Kinh tế vĩ mô Việt Nam 8 tháng đầu năm 2022 và một số khuyến nghị về giải pháp điều hành vượt qua khó khăn, thách thức

Nghiên cứu - Trao đổi
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, các căng thẳng địa chính trị và triển vọng tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại trên toàn cầu, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong tháng 8/2022 và 8 tháng đầu năm 2022 vẫn thể hiện rõ sự cải thiện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực.
aa

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, các căng thẳng địa chính trị và triển vọng tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại trên toàn cầu, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong tháng 8/2022 và 8 tháng đầu năm 2022 vẫn thể hiện rõ sự cải thiện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực.

1. Tổng quan kinh tế vĩ mô Việt Nam 8 tháng đầu năm 2022

1.1. Hoạt động sản xuất phục hồi tích cực ở hầu hết các ngành, lĩnh vực


Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tích cực. Trong đó, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản phát triển ổn định, sản lượng các loại thực phẩm thiết yếu như lợn, bò, gia cầm, tôm, cá... đều tăng, đảm bảo nhu cầu lương thực - thực phẩm cả nước và xuất khẩu. Riêng sản lượng khai thác giảm nhẹ (1%) do ảnh hưởng của mưa bão và giá nhiên liệu cao.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi nhanh. Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành (IIP) tháng 8 tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, IIP tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 5,5%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4% (cùng kỳ năm 2021 tăng 7%), đóng góp 8,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung, là động lực tăng trưởng chính của toàn ngành công nghiệp và nền kinh tế.

Hoạt động của doanh nghiệp cải thiện tốt hơn. Số lượng doanh nghiệp tái gia nhập và gia nhập thị trường trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2022 đều tăng cao. Cụ thể, trong tháng 8 ghi nhận 11.918 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với số vốn đăng ký là 130.198 tỷ đồng, tăng 106,9% về số doanh nghiệp, có 6.458 doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động, tăng 67,1% so với cùng kỳ năm 2021 và là mức tăng cao nhất từ trước đến nay. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022, có 101.325 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2021, với tổng số vốn đăng ký tăng 36,1% so với cùng kỳ năm 2021. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 48.126 doanh nghiệp, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm 2021.

1.2. Tổng cầu cải thiện tốt nhờ tiêu dùng tư nhân phục hồi mạnh mẽ, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tích cực, thặng dư cán cân thương mại cải thiện tốt hơn

Về tiêu dùng tư nhân: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 481,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 50,2% so với cùng kỳ năm trước, đạt quy mô và tốc độ tăng cao hơn so với cùng kỳ các năm trước khi xảy ra dịch Covid-191. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.679,2 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 3,5%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 15,1% (cùng kỳ năm 2021 giảm 5,1%), trong đó, du lịch lữ hành có sự phục hồi mạnh mẽ nhất (240,1% so với cùng kỳ).


Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2022
vẫn thể hiện rõ sự cải thiện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực

Về đầu tư: (i) FDI: Tính đến ngày 20/8/2022, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt gần 16,8 tỷ USD, trong đó, vốn đăng ký bổ sung (đạt 7,5 tỷ USD, tăng 50,7% so với cùng kỳ) và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư ngoại (đạt 2,9 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ) tiếp tục là trụ đỡ cho dòng vốn FDI. Vốn thực hiện 8 tháng năm 2022 ước đạt 12,8 tỷ USD - mức giải ngân cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. (ii) Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN): 8 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN tăng 16,9% so với cùng kỳ (tháng 8 năm 2022 tăng 51,4% so với cùng kỳ); trong đó, vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý tăng 18,1%, do địa phương quản lý tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.

Thương mại: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2022 đạt khoảng 64,34 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng 7/2022 và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 497,64 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%; nhập khẩu tăng 13,6%2. Cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng đầu năm 2022 xuất siêu khoảng 3,96 tỷ USD (7 tháng xuất siêu 1,54 tỷ USD; tháng 8/2022 xuất siêu khoảng 2,42 tỷ USD)

Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Nguồn: Tổng cục Thống kê


Chú thích: * Tháng 6/2022, a: Bình quân 2012 - 2015; b: Tốc độ tăng (đã loại trừ yếu tố giá) so với cùng kì năm trước; c: % tăng CPI bình quân năm; d: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan.

1.3. Ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được duy trì nhờ lạm phát được kiểm soát trong tầm mục tiêu; thị trường tiền tệ diễn biến ổn định, thanh khoản thông suốt, lãi suất liên ngân hàng và tỷ giá có dấu hiệu tăng phù hợp với diễn biến thị trường

Lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2022 tăng nhẹ 0,005% so với tháng trước, tăng 3,6% so với tháng 12/2021 và tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2022 tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước. Trước xu hướng giảm của giá xăng dầu thế giới, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công Thương ban hành 03 văn bản điều hành giá xăng dầu trong nước và ngừng chi Quỹ Bình ổn giá đối với mặt hàng xăng dầu, đồng thời trích lập Quỹ Bình ổn giá đối với mặt hàng xăng dầu trong kỳ điều hành ngày 11/8/2022 và 22/8/2022. Do đó, trong tháng 8/2022, giá cả mặt hàng xăng dầu đã hạ nhiệt (giá xăng giảm 14,52%; giá dầu diezen giảm 12,9%).

Lãi suất liên ngân hàng tăng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rút ròng khối lượng lớn VND ra khỏi hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu trên thị trường. Tính đến ngày 23/8/2022, lãi suất liên ngân hàng qua đêm giữa các ngân hàng đã tăng lên mức 3,77%/năm, cao hơn 1,04 điểm % so với phiên liền trước, lãi suất cho vay kỳ hạn 1 tuần; 2 tuần và 1 tháng cũng tăng lên tương ứng 3,97%/năm; 4,36%/năm và 4,33%/năm.

Lãi suất huy động bằng VND của các ngân hàng duy trì xu hướng tăng. Tháng 8/2022 tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại (NHTM), với mức tăng 0,2% - 0,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn. Mức lãi suất huy động 7% đã xuất hiện tại nhiều ngân hàng trong hệ thống. Trong những tháng cuối năm, lãi suất huy động được dự báo tiếp tục tăng trong bối cảnh thanh khoản ngân hàng đang ngày càng bị thu hẹp và nhu cầu tín dụng tăng cao.

Lãi suất cho vay ổn định. Nhìn chung, trong 8 tháng đầu năm 2022, mặt bằng lãi suất cho vay của hệ thống NHTM khá ổn định cả trong ngắn, trung và dài hạn.

Tỷ giá USD/VND trung bình NHTM và thị trường tự do tăng mạnh theo xu hướng trong toàn khu vực: Tại thời điểm ngày 25/8/2022, trên thị trường ngoại hối chính thức, tỷ giá trung tâm đang ở mức 1 USD = 23.234 VND, tăng 0,38% so với cuối năm 2021. Với biên độ +/-3%, tỷ giá trần các NHTM được phép giao dịch có thể lên 1 USD = 23.931 VND và tỷ giá sàn là 1 USD = 22.537 VND; tỷ giá trung bình của NHTM (ngày 25/8/2022) là 1 USD = 23.422 VND, tăng 2,89% so với cuối năm 2021; trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND là 1 USD = 24.060 VND, tăng 2,51% so với cuối năm 2021.

1.4. Điều hành chính sách tiền tệ - tài khóa linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng vẫn kiểm soát tốt lạm phát

Tăng trưởng tín dụng và huy động có dấu hiệu chậm lại: Trong hai tháng đầu của quý III/2022, tín dụng tăng khoảng 0,13%/tháng, thấp hơn mức tăng tín dụng bình quân nửa đầu năm 2022 (trung bình 1,6%/tháng). Tính đến ngày 15/8/2022, tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 11,45 triệu tỷ đồng, tăng 9,62%. Tăng trưởng huy động của toàn ngành Ngân hàng thấp hơn nhiều so với trước khi xảy ra đại dịch Covid-19 (năm 2019). Tính đến cuối tháng 7/2022, huy động của toàn Ngành tăng 4,2% so với cuối năm 2021. Sự mất cân đối trong tăng trưởng giữa tín dụng và tiền gửi dẫn đến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của ngành Ngân hàng đã vượt 83%, tiệm cận với mức trần cho phép của NHNN là 85%.

Trong tháng 8/2022, chính sách tài khóa tiếp tục được thực hiện theo hướng mở rộng hợp lý nhưng chặt chẽ. Ngày 08/8/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2022/NĐ-CP về điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng từ 20% xuống 10% nhằm đa dạng hóa nguồn cung, góp phần bình ổn thị trường trong nước. Sau khi được ban hành, Nghị định số 51/2022/NĐ-CP sẽ góp phần tạo cơ hội tiếp cận nguồn cung mới cho doanh nghiệp thay vì phụ thuộc vào nguồn xăng từ Hàn Quốc hay ASEAN (do hiện nay xăng dầu chủ yếu được nhập khẩu từ Hàn Quốc và ASEAN).

Về tổng thu: Lũy kế 8 tháng đầu năm 2022, thu NSNN đạt khoảng 1.208,2 nghìn tỷ đồng, bằng 85,6% dự toán, trong đó ngân sách trung ương ước đạt 84,8% dự toán; ngân sách địa phương ước đạt 86,4% dự toán. Cụ thể: Thu nội địa đạt gần 954,6 nghìn tỷ đồng, bằng 81,1% dự toán, tăng 15,9% so cùng kỳ năm 20213; thu từ dầu thô đạt gần 51,1 nghìn tỷ đồng, bằng 181,2% dự toán, tăng 98,8% so cùng kỳ năm 2021; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 197,6 nghìn tỷ đồng, bằng 99,3% dự toán, tăng 21,5% so cùng kỳ năm 2021.

Về tổng chi: Tổng chi cân đối NSNN 8 tháng đạt khoảng 956,4 nghìn tỷ đồng, bằng 53,6% dự toán, tăng 4,2% so cùng kỳ năm 2021, trong đó: chi đầu tư phát triển đạt khoảng 212,2 nghìn tỷ đồng, bằng 40,3% dự toán Quốc hội quyết định, đạt 39,15% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao4; chi trả nợ lãi đạt gần 65,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62,9% dự toán; chi thường xuyên đạt gần 677,3 nghìn tỷ đồng, bằng 60,9% dự toán.

Bên cạnh đó, trong 8 tháng đầu năm, chính sách tài khóa cũng được triển khai kịp thời, có tác động tích cực, góp phần tháo gỡ khó khăn, phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, (i) Về các chính sách miễn, giảm thuế thuộc Chương trình phục hồi, tính đến hết tháng 7/2022 đã miễn giảm khoảng 31 nghìn tỷ đồng, tương đương 48%, trong đó, giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội là 21.810 tỷ đồng, giảm lệ phí trước bạ theo Nghị định số 103/2021/NĐ-CP ngày 26/11/2021 của Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước là 6.555 tỷ đồng, giảm thuế bảo vệ môi trường theo Nghị quyết số 13/2021/UBTVQH15 ngày 31/12/2021 là 737 tỷ đồng. (ii) Về các chính sách gia hạn thuế: Ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2022 đã gia hạn các loại thuế là 43.058 tỷ đồng, tương đương khoảng 32%, trong đó, gia hạn theo Nghị định số 34/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2022 là 41.600 tỷ đồng.

Ngoài ra, do giá xăng dầu tăng đột biến, các nghị quyết về giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng, dầu, mỡ nhờn đã được ban hành và triển khai, ước thực hiện 7 tháng đầu năm theo Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 ngày 23/3/2022 khoảng 8.909 tỷ đồng nhằm kiểm soát giá cả và giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế.

1.5. Huy động vốn từ thị trường chứng khoán (TTCK) có cải thiện nhưng vẫn thấp

Về chỉ số, tính đến ngày 24/8/2022 so với tháng trước, chỉ số VN-Index đạt 1.277,16 điểm, tăng 5,87%, HNX-Index đạt 301,3 điểm, tăng 4,4%, Upcom-Index đạt 93,3 điểm, tăng 4,12% so với tháng trước. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 6.666,65 nghìn tỷ đồng, tăng 5,43% so với thời điểm cuối tháng 7; giá trị giao dịch bình quân đạt 16.775,92 tỷ đồng/phiên, tăng 22,82% so với tháng 7/2022. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng đầu năm 2022, giá trị giao dịch bình quân trên TTCK vẫn giảm 15,53% so với cùng kỳ (đạt 22.460,37 tỷ đồng/phiên). Mặc dù vậy, tín hiệu tích cực trên TTCK vẫn hiện hữu khi khối ngoại tiếp tục mua ròng trở lại trong tháng 8/2022 với giá trị là 2.149,72 tỷ đồng (tháng 7/2022 bán ròng 288,07 tỷ đồng) nâng giá trị mua ròng lũy kế từ đầu năm của khối này tăng lên mức 5.849,58 tỷ đồng

2. Triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam các tháng cuối năm 2022 và khó khăn, thách thức

Trong 8 tháng đầu năm 2022, nền kinh tế nước ta đã thể hiện xu hướng phục hồi mạnh mẽ, triển vọng trong những tháng cuối năm là tương đối tích cực xuất phát từ các yếu tố: (i) Khu vực chế biến chế tạo tiếp tục đứng vững và là động lực chính của tăng trưởng kinh tế; (ii) Khu vực dịch vụ đang có sự phục hồi tốt, trong đó nhiều ngành suy giảm bởi dịch Covid-19 cũng dần lấy lại được đà tăng trưởng tích cực; (iii) Lạm phát được kiểm soát ở trong tầm mục tiêu do nước ta có nguồn cung lương thực - thực phẩm đảm bảo tiêu dùng trong nước và công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát kịp thời, hiệu quả; (iv) Tác động tích cực từ việc triển khai các gói hỗ trợ của Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội đối với sản xuất kinh doanh sẽ thể hiện rõ hơn trong các tháng cuối năm. Ngoài ra, một số tổ chức quốc tế đã bổ sung, cập nhật dự báo mới về triển vọng tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022, dự báo tốc độ tăng trưởng trong khoảng 6,3% - 7,5% (mục tiêu khoảng 6% - 6,5%); lạm phát trong khoảng 3,5% - 3,8%.


Bảng 2. Dự báo tăng trưởng - lạm phát năm 2022 - 2023

Nguồn: Tổng hợp


Tuy nhiên, sự phục hồi kinh tế Việt Nam cũng được cảnh báo sẽ phải đối mặt với một số rủi ro, thách thức, cụ thể như:

Một số rủi ro, thách thức từ bên ngoài

Một là, lạm phát toàn cầu tăng cao gây rủi ro nhập khẩu lạm phát trong nước. Hiện nay, lạm phát tiếp tục tăng cao tại nhiều quốc gia và khu vực, trong đó có các nước là đối tác thương mại chính của Việt Nam như Hoa Kỳ (tháng 7/2022) là 8,5%, khu vực đồng Euro (tháng 8/2022) là 9,1%, Trung Quốc (tháng 7/2022) là 2,7%, Indonesia (tháng 8/2022) là 4,69%, Hàn Quốc (tháng 8/2022) là 5,7%... Lạm phát tăng cao làm giảm niềm tin tiêu dùng và đầu tư, ảnh hưởng đến nhu cầu thế giới đối với hàng hóa Việt Nam. Trong báo cáo công bố tháng 7/2022, IMF đã điều chỉnh tăng dự báo lạm phát toàn cầu năm 2022, theo đó, lạm phát toàn cầu năm 2022 sẽ tăng lên mức 8,3% (trước đó, IMF đưa ra dự báo vào tháng 4/2022 là 6,9%), trong đó, tại các nước phát triển là 6,6% và tại các nước mới nổi và đang phát triển là 9,5%. Bên cạnh lạm phát tăng, giá cả hàng hóa cũng tăng cao, đặc biệt là giá hàng năng lượng, chi phí đầu vào sản xuất... Theo IMF (7/2022), mặt bằng giá cả hàng hóa toàn cầu 7 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ tăng khoảng 48%, trong đó, giá lương thực - thực phẩm tăng 21%, nhiên liệu tăng 98%.

Hai là, rủi ro suy thoái tăng trưởng kinh tế toàn cầu cùng với việc Trung Quốc tiếp tục thực hiện chiến lược zero - Covid có thể khiến tình trạng chuỗi cung ứng bị gián đoạn kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam. Bên cạnh đó, xung đột quân sự Nga - Ukraine và các biện pháp cấm vận thương mại, đầu tư làm gia tăng bất ổn kinh tế khu vực, đẩy giá năng lượng tăng cao hơn, ảnh hưởng đến nền kinh tế có độ mở cửa cao như Việt Nam.

Ba là, rủi ro thương mại toàn cầu chậm lại ảnh hưởng đến xuất - nhập khẩu của Việt Nam. Thương mại toàn cầu đang chậm lại kể từ quý II/2022 do cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine và dịch bệnh tiếp tục bùng phát tại nhiều quốc gia (Nhật Bản, Trung Quốc...) đã tác động đến đà phục hồi của thương mại toàn cầu. Giá cả leo thang, cùng với tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng kéo dài đã khiến việc vận chuyển hàng hóa khó khăn. Dẫn đến hoạt động thương mại kém khả quan tại nhiều quốc gia và khu vực (Hoa Kỳ, EURO, Nhật Bản, Thái Lan và Philippines). UNCTAD (7/2022) nhận định, thương mại toàn cầu sẽ chậm lại trong các tháng cuối năm 2022 do: (i) Tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại bởi lãi suất tăng, lạm phát cao và tác động tiêu cực từ cuộc xung đột ở Ukraine; (ii) Giá hàng hóa quốc tế tăng, đặc biệt là giá năng lượng và giá thực phẩm tăng; chi phí vận tải tăng, gây ảnh hưởng đến khối lượng thương mại; (iii) Rủi ro trong các hoạt động của chuỗi cung ứng vẫn ở mức cao do các biện pháp giảm thiểu lây lan dịch Covid-19.

Bốn là, rủi ro dịch chuyển dòng vốn: Việc các nước đối tác kinh tế lớn của Việt Nam như Mỹ, EU từng bước thắt chặt chính sách tiền tệ có thể tạo áp lực kéo dòng vốn đầu tư ra khỏi thị trường mới nổi, đang phát triển trong đó có Việt Nam. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý đầu tư, tăng trưởng của TTCK trong thời gian tới. Bên cạnh đó, trong các tháng đầu năm 2022 đã xuất hiện tình trạng rút ròng vốn khối ngoại trên TTCK cho thấy có hiện tượng dòng tiền trên TTCK của các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút về nước khi nghe tin FED tăng lãi suất.

Một số rủi ro, thách thức trong nước

Thứ nhất, rủi ro lạm phát kỳ vọng ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế: Mặc dù lạm phát nước ta tăng chủ yếu do các yếu tố cung bên ngoài (giá năng lượng, nguyên nhiên liệu sản xuất...) nhưng việc giá cả hàng hóa tăng liên tục kéo dài có thể khiến cho kỳ vọng lạm phát tăng. Trong điều kiện tiền lương không điều chỉnh, lạm phát kỳ vọng tăng có thể làm suy giảm quá trình phục hồi do đầu tư và tiêu dùng tư nhân đều giảm.

Thứ hai, áp lực điều chỉnh tỷ giá: USD đang tăng giá mạnh trong khi tỷ giá USD/VND tương đối ổn định, đồng VND chỉ tăng giá so với nhiều đồng tiền khác như Nhân dân tệ (Trung Quốc), Baht (Thái Lan), Won (Hàn Quốc)..., làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam sang các thị trường ngoài Mỹ. Bên cạnh đó, đồng USD tăng giá cũng gây sức ép lên tỷ giá USD/VND, làm tăng gánh nặng nợ tính bằng USD của khu vực nhà nước và tư nhân, đồng thời khiến giá hàng hóa nhập khẩu tăng, gây lạm phát nhập khẩu và gia tăng chi phí hàng hóa đầu vào sản xuất, gây sức ép lên thị trường ngoại hối trong việc đảm bảo ổn định tỷ giá.

Thứ ba, rủi ro về chất lượng đầu tư: Mặc dù FDI vào Việt Nam vẫn được đánh giá tích cực so với các nước và khu vực, tuy nhiên, tổng vốn FDI đăng ký đang có dấu hiệu giảm và chưa lấy lại được quy mô của năm trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Tính đến ngày 20/8/2022, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam chỉ bằng 87,7% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó FDI đăng ký cấp mới giảm 43,9% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, quy mô bình quân dự án đầu tư cũng đang có xu hướng giảm, quy mô vốn đầu tư trung bình 01 dự án 8 tháng 2022 đạt 5,6 triệu USD/dự án thấp hơn mức bình quân 6,5 triệu USD/dự án trong giai đoạn 2016-2021. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng mở rộng sản lượng của khu vực FDI, khả năng đổi mới công nghệ của khu vực trong nước, cũng như có thể tác động đến cán cân thanh toán, khả năng dự trữ ngoại hối, tỷ giá, việc chuyển giao công nghệ hiện đại cho khu vực trong nước... trong trung và dài hạn.

Thứ tư, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm so với kế hoạch. Cụ thể: Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2022, lũy kế thanh toán từ đầu năm đến ngày 31/7/2022 là 177.827,75 tỷ đồng, đạt 29,74% kế hoạch và đạt 32,80% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (cùng kỳ năm 2021 đạt 30,61% kế hoạch và đạt 34,77% kế hoạch Thủ tướng giao); trong đó: vốn trong nước là 173.307,06 tỷ đồng (đạt 30,77% kế hoạch giao là 563.187,851 tỷ đồng), vốn nước ngoài là 4.520,69 tỷ đồng (đạt 12,99% kế hoạch giao là 34.800 tỷ đồng). Ước thanh toán từ đầu năm đến ngày 31/8/2022 là 212.227,28 tỷ đồng, đạt 35,49% kế hoạch, đạt 39,15% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao giảm so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2021 đạt 35,74% kế hoạch và đạt 40,60% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó, vốn trong nước đạt 40,87% (cùng kỳ năm 2021 đạt 44,71%), vốn nước ngoài đạt 14,02% (cùng kỳ năm 2021 đạt 7,94%).

3. Một số khuyến nghị

Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức. Đà phục hồi kinh tế thế giới có xu hướng chậm lại, chính sách zero - Covid nghiêm ngặt của Trung Quốc, xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine đã ảnh hưởng đến các chuỗi cung ứng, đẩy giá xăng dầu, lương thực và một số nguyên liệu đầu vào tăng cao… Là một nền kinh tế có độ mở lớn, nước ta sẽ bị ảnh hưởng mạnh từ những biến động bên ngoài, cùng với đó là áp lực kiểm soát lạm phát gia tăng, hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số lĩnh vực còn khó khăn. Do đó, việc triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp chính sách tài khóa, tiền tệ, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp là yếu tố then chốt, góp phần quan trọng, quyết định tới mục tiêu ổn định, duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tác giả xin có một số khuyến nghị sau:

Một là, tăng cường theo dõi và đánh giá những biến động chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư thế giới và khu vực, kịp thời nắm bắt những xu hướng, chính sách mới của các quốc gia đối tác quan trọng có thể tác động, ảnh hưởng đến Việt Nam để chủ động ứng phó kịp thời, phù hợp.

Tiếp tục chủ động xây dựng trước các kịch bản, phương án ứng phó nhằm kịp thời triển khai khi phát sinh các tình huống bất lợi, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi kinh tế, trong đó, ưu tiên tập trung kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Hai là, tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới, đặc biệt là biến động giá hàng hóa thiết yếu như giá xăng dầu, lương thực và giá hàng hóa đầu vào sản xuất để kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Kiểm soát chặt và có lộ trình phù hợp đối với việc tăng giá dịch vụ công, giá hàng hóa do Nhà nước quản lý nhằm tạo dư địa cho việc triển khai các Chương trình hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế. Điều hành linh hoạt giá cả trên cơ sở dự báo cung - cầu thị trường; phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2022, đảm bảo tốc độ tăng CPI trong ngưỡng đề ra.

Rà soát việc áp dụng các chính sách tài khóa, đặc biệt là với các chính sách sắp hết hiệu lực trong năm 2022, nghiên cứu dư địa còn lại của các chính sách thuế, phí đặc biệt liên quan đến xăng dầu. Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Tài chính chủ động nghiên cứu hoàn thiện trình các cấp có thẩm quyền xem xét các phương án giảm VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nhóm mặt hàng xăng dầu trong trường hợp giá thế giới tiếp tục tăng cao, tiếp tục phối hợp với Bộ Công Thương trong điều hành giá xăng dầu theo quy định.

Ba là, tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô thông qua phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và chính sách quản lý giá nhằm đảm bảo thực hiện tốt và hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, chú trọng: (i) Điều chỉnh chính sách lãi suất hợp lý nhằm hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh; (ii) Điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt nhằm ổn định giá trị đồng nội tệ, góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại, đầu tư và tiêu dùng; (iii) Ổn định thị trường giá cả và kiểm soát lạm phát trong ngưỡng mục tiêu để kiểm soát lạm phát kỳ vọng.

Bốn là, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công nhằm tăng cường động lực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài nhằm đề phòng khả năng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn trong bối cảnh chi phí đầu tư tăng cao khi các nền kinh tế lớn tăng lãi suất.

Năm là, tăng cường triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro tài chính như: (i) Cân đối khả năng hấp thụ của nền kinh tế, khả năng trả nợ, diễn biến thị trường ngoại hối để triển khai các gói hỗ trợ nền kinh tế nhằm tránh gây sức ép đối với tỷ giá, NSNN và tăng lạm phát; (ii) Tăng cường tính minh bạch và tính tuân thủ pháp luật trên TTCK nhằm củng cố niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, sớm đưa TTCK trở thành kênh huy động vốn chính của nền kinh tế, giảm sức ép cung ứng vốn từ khu vực ngân hàng; (iii) Đẩy nhanh triển khai các đột phá chiến lược về cơ sở hạ tầng; có kế hoạch dự phòng, dự trữ nguyên nhiên vật liệu cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, tránh để xảy ra tình trạng tăng giá vốn, tăng chi phí do giá hàng hóa tăng.

1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2018 đạt 369,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017; tháng 8/2019 đạt 416 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5%.

2 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 8 tháng đầu năm 2021 đạt 431 tỷ USD, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 213,7 tỷ USD, tăng 21,9%; nhập khẩu đạt 217,3 tỷ USD, tăng 34,4%.
3 Thu nội địa 8 tháng năm 2021 đạt 72,6% dự toán, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2020.
4 Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao 542,1 nghìn tỷ đồng, bao gồm 16 nghìn tỷ đồng vốn chương trình mục tiêu quốc gia năm 2021 được chuyển nguồn sang năm 2022 theo Nghị quyết số 34/2021/QH15 ngày 13/11/2021 của Quốc hội.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo số 7408/BTC-NSNN ngày 28/7/2022 của Bộ Tài chính về tình hình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ.
2. Báo cáo số 8284/BTC-ĐT ngày 22/8/2022 của Bộ Tài chính về tình hình thanh toán vốn đầu tư nguồn NSNN lũy kế 7 tháng, ước thực hiện 8 tháng kế hoạch năm 2022.
3. Báo cáo số 188/BC-TCTK ngày 29/8/2022 của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2022.
4. Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 09/8/2022 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2022 trực tuyến với địa phương.


ThS. Vũ Huyền Trang
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành