Một số rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng - Kinh nghiệm và bài học cho giới trẻ

Nghiên cứu - Trao đổi
Ở thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), thẻ tín dụng dần trở thành một phương tiện thanh toán khá phổ biến đối với bất kì khách hàng nào bởi tính tiện dụng trong chi tiêu và thanh toán.
aa

Tóm tắt: Ở thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), thẻ tín dụng dần trở thành một phương tiện thanh toán khá phổ biến đối với bất kì khách hàng nào bởi tính tiện dụng trong chi tiêu và thanh toán. Tuy nhiên, tồn tại song song với các mặt tích cực thì thẻ tín dụng còn một số vấn đề có thể gây rủi ro cho khách hàng khi sử dụng. Qua việc tập trung phân tích những rủi ro của thẻ tín dụng, bên cạnh khái niệm, ưu, nhược điểm, nhóm nghiên cứu đưa ra kinh nghiệm và bài học cho giới trẻ về việc sử dụng thẻ tín dụng một cách khéo léo, hiệu quả.

Từ khóa: Rủi ro, thẻ tín dụng, kinh nghiệm.

SOME RISKS WHEN USING CREDIT CARDS - EXPERIENCE AND LESSONS FOR YOUNG PEOPLE

Abstract: In the era of the Fourth Industrial Revolution (Industry 4.0), credit cards are gradually becoming a popular means of payment for any customer thank to their convenience in spending and payment. However, alongside the positive aspects, credit cards also have some issues that can pose risks to customers when in use. By focusing on analyzing the risks of credit cards, in addition to the concept, advantages and disadvantages, the authors provide experience and lessons for young people on how to use credit cards wisely and effectively.

Keywords: Risks, credit card, experience.

1. Giới thiệu


Thẻ tín dụng do ngân hàng cung cấp được coi là một phân khúc đặc biệt năng động và sinh lời của ngành Ngân hàng. Tính đến tháng 3/2024, số lượng thẻ đang lưu hành đạt hơn 150,6 triệu thẻ (tăng 3,29% so với cùng kì năm 2023), với hơn 106,7 triệu thẻ nội địa, 43,9 triệu thẻ quốc tế; trong đó có 27 ngân hàng đang triển khai mở thẻ bằng eKYC với hơn 15,3 triệu thẻ mở bằng eKYC đang lưu hành hoạt động1. Điều này cho thấy nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng ngày càng tăng mạnh.

Bên cạnh đó, với tính năng “mua trước, trả sau”, thẻ tín dụng trở thành một hình thức phổ biến bởi nhu cầu mua sắm ngày càng tăng. Với ưu điểm là thanh toán giao dịch nhanh chóng, linh hoạt, đơn giản, thẻ tín dụng đã trở nên thông dụng tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, Hogarth và cộng sự (2004) đã chỉ ra rằng có nhiều người gặp vấn đề trong việc sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm vấn đề về lãi suất, phí đóng trễ hạn… Khi sử dụng thẻ tín dụng, điều kiện đi kèm là chủ thẻ sẽ hoàn trả số tiền ban đầu đã sử dụng cùng với các khoản phí phát sinh nếu có như tiền lãi, tiền phạt trả chậm… Đồng thời, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, chủ thẻ có thể sẽ đối mặt với một số rủi ro khó lường như: Gian lận trong thẻ tín dụng, nợ xấu tín dụng…

Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung phân tích một số rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đưa ra những giải pháp, bài học kinh nghiệm giúp giới trẻ nói riêng và các cá nhân nói chung nắm được các phương pháp sử dụng thẻ tín dụng một cách thông minh và hiệu quả.

2. Tổng quan về thẻ tín dụng

Theo Encyclopaedia Britannica (1998), thẻ tín dụng là thẻ nhựa nhỏ, có chứa thông tin nhận dạng cá nhân như tên chủ thẻ, mã số thẻ, chữ kí của chủ thẻ, cho phép chủ thẻ có thể thanh toán và ghi nợ phí hàng hóa, dịch vụ vào tài khoản thẻ tín dụng, sau đó chủ thẻ sẽ thanh toán một lần theo kì hạn thanh toán định kì.

Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), thẻ tín dụng là thẻ được ngân hàng cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên việc đánh giá và thẩm định lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng, mức lương hằng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền kí quỹ hay tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại ngân hàng.

Theo Raj và Portia (2011), thẻ tín dụng là một thẻ nhựa nhỏ được cấp cho người dùng để sử dụng trong thanh toán. Nó cho phép chủ thẻ mua hàng hóa và dịch vụ dựa trên lời hứa thanh toán của chủ thẻ cho những hàng hóa và dịch vụ này.

Chaudhary và cộng sự (2012) cho rằng, thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không cần có tiền mặt trong tay. Thẻ tín dụng được hiểu một cách đơn giản để cung cấp tiền một cách tự động cho người tiêu dùng.

Theo khoản 3 Điều 3 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa về thẻ tín dụng như sau: Thẻ tín dụng (hay còn gọi là credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.

Tóm lại, có thể hiểu, thẻ tín dụng là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, được phát hành bởi một tổ chức (là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), cung cấp cho khách hàng khả năng chi tiêu trước, trả tiền sau thông qua việc cấp một hạn mức tín dụng dựa trên việc đánh giá và thẩm định mức lương hằng tháng, quan hệ tín dụng của khách hàng.

Các vấn đề cần chú ý khi sử dụng thẻ tín dụng:

Hạn mức thẻ tín dụng. Theo Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn một thành viên HSBC, hạn mức của thẻ tín dụng được phê duyệt bởi ngân hàng phát hành thẻ chủ yếu dựa trên điều kiện tài chính của khách hàng tại thời điểm xét duyệt làm thẻ. Hạn mức thẻ tín dụng có tính linh hoạt tích hợp. Người vay có thể yêu cầu một số tiền nhất định nhưng không nhất thiết phải sử dụng hết. Đúng hơn, chủ thẻ có thể điều chỉnh chi tiêu từ hạn mức tín dụng theo nhu cầu của mình và chỉ nợ lãi trên số tiền rút ra chứ không phải trên toàn bộ hạn mức tín dụng. Ngoài ra, người vay có thể điều chỉnh số tiền trả nợ khi cần thiết dựa trên ngân sách hoặc dòng tiền của họ.

Sao kê thẻ tín dụng. Theo Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Hàng Hải Việt Nam (MSB), sao kê thẻ tín dụng là bản tóm tắt về cách khách hàng sử dụng thẻ tín dụng của mình trong kì thanh toán, số tiền khách hàng đã thanh toán trong kì trước, số tiền tín dụng khách hàng cần cho kì đó và thời điểm khách hàng cần thanh toán số dư chưa thanh toán cho các khoản sau phí và để tránh lãi suất. Thông thường, khách hàng sẽ nhận được bảng sao kê thẻ tín dụng hằng tháng từ ngân hàng phát hành thẻ ít nhất 15 ngày trước ngày đến hạn thanh toán. Bản sao kê tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với chủ thể sử dụng thẻ tín dụng. Bản sao kê tín dụng hỗ trợ người dùng đưa ra các kế hoạch chi tiêu hợp lí thông qua việc thống kê lại các khoản tiền đã được sử dụng trong tháng vừa qua; hỗ trợ người dùng kiểm tra và phát hiện các khoản chi bất thường trong thẻ tín dụng để nhanh chóng báo cáo, làm việc với ngân hàng.

Khoản thanh toán tối thiểu thẻ tín dụng là số tiền nhỏ nhất mà khách hàng phải trả mỗi kì cho khoản chi tiêu trước bằng thẻ tín dụng nhằm tránh bị phạt lãi hoặc nợ xấu. Khi thực hiện thanh toán tối thiểu thẻ tín dụng, các giao dịch chi tiêu chưa được thanh toán toàn bộ sẽ bị tính lãi suất từ 20 - 40% tùy chính sách của từng ngân hàng. Nhiều người hiểu lầm thanh toán tối thiểu là một lợi thế của người dùng nhưng thực tế thì lại không hẳn như vậy. Thanh toán tối thiểu dư nợ tín dụng sẽ chỉ giúp người dùng không bị đóng phạt vì trả nợ quá hạn, không bị khóa thẻ và rơi vào tình trạng nợ xấu. Trên thực tế, người dùng vẫn cần phải đóng lãi cao cho phần tiền nợ mà bản thân chưa chi trả được trước đó. Tùy theo quy định của từng ngân hàng mà số tiền thanh toán tối thiểu sẽ từ 2% - 5% tổng dư nợ trong kì (NHTMCP Kỹ thương Việt Nam - Techcombank, 2023).

Lãi suất thẻ tín dụng. Theo NHTMCP Quốc tế Việt Nam (VIB), lãi suất thẻ tín dụng là khoản tiền chủ thẻ tín dụng phải trả cho ngân hàng khi thực hiện rút tiền mặt từ thẻ tín dụng hoặc thanh toán không đúng hạn toàn bộ dư nợ tín dụng của kì sao kê trước. Lãi suất sẽ phụ thuộc vào quy định của ngân hàng áp dụng với từng sản phẩm thẻ tín dụng tại từng thời kì. Lãi suất của thẻ tín dụng có nhiều mức khác nhau tương ứng với từng trường hợp khi sử dụng thẻ tín dụng. Lãi suất thẻ tín dụng sẽ phát sinh trong một số trường hợp cụ thể như sau:

- Khách hàng không trả số tiền tối thiểu đúng hạn: Nếu khách hàng không thực hiện việc chi trả số tiền chi tiêu ở mức tối thiểu thì sẽ bị tính phí trả chậm, khoảng 4 - 6% khoản dư nợ.

- Không thanh toán toàn bộ nợ trong thời gian miễn lãi: Khách hàng sẽ bị tính lãi dựa trên tổng số tiền đã sử dụng với mức lãi suất khá cao, thường dao động khoảng trên 20%.

Ngoài ra, lãi suất thẻ tín dụng còn phát sinh khi người dùng sử dụng thẻ tín dụng để rút tiền mặt hay quy đổi ngoại tệ tại các

nước khác.

3. Những điểm lợi và một số hạn chế khi sử dụng thẻ tín dụng

3.1. Những điểm lợi khi sử dụng thẻ tín dụng


Thẻ tín dụng đóng vai trò như một công cụ thanh toán và tín dụng không thể thiếu tại Hoa Kỳ. Từ năm 2003, Hoa Kỳ đã có 18,3 tỉ giao dịch thẻ tín dụng trị giá 1,71 nghìn tỉ USD (Committee on Payment and Settlement Systems, 2005). Người tiêu dùng lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng bởi các lí do sau:

Một là, sự thuận tiện. Người tiêu dùng thấy thẻ tín dụng thuận tiện cho việc mua hàng bởi thẻ tín dụng đơn giản hóa quá trình thực hiện nhiều giao dịch mua bằng cách truy cập vào hạn mức tín dụng mà họ có thể chọn thanh toán vào cuối chu kì thanh toán hoặc thanh toán trong một khoảng thời gian dài hơn. Các doanh nghiệp cũng được hưởng lợi từ việc chấp nhận thẻ tín dụng và việc bán hàng cho những người tiêu dùng kém thanh khoản. Bằng cách tham gia vào mạng lưới thẻ tín dụng, các doanh nghiệp hoặc người bán hàng thường nhận được tiền trong vòng 48 giờ. Tại Hoa Kỳ, các tổ chức phát hành hiếm khi áp dụng phí cho mỗi giao dịch và thường miễn phí thành viên hằng năm1. Hơn nữa, tổ chức phát hành có thể cung cấp các ưu đãi như giải thưởng sử dụng thường xuyên, dịch vụ giải quyết tranh chấp, bảo hành mở rộng và đảm bảo giá thấp để thúc đẩy việc sử dụng (Chakravorti và To, 2007).

Hai là, tính bảo mật và an toàn. Thẻ tín dụng cung cấp các giao dịch tương đối an toàn cho những giao dịch không gặp mặt được, minh chứng bằng việc sử dụng quá nhiều thẻ tín dụng cho các giao dịch trực tuyến (Chakravorti và To, 2007). Việc thanh toán các giao dịch bằng thẻ thay vì sử dụng tiền mặt giúp chủ thẻ tránh được các rủi ro bị mất cắp. Trường hợp gặp các tình huống bất trắc thì người dùng có thể dễ dàng khóa thẻ bằng các thao tác đơn giản trên điện thoại di động.

Ba là, sở hữu sản phẩm đắt tiền sớm hơn. Ở một số nước, khách hàng có thể mua các mặt hàng có giá trị lớn như nhà hoặc ô tô bằng thẻ tín dụng, cho phép người tiêu dùng tận hưởng việc sử dụng sản phẩm ngay lập tức bằng cách tính điểm qua những lần giao dịch bằng thẻ tín dụng.

Bốn là, chính sách hoàn tiền. Đây là loại thẻ tín dụng được hoàn lại một phần số tiền dựa trên giá trị đơn hàng thông qua chi tiêu hằng ngày. Số tiền hoàn lại sẽ được chuyển vào thẻ tín dụng của khách hàng.

Việc sử dụng thẻ tín dụng giúp khách hàng dễ dàng quản lí chi tiêu bản thân hơn bằng sao kê hằng tháng về các khoản chi tiêu hoặc lịch sử mua sắm. Hơn nữa, tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng hiện nay đang cung cấp cho người dùng nhiều khuyến mãi như giảm giá khi mua sắm bằng thẻ tín dụng, hoàn một phần tiền khi mua sắm bằng thẻ tín dụng hay hỗ trợ mua trả góp với lãi suất 0%. Ngoài ra, chi tiêu tiền ngắn hạn được miễn lãi, khách hàng sẽ có tối đa 45 ngày miễn lãi để thanh toán cho ngân hàng mà không phải trả thêm bất kì một khoản phí nào về lãi suất nếu trả nợ đúng hạn.

3.2. Một số hạn chế khi sử dụng thẻ tín dụng


Bên cạnh những lợi ích mà thẻ tín dụng mang lại, khách hàng cũng có thể đối diện với một số hạn chế sau:

Thứ nhất, nhiều khoản phí cao. Thẻ tín dụng gồm nhiều loại phí mà chủ thẻ phải chịu gồm phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí thanh toán bằng ngoại tệ… Thông thường, chủ thẻ sẽ được miễn phí thường niên trong năm đầu, các năm tiếp theo chủ thẻ thanh toán từ 200.000 đến 2.000.000 đồng/năm tùy theo từng loại thẻ và tùy theo từng ngân hàng phát hành. Nếu sử dụng thẻ tín dụng để rút tiền mặt tại ATM thì ngoài mức phí 3 - 5% trên số tiền rút, chủ thẻ phải chịu lãi đối với khoản tiền rút này từ 20 - 40%/năm tùy từng ngân hàng. Bên cạnh đó, khi chủ thẻ sử dụng để thanh toán các giao dịch bằng ngoại tệ tại nước ngoài sẽ phải chịu thêm phí chuyển đổi ngoại tệ và phí xử lí giao dịch nội tệ tại nước ngoài.

Thứ hai, khả năng vỡ nợ cao. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế gần đây, nhiều người đang bấp bênh trong nợ nần không thể vượt qua, mất thu nhập do bị sa thải và những trở ngại tài chính khác. Người tiêu dùng trở nên áp lực quá mức khi họ gánh nhiều khoản nợ hơn mức họ thực sự có thể chi trả. Khi khách hàng sử dụng hai, ba, hoặc nhiều thẻ tín dụng và nghĩ rằng họ sẽ chỉ có một số dư nhỏ trong bộ nhớ đệm mà không thực sự tính tổng chi phí. Họ có thể thực hiện các khoản thanh toán tối thiểu nhưng tổng số nợ của họ lại tăng lên. Nếu khách hàng không thực hiện được những khoản thanh toán tối thiểu và nợ ngày càng tăng mạnh thì toàn bộ ngân sách của khách hàng có thể sụp đổ, dẫn đến trường hợp nợ xấu, giảm uy tín trong sử dụng thẻ tín dụng (Banking Systems, 2011).

Thứ ba, lãi suất cao. Khi sử dụng thẻ tín dụng, thường phát sinh những loại lãi suất sau: Lãi suất khi rút tiền mặt trực tiếp từ thẻ tín dụng tại ATM (mức lãi suất từ 20 - 40%/năm), lãi suất khi mua trả góp bằng thẻ tín dụng (từ 0 - 10%/năm), lãi suất khi chỉ thanh toán số dư nợ tối thiểu (lãi suất từ 20 - 40%/năm) và lãi suất khi không thanh toán dư nợ đầy đủ, đúng hạn (bao gồm lãi suất từ 20 - 40% và phí phạt trả chậm khoảng 5% trên tổng dư nợ).

4. Một số rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng

Bên cạnh những mặt tích cực, khi sử dụng thẻ tín dụng người tiêu dùng cũng có thể gặp phải một số rủi ro như chi tiêu quá mức so với khả năng thu nhập của mình hoặc là cơ hội cho các hành vi gian lận từ thẻ tín dụng.

4.1. Rủi ro đến từ sự thiếu hiểu biết của khách hàng khi sử dụng thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng tồn tại các khoản lãi suất cao cùng một số loại phí khác nhau. Khoản tiền được cấp trong thẻ tín dụng thực chất là một khoản vay ngân hàng đặc thù, với lãi suất cao hơn nhiều lần các khoản vay bình thường, kèm theo các điều khoản phạt trả chậm và lãi chồng lãi rất cao. Nghĩa là, khoản vay này cứ tăng lên mỗi ngày và tích lũy thành một món nợ khổng lồ với chủ thẻ nếu chủ thẻ không thanh toán nợ đúng hạn. Ngoài ra, còn có chi phí khác như phí sử dụng thường niên, phí rút tiền mặt và tỉ giá hối đoái quy đổi (nếu dùng thẻ ở nước ngoài). Tác động của việc chi tiêu quá mức đối với tài chính cá nhân có thể là thảm họa. Nếu trường hợp khẩn cấp xảy ra hoặc tình huống thay đổi, chẳng hạn như mất việc làm, một số người tiêu dùng sẽ đột nhiên gặp rắc rối thực sự. Hiệu ứng quả cầu tuyết có thể xảy ra khi áp dụng các khoản phí trễ hạn, lãi suất phạt và các khoản phí khác.

Bên cạnh đó, nếu người tiêu dùng hình thành thói quen chi tiêu vượt quá khả năng tài chính, các khoản lãi sẽ tích lũy ngày qua ngày, tháng qua tháng và trở thành món nợ khổng lồ cho chủ thẻ. Chủ thẻ tín dụng khi không thể trả được nợ cho ngân hàng sẽ đối mặt với khả năng bị kiện tụng, bị tuyên phá sản hoặc tìm đến những nguồn vay nặng lãi phi pháp để giải quyết hậu quả.

4.2. Rủi ro đến từ thanh toán điện tử

Toàn cầu hóa và việc sử dụng Internet ngày càng tăng để mua sắm trực tuyến đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các giao dịch thẻ tín dụng trên toàn thế giới. Do đó, sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng giao dịch thẻ tín dụng đã dẫn đến sự gia tăng các hoạt động lừa đảo. Gian lận thẻ tín dụng là một thuật ngữ có phạm vi rộng để chỉ hành vi trộm cắp và gian lận được thực hiện bằng cách sử dụng thẻ tín dụng làm nguồn tiền lừa đảo trong một giao dịch nhất định (Raj và Portia, 2011). Những kẻ lừa đảo thẻ tín dụng sử dụng rất nhiều kĩ thuật để thực hiện hành vi lừa đảo, đánh cắp mã pin, hoặc chi tiết thông tin thẻ tín dụng để thực hiện bất kì giao dịch mà không có sự cho phép của chủ thẻ; trong thời gian ngắn đã có thể kiếm được rất nhiều tiền mà không gặp nhiều rủi ro, thậm chí có thể phải mất vài tuần tội phạm mới bị phát hiện. Dù không phải là người thực hiện giao dịch nhưng chủ thẻ lại là người chịu thiệt trong các hoạt động gian lận thẻ tín dụng này. Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission - FTC) vào cuối năm 20233, có khoảng 426.000 trường hợp gian lận thẻ tín dụng trong năm. Con số này tuy có giảm 5% so với năm 2022 nhưng vẫn cao hơn 53% so với năm 2019 (có 278.000 trường hợp gian lận thẻ tín dụng trong năm 2019). FTC chia lừa đảo thẻ tín dụng thành hai loại gồm: Lừa đảo tài khoản mới và lừa đảo tài khoản hiện hành. Trong đó, trường hợp lừa đảo các tài khoản mới chiếm tới khoảng 90% (381.122 trường hợp vào năm 2023). Đáng chú ý, theo thống kê của FTC, việc đánh cắp danh tính có dấu hiệu tăng mạnh trong năm 2023. Khi phân loại theo độ tuổi, báo cáo của FTC cho thấy người ở độ tuổi học tập và làm việc (từ 20 đến 59 tuổi) là nhóm có nhiều trường hợp bị đánh cắp danh tính nhất. Trong đó, năm 2023, độ tuổi từ 20 - 29 có tới 203.135 trường hợp so với 71.900 trường hợp năm 2022; độ tuổi từ 30 - 39 có 333.102 trường hợp so với 122.246 trường hợp năm 2022; 239.313 trường hợp ở độ tuổi từ 40 - 49 so với 84.604 năm 2022; và tăng mạnh ở độ tuổi từ 50 - 59 là 160.963 trường hợp so với 53.438 trường hợp năm 2022.

4.3. Rủi ro về mạo nhận danh tính

Vào năm 2023, người đàn ông tên Emmanuel Yirenkyi đã nhận tội trước thẩm phán Robert B.Kugler tại Tòa án Liên bang Camden, Hoa Kỳ về tội danh lừa đảo ngân hàng và gian lận thiết bị truy cập. Theo tài liệu được cung cấp, Yirenkyi đã âm mưu với Misty Sarfo-Adu, Eugene Koranteng và những người khác để thực hiện hành vi lừa đảo ngân hàng bằng cách sử dụng séc trắng có chứa tên và thông tin tài khoản khách hàng uy tín của một công ty thẻ tín dụng. Sau đó, bọn chúng dùng séc này sử dụng cho việc thanh toán. Ở một vụ khác, Yirenkyi và Sarfo-Adu sử dụng thẻ tín dụng của một chủ tài khoản mà không có sự cho phép của chủ thẻ; điều này đã khiến công ty thẻ tín dụng thiệt hại hơn 150.000 USD. Mặc dù các tổ chức tín dụng đã đưa ra các chiến lược nghiêm ngặt như bảo mật mã PIN dành riêng cho giao dịch của khách hàng bằng số điện thoại di động đã đăng kí để khắc phục rủi ro, tuy nhiên, rủi ro của thẻ tín dụng là khó tránh khỏi. Do đó, bản thân người dùng thẻ tín dụng cần trang bị đủ thông tin về thẻ tín dụng để tối ưu hóa việc sử dụng và cả việc hạn chế những rủi ro phát sinh.

5. Bài học kinh nghiệm cho giới trẻ sử dụng thẻ tín dụng


Thẻ tín dụng là một công cụ hỗ trợ thanh toán tiện lợi, dễ dàng, đơn giản và nhanh chóng, nhưng cũng có nhiều rủi ro tiềm ẩn. Sử dụng thẻ tín dụng có nhiều lợi ích, tuy nhiên nếu không hiểu biết rõ về cách sử dụng và kiểm soát không đúng cách sẽ dẫn đến những rủi ro về tài chính. Từ những minh chứng thực tế cho thấy, những ưu điểm nổi trội của thẻ nếu không cẩn thận, khách hàng dễ lấn sâu vào nợ nần. Là giới trẻ, những người được trang bị kiến thức tài chính cần rút ra một số bài học nhằm tránh gặp phải những rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng, cụ thể:

Thứ nhất, đặt ra giới hạn cho việc sử dụng thẻ tín dụng và chi trả các khoản thanh toán đúng hạn. Bản chất của thẻ tín dụng cho phép người dùng chi tiêu cho các nhu cầu cá nhân dựa trên hạn mức được ngân hàng cấp như một khoản vay. Do đó, cần xác định rõ các chi tiêu mà bản thân sẽ sử dụng thẻ tín dụng và có kế hoạch cụ thể để thanh toán các khoản chi tiêu đầy đủ, đúng hạn hằng tháng, tránh việc phát sinh lãi suất trả chậm. Cần chú ý phải thanh toán toàn bộ số dư nợ phát sinh trong kì chứ không phải chỉ thanh toán một khoản nhất định. Chủ thể nên thanh toán trước hạn từ 1 - 2 ngày để tránh việc quá hạn thanh toán.

Thứ hai, nhận thức rõ ràng về khả năng tài chính của bản thân. Việc này là vô cùng quan trọng vì ngân hàng - nơi cấp thẻ tín dụng cho khách hàng và luôn có xu hướng khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm của họ, từ đó khách hàng sẽ hình thành một thói quen xấu trong chi tiêu hay tệ hơn là có những suy nghĩ sai lệch về khả năng tài chính của bản thân. Cụ thể hơn, để hiểu rõ về khả năng tài chính của bản thân, cần thiết lập một kế hoạch chi tiêu cụ thể (ăn uống, sinh hoạt, giải trí…) dựa trên thu nhập hằng tháng của mình. Từ đó, giới trẻ sẽ hiểu rõ về khả năng tài chính để tránh cám dỗ mà thẻ tín dụng mang lại.

Thứ ba, thường xuyên kiểm tra sao kê thẻ tín dụng để kiểm soát các khoản giao dịch phát sinh trong tháng, từ đó phát hiện những giao dịch bất thường. Đồng thời, khi không có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng thì cần liên hệ với ngân hàng để đóng tài khoản.

Thứ tư, nên cẩn trọng với gian lận thẻ tín dụng: Gian lận thẻ tín dụng là một trong những mối rủi ro thường gặp đối với những người sử dụng. Người sở hữu thẻ tín dụng cần bảo mật thật kĩ số thẻ, mã xác minh CSC/CVC. Khi thực hiện các giao dịch thanh toán, chủ thẻ cần kiểm soát thật kĩ hóa đơn trước khi kí xác nhận. Không nên cung cấp thông tin của thẻ lên mạng xã hội hay tại các sàn thương mại điện tử không rõ nguồn gốc. Liên hệ với ngân hàng yêu cầu khóa thẻ trong tình huống xấu nhất. Cần kiểm tra sao kê, quản lí chi tiêu hiệu quả, tránh trường hợp bị lừa đảo, mất tiền. Kiểm tra thời hạn thanh toán, thanh toán đúng hạn, tránh bị phạt chậm trả. Kiểm soát giao dịch, đăng kí nhận thông báo khi có phát sinh giao dịch.


1 https://thitruongtaichinhtiente.vn/tang-truong-

the-tin-dung-noi-dia-gop-phan-pho-cap-tai-chinh-toan-dien-va-han-che-tin-dung-den-59087.html

2 Identity Theft and Credit Card Fraud Statistics for 2024, The Motley Fool.
3 District of New Jersey, Camden County Man Admits Conspiring to Commit Bank Fraud and Credit Card Fraud, United States Department of Justice.


Tài liệu tham khảo:

1. Britanica Group (1998). Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc.

2. Center for Financial Training (2009). Banking Systems, Cengage Learning, Boston.

3. Chahal, H., Kaur Sahi, G., & Rani, A. (2014). Moderating role of perceived risk in credit card usage and experience link. Journal of Indian Business Research, 6(4), 286-308. https://doi.org/10.1108/JIBR-06-2014-0034

4. Chakravorti, S., & To, T. (2007). A theory of credit cards. international Journal of industrial organization, 25(3), 583-595. https://doi.org/10.1016/j.ijindorg.2006.06.005

5. Chaudhary, K., Yadav, J., & Mallick, B. (2012). A review of fraud detection techniques: Credit card. International Journal of Computer Applications, 45(1), 39-44.

6. Hogarth, J. M., Hilgert, M. A., & Kolodinsky, J. M. (2004). Consumers’ resolution of credit card problems and exit behaviors. Journal of Services Marketing, 18(1), 19-34. https://doi.org/10.1108/08876040410520681

7. IIF (2012), “Final report on market best practices: principles of conduct and best practice recommendations”, available at www.iif.com

8. Nguyễn Văn Tiến (2009). Giáo trình Ngân hàng thương mại. NXB Thống kê, Hà Nội.

9. Nilson Report, 2023. https://nilsonreport.com/research/

10. Planners, t. T. T. F. (2002). Credit card fees and traps: Twelve things that financial planners need to know. Planning strategies, 10.

11. Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

12. Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 07/12/2021 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

13. Raj, S. B. E., & Portia, A. A. (2011). Analysis on credit card fraud detection methods. 2011 International Conference on Computer, Communication and Electrical Technology (ICCCET).

14. United States Attorney (2023). Camden County Man Admits Conspiring to Commit Bank Fraud and Credit Card Fraud, available at: District of New Jersey. New York Man Admits Credit Card Fraud United States Department of Justice.

15. Jack Caporal., Lyle Daly (2024). Identity Theft and Credit Card Fraud Statistics for 2024. The Motley Fool Ascent Research.

16. Minh Đức (2024). Tăng trưởng thẻ tín dụng nội địa góp phần phổ cập tài chính toàn diện và hạn chế tín dụng đen. Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ.


TS. Đỗ Thị Hà Thương, Nguyễn Thanh Vinh, Nguyễn Minh Thư, Đinh Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Minh Trí

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Xem thêm
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành