đảo giả mạo tin nhắn SMS thương hiệu Vietcombank tại Hà Nội và một số vùng lân cận với nội dung thông báo về việc “Ứng dụng VCB Digibank của khách hàng được phát hiện kích hoạt trên một thiết bị lạ” và yêu cầu khách hàng bấm vào đường link giả mạo đi kèm. Đường link này dẫn đến một trang web giả mạo giao diện đăng nhập của ứng dụng VCB Digibank để lấy thông tin dịch vụ của khách hàng nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản. Tin nhắn giả mạo này chứa các đường link bất thường như: vietcombank.vn-cbs.xyz; vietcombank.vn-cbs.pop; vietcombank.vn-ms.top…

Nói về vụ hiện tượng trên, đại diện Vietcombank khẳng định: “Vietcombank không gửi tin nhắn SMS đi kèm các đường link đăng nhập dịch vụ VCB Digibank. Các tin nhắn có đường link đăng nhập dịch vụ đều là giả mạo”.

NHTM cổ phần Hàng Hải Việt Nam (MSB) cũng khuyến cáo khách hàng về tình trạng lừa đảo tương tự và cho biết đã ghi nhận một số website giả mạo như sau: https://msb.vn-iy.life; https://msb.com.vn-ct.xyz; http://msb.com.vn-cz.top/; https://msb.com.vn-zy.xyz. “MSB khẳng định không bao giờ yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin đăng nhập, mật khẩu, OTP dưới hình thức như trên”, thông báo của MSB nêu rõ.

Đây không phải lần đầu tiên các ngân hàng khuyến cáo khách hàng các nội dung này, tuy nhiên thủ đoạn của đối tượng lừa đảo luôn thay đổi và ngày càng tinh vi, khiến nhiều người vẫn mắc bẫy.

Theo Công ty Công nghệ An ninh mạng quốc gia Việt Nam (NCS), để giả mạo SMS Brandname, các đối tượng để thiết bị lên ô tô hoặc xe máy di chuyển đến nơi đông người, sau đó phát tán tin nhắn tới các thuê bao lọt vào vùng phủ sóng của trạm thu phát sóng di động (BTS) giả. Mỗi thiết bị như vậy có thể phát tán 70.000 - 80.000 tin nhắn/ngày. Nguy hiểm ở chỗ, tin nhắn giả Brandname không khác gì tin nhắn thật, khiến điện thoại tự động xếp chung với các tin nhắn thật, người dùng rất khó phân biệt.

Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho biết, các đối tượng xấu thực hiện phát tán tin nhắn lừa đảo bằng cách sử dụng các thiết bị phát sóng giả mạo để gửi tin nhắn trực tiếp vào điện thoại mà không thông qua nhà mạng viễn thông di động. Nội dung tin nhắn thường là quảng cáo, hướng dẫn hoặc chứa đường link tới website chính thức của các ngân hàng để dẫn dụ và đánh cắp thông tin của người dùng như tài khoản, mật khẩu, mã OTP…, sau đó xâm nhập tài khoản, rút tiền của nạn nhân.

Hành vi mạo danh SMS Brandname ngân hàng đợt này tương tự cách thức lừa đảo bị phát hiện năm 2021 - 2022. Khi đó, kẻ gian dùng tên người gửi là tên của các ngân hàng nên tin nhắn bị xếp chung luồng với tin nhắn thật, khiến nhiều người bị lừa chiếm tài khoản.

Với ngành Ngân hàng, an ninh, bảo mật là nhiệm vụ quan trọng, vì liên quan đến an toàn thông tin, tài khoản cũng như quyền lợi của khách hàng và an toàn của chính ngân hàng. Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã rà soát, ban hành mới hoặc sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các TCTD trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử đảm bảo an toàn bảo mật. Đồng thời, NHNN chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình an ninh mạng trong Ngành và chỉ đạo các TCTD sẵn sàng các biện pháp để phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời các sự cố (nếu có phát sinh).

Hằng năm, NHNN tổ chức kiểm tra tuân thủ các quy định về an toàn, bảo mật tại các TCTD, tổ chức trung gian thanh toán để đánh giá, phát hiện và xử lí sớm các rủi ro, sai phạm cũng như khuyến nghị, chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, hạn chế về an ninh, bảo mật tại các TCTD. Cơ quan quản lí cũng đang rà soát, ban hành các chính sách đẩy mạnh ứng dụng chữ kí số và các giải pháp xác thực mạnh trong các loại hình dịch vụ điện tử.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Đối với giao dịch ngân hàng điện tử, NHNN đã thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình và có những văn bản cảnh báo tới các TCTD, yêu cầu các đơn vị triển khai thực hiện đầy đủ các công việc nhằm đảm bảo an toàn hệ thống website và các dịch vụ ngân hàng cung cấp trên mạng Internet, cũng như tăng cường truyền thông cho khách hàng về các rủi ro mất an toàn thông tin và hướng dẫn khách hàng thực hiện giao dịch điện tử an toàn, bảo mật.

Về phía các TCTD, để đảm bảo an toàn, bảo mật cho giao dịch ngân hàng và thông tin, tài khoản khách hàng trước nguy cơ tấn công mạng, các NHTM đã tăng cường đầu tư ứng dụng công nghệ bảo mật hiện đại trên thế giới. Cơ bản các TCTD đã trang bị các giải pháp tăng cường an toàn, an ninh mạng như: Hệ thống quản lí sự kiện an ninh; hệ thống phòng chống thư rác; hệ thống lọc nội dung web; hệ thống quản lí file nhật kí; hệ thống đánh giá điểm yếu ứng dụng và mạng; công nghệ chữ kí số PKI¹. Bên cạnh đó, nhiều TCTD đã triển khai áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an ninh, bảo mật như ISO 27001, PCI DSS. Số lượng các TCTD đạt các tiêu chuẩn này đã tăng lên hằng năm.

Để nâng cao nhận thức cho khách hàng trong việc đảm bảo an toàn, bảo mật các giao dịch trực tuyến, các TCTD đã tăng cường công tác truyền thông đến khách hàng về các thủ đoạn của tội phạm mạng và các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán thẻ.

Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ 4.0, diễn biến tội phạm công nghệ trên thế giới ngày càng tinh vi, phức tạp, vấn đề đầu tư hạ tầng kĩ thuật công nghệ và nhân sự cần chi phí lớn, việc tăng cường an ninh, bảo mật, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng gặp không ít khó khăn, thách thức.

Giải pháp tăng cường “hàng rào” bảo mật và nâng cao kĩ năng cho khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng

Đối với Chính phủ và các bộ, ngành

Để đáp ứng yêu cầu phát hiện, điều tra và xử lí tội phạm sử dụng công nghệ cao ở nước ta hiện nay, cần tăng cường xây dựng hệ thống quy định pháp luật vững chắc hơn, phát triển đội ngũ tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này; cần xác định loại và giới hạn mức độ hình phạt về tội phạm công nghệ cao trong quy định pháp luật hình sự và phi hình sự đối với người nước ngoài. Cần thiết lập những văn bản quy định cụ thể hơn về tội phạm công nghệ cao là người nước ngoài để tránh mâu thuẫn pháp luật quốc tế và hoàn thiện pháp luật quốc gia. Do đó, cần chủ động xây dựng mối quan hệ, hợp tác giữa các quốc gia trong một quy định pháp lí mang tính thống nhất. Cùng với đó, xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực ngành tư pháp ngày càng tiệm cận hơn các khu vực phát triển trên thế giới. Cần hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT), viễn thông để thích nghi với sự đổi mới của thị trường công nghệ viễn thông trên toàn cầu.

Ngoài ra, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lí trong đó có một số văn bản pháp luật cần sớm được ban hành như nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân, thông tư kết nối, chia sẻ dữ liệu dân cư với cơ sở dữ liệu chuyên ngành… để có cơ sở pháp lí đồng bộ, giúp quá trình khai thác, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) không chỉ với ngành Ngân hàng mà các ngành, lĩnh vực khác đạt hiệu quả, an toàn.

Thời gian tới, Bộ Công an và NHNN cần đẩy mạnh hoàn thiện về pháp lí để có thể đẩy mạnh việc cung cấp kết nối, khai thác CSDLQGvDC và cung cấp dịch vụ xác thực, định danh điện tử cho các TCTD trong ngành Ngân hàng. Tại Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân đã cho phép các TCTD khai thác thông tin trong CSDLQGvDC; Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử (có hiệu lực từ ngày 20/10/2022) cho phép các TCTD có thể khai thác tài khoản định danh điện tử. Bộ Công an cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể để các TCTD có thể kết nối với CSDLQGvDC và sử dụng dịch vụ xác thực, định danh điện tử phục vụ các hoạt động nghiệp vụ của TCTD.

Đối với NHNN

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ứng dụng CNTT của các TCTD đảm bảo an toàn, bảo mật.

Thứ hai, đưa vào áp dụng khung đánh giá rủi ro CNTT theo thông lệ quốc tế để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tuân thủ các quy định về an toàn, bảo mật tại các TCTD, tổ chức trung gian thanh toán.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của mạng lưới ứng cứu sự cố an ninh CNTT ngành Ngân hàng với trọng tâm như: Từng bước kiện toàn nguồn nhân lực cùng với cơ sở vật chất phục vụ diễn tập, giám sát sự kiện an ninh mạng. Bổ sung kinh phí, trang thiết bị, giải pháp công nghệ hỗ trợ cho hoạt động của mạng lưới nhằm nâng cao năng lực xử lí và ứng cứu sự cố; đào tạo chuyên sâu về an ninh thông tin trong ngành Ngân hàng theo hình thức phối hợp giữa các TCTD và NHNN triển khai các khóa đào tạo theo yêu cầu. Hằng năm, tổ chức các khóa đào tạo về an ninh mạng kết hợp với diễn tập ứng cứu sự cố. Xây dựng diễn đàn trao đổi thông tin riêng cho các thành viên mạng lưới. Định kì tổ chức các buổi hội thảo về an toàn, an ninh thông tin và ứng cứu sự cố an ninh mạng.

Thứ tư, phối hợp với các cơ quan chức năng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ và các tổ chức cung cấp dịch vụ hạ tầng CNTT... để chia sẻ thông tin và hỗ trợ hoạt động đảm bảo an toàn, an ninh mạng của ngành Ngân hàng.

Thứ năm, triển khai các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên trong ngành Ngân hàng và người dân trong việc nhận diện và phòng ngừa rủi ro của hoạt động ngân hàng trên môi trường mạng.

Về phía các NHTM

Cần chú ý đào tạo và quan tâm phát triển đội ngũ nhân sự công nghệ cao bên cạnh chuyên môn tài chính, ngân hàng. Đồng thời, để đảm bảo an toàn bảo mật cho giao dịch ngân hàng và thông tin, tài khoản khách hàng trước nguy cơ tấn công mạng, các NHTM cần: Tiếp tục tăng cường phối hợp với NHNN để thực hiện các chính sách đã ban hành về CNTT trong lĩnh vực ngân hàng; chủ động trong việc giám sát hoạt động hệ thống CNTT và xử lí các sự cố phát sinh (nếu có); tăng cường các biện pháp giám sát, theo dõi hoạt động và nhật kí của các hệ thống thông tin quan trọng, các cổng, trang thông tin điện tử, hệ thống Internet Banking để kịp thời phát hiện và xử lí sự kiện nghi ngờ là hành động tấn công (nếu có); thực hiện sao lưu và lưu trữ đầy đủ dữ liệu cũng như sẵn sàng kịch bản và phương án đảm bảo hoạt động liên tục cho các hệ thống thông tin quan trọng, các cổng, trang thông tin điện tử, hệ thống Internet Banking.

Bên cạnh đó, NHTM đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của khách hàng trong việc sử dụng ngân hàng điện tử, khuyến khích, hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ ngân hàng trực tuyến; đồng thời, tiếp nhận ý kiến trực tiếp từ khách hàng nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Về phía khách hàng

Khi sử dụng dịch vụ ngân hàng, khách hàng cần lưu ý: Các ngân hàng không yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin cá nhân qua các kênh như SMS, email, phần mềm chat… Do đó, việc xuất hiện các tin nhắn có nội dung này là điều bất thường, cần được xem xét một cách cẩn thận.

Để đảm bảo an toàn, người dùng tuyệt đối không nên bấm vào link bất thường, kiểm tra kĩ trang web trước khi tải về. Các ngân hàng đều công bố số điện thoại và địa chỉ website rõ ràng, do đó người dùng có thể dễ dàng so sánh được số điện thoại, trang web nhận được trong tin nhắn có đúng là “chính chủ” hay không. Nếu phát hiện bất thường, người dùng cần báo ngay cho các cơ quan chức năng để xử lí.

Khách hàng tuyệt đối không cung cấp thông tin về dịch vụ ngân hàng cho bất kì cá nhân, tổ chức nào, không cài đặt các ứng dụng chưa được xác thực, đặc biệt là cài đặt theo yêu cầu của người lạ. Với thiết bị vô tình cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc, việc gỡ cài đặt phần mềm hoặc cài đặt lại smartphone là vô cùng cần thiết.

Khi nhận được tin nhắn, khách hàng cần kiểm tra kĩ nội dung tin nhắn nhận được, không vội vàng trả lời hay thực hiện theo nội dung tin nhắn. Các website chính thức của các tổ chức ngân hàng thường sử dụng giao thức “https” và kết thúc bằng đuôi “.vn”.

Khi nhận được các tin nhắn, cuộc gọi có dấu hiệu lừa đảo, cần lưu lại các bằng chứng (tin nhắn hoặc ghi âm cuộc gọi), phản ánh tới doanh nghiệp viễn thông quản lí thuê bao để yêu cầu xử lí. Bên cạnh đó, cung cấp các bằng chứng đã có tới các cơ quan chức năng của Công an nơi gần nhất để xử lí vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh yếu tố tự cảnh giác, người dùng cũng nên trang bị thêm hoặc tham gia các khóa học an ninh mạng cơ bản. Khi có kiến thức an ninh mạng cơ bản, người dùng sẽ có nhiều kĩ năng để tự phòng vệ và chống được các rủi ro trên không gian mạng.

¹Public key infrastructure, viết tắt (PKI) là một cơ chế để cho một bên thứ ba (thường là nhà cung cấp chứng thực số) cung cấp và xác thực định danh các bên tham gia vào quá trình trao đổi thông tin. Cơ chế này cũng cho phép gán cho mỗi người sử dụng trong hệ thống một cặp khóa công khai và khóa cá nhân (public key/private key). Các quá trình này thường được thực hiện bởi một phần mềm đặt tại trung tâm và các phần mềm phối hợp khác tại các địa điểm của người dùng.

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.sbv.gov.vn
2. https://bocongan.gov.vn
3. https://portal.vietcombank.com.vn
4. https://www.msb.com.vn


Hà Thu Trang
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học sâu và các công nghệ an ninh tiên tiến, qua đó đánh giá hạ tầng bảo mật và đề xuất các giải pháp chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuyển đổi sang hệ sinh thái an ninh chủ động, bảo vệ hiệu quả tài sản, con người và uy tín của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Xem thêm
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng