Hướng tới thị trường cho vay tiêu dùng an toàn, lành mạnh và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng tài chính

Nghiên cứu - Trao đổi
Trên thị trường, có nhiều kênh chính thức để khách hàng tiếp cận tín dụng như thông qua các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội, CTTC, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô...
aa

Các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó có các công ty tài chính (CTTC) đã và đang tập trung phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân, góp phần hạn chế người dân tiếp cận vốn từ những kênh không chính thức, qua đó giảm thiểu các hệ lụy và bảo đảm an ninh trật tự xã hội. Tuy nhiên, để thị trường cho vay tiêu dùng phát triển an toàn, lành mạnh, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng dịch vụ tài chính, ngành Ngân hàng cần tăng cường truyền thông, giáo dục tài chính để nâng cao kiến thức, khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tiêu dùng cho người dân, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Trên thị trường, có nhiều kênh chính thức để khách hàng tiếp cận tín dụng như thông qua các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội, CTTC, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. Tại Việt Nam, hiện có 16 CTTC được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp phép hoạt động cho vay tiêu dùng. Các CTTC hiện nay chủ yếu thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng với thủ tục cho vay đơn giản và các sản phẩm dịch vụ đa dạng (như cho vay mua, sửa chữa nhà ở, học tập, du lịch, chữa bệnh, thẻ tín dụng,...) được liên kết với các đại lý điện máy, hàng tiêu dùng... giúp người dân có nhu cầu vay tiêu dùng dễ dàng tiếp cận dịch vụ, qua đó, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, hợp lý hóa quá trình luân chuyển hàng hóa trên thị trường.

Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN, tăng trưởng dư nợ cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, cho vay tiêu dùng trong 10 năm qua luôn cao hơn tăng trưởng dư nợ cho vay chung toàn nền kinh tế. Tăng trưởng bình quân của cho vay tiêu dùng giai đoạn 2010 - 2020 đạt 33,7%, trong khi tốc độ tăng dư nợ tín dụng chung toàn nền kinh tế đạt 17,3%. Đến cuối tháng 11/2021, dư nợ cho vay phục vụ đời sống đã tăng 9,27% so với cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 là 6,76%, cuối năm 2020 tăng 10,15%), chiếm 20,24% dư nợ tín dụng chung. Kết quả tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng cho thấy, hệ thống ngân hàng đã và đang tập trung phát triển hoạt động cho vay lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân. Việc mở rộng cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng cho người dân đã góp phần hạn chế người dân tiếp cận vốn từ những kênh không chính thức, giúp giảm thiểu các hệ lụy, bảo đảm an ninh trật tự xã hội.

Tuy nhiên, thời gian qua, người dân phản ánh lãi suất cho vay tiêu dùng tại CTTC quá cao, một số công ty có hành vi đòi nợ phản cảm, gây bức xúc trong xã hội. Thậm chí, một số cá nhân, doanh nghiệp lập website, tạo ứng dụng cho vay có tên gây hiểu nhầm doanh nghiệp đó là CTTC được cấp phép hoạt động. Theo quy định, các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động ngân hàng khi được NHNN cấp phép, đảm bảo tuân thủ quy định tại Luật Các TCTD.

Vay tiêu dùng của CTTC có một số khác biệt so với tại ngân hàng thương mại

Về lãi suất, theo khoản 1 Điều 9 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định cho vay tiêu dùng của CTTC (Thông tư số 43), lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC được thực hiện theo quy định của NHNN về hoạt động cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Trong khi đó, tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư số 39) quy định: TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng… Như vậy, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể mức lãi suất trần và mức lãi suất tối đa đối với hình thức vay tiêu dùng của các CTTC.

Mặt khác, hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTC khác biệt so với hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại về đối tượng khách hàng, lãi suất, sản phẩm cho vay, kênh phân phối và quản trị rủi ro... Nhìn tổng quát, lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC tiêu dùng đang ở mức cao hơn so với mặt bằng lãi suất của các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Điều này không chỉ đúng đối với từng CTTC tiêu dùng tại Việt Nam mà cả ở trên thị trường tài chính tiêu dùng của thế giới.

Việc cho vay tiêu dùng của các CTTC khác biệt so với hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại về đối tượng khách hàng, lãi suất, sản phẩm cho vay, kênh phân phối và quản trị rủi ro...

Cụ thể, quy định tại Luật Các TCTD, CTTC không được huy động tiền gửi của cá nhân, nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vốn điều lệ, huy động trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn.

Trong khi đó, đối tượng khách hàng của CTTC là các khách hàng có thu nhập trung bình hoặc thấp, không ổn định, hiểu biết về tài chính hạn chế, có nhu cầu vay với giá trị nhỏ, thời gian ngắn, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt hàng ngày, không có tài sản bảo đảm, rủi ro cao; quy trình, thủ tục cho vay đơn giản, thời gian giải ngân nhanh. Đồng thời, việc cho vay được thực hiện thông qua mở điểm giới thiệu dịch vụ tại nơi cung ứng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng để giới thiệu các sản phẩm cho vay tiêu dùng, thu thập thông tin, nhu cầu vay vốn của khách hàng nên cần đội ngũ nhân viên, cộng tác viên lớn, điều này dẫn đến chi phí thực hiện cho vay, quản lý khoản vay cao.

Thời gian qua, NHNN đã thường xuyên ban hành các văn bản chỉ đạo, chấn chỉnh; trong đó, quy định rõ trách nhiệm của CTTC, đảm bảo công khai, minh bạch, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng. Để ổn định lãi suất thị trường, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, NHNN cũng chỉ đạo các TCTD, bao gồm cả CTTC cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo thanh khoản, ổn định lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay. Các TCTD, trong đó có CTTC đã thực hiện tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh, vừa nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng, nhưng vẫn đảm bảo an toàn hoạt động tài chính. Đồng thời, NHNN cũng khuyến nghị CTTC rà soát, xem xét giảm lãi suất các khoản vay cho mục đích tiêu dùng phù hợp với điều kiện cụ thể của CTTC, khách hàng vay, giúp khách hàng tiếp cận vốn tốt hơn, góp phần hỗ trợ khách hàng trên cơ sở hai bên cùng có lợi, hướng đến quan hệ kinh doanh bền vững.

Hiện nay, theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC có xu hướng giảm, góp phần hỗ trợ khách hàng trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến căng thẳng, qua đó cũng góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen, cho vay nặng lãi.

CTTC cần tuân thủ các quy định về cho vay tiêu dùng

Hoạt động cho vay tiêu dùng của các CTTC được điều chỉnh bởi các quy định tại Thông tư số 43, Thông tư số 18/2019/TT-NHNN ngày 04/11/2019 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43 (Thông tư số 18) và Thông tư số 39. Theo đó, trách nhiệm của CTTC đã được quy định rõ ràng, cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng.

Về quy định thu hồi nợ, giải quyết khiếu nại của khách hàng, Thông tư số 18 quy định: Biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 lần/01 ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 07 giờ đến 21giờ; không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho CTTC, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật. Quy định này để hạn chế tình trạng một số CTTC nhắc nợ, đòi nợ quá nhiều, thông tin về tình trạng khoản vay của khách hàng, đòi tiền cá nhân, tổ chức không có nghĩa vụ trả nợ, thông tin sai về nghĩa vụ nợ tại Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC), bảo mật thông tin khách hàng chưa phù hợp quy định pháp luật, gây bức xúc dư luận, tăng cường cho vay có trách nhiệm của CTTC, bảo vệ quyền lợi của khách hàng vay.

Để tăng cường trách nhiệm của CTTC, Thông tư số 18 quy định cụ thể: CTCT phải niêm yết công khai tại trụ sở, chi nhánh, điểm giới thiệu dịch vụ và đăng tải trên trang thông tin điện tử của CTTC các nội dung: Khung lãi suất cho vay tiêu dùng, các loại phí, phương pháp tính lãi; các hình thức tiếp nhận góp ý, phản ánh, khiếu nại của khách hàng, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTC. Đồng thời, CTTC phải đăng tải thông tin liên hệ của CTTC, danh sách (tên, địa chỉ) điểm giới thiệu dịch vụ, những điều cần biết về cho vay tiêu dùng, các câu hỏi thường gặp trong cho vay tiêu dùng trên trang thông tin điện tử của CTTC.

Bên cạnh đó, CTTC phải cung cấp cho khách hàng dự thảo hợp đồng cho vay tiêu dùng, giải thích chính xác, đầy đủ, trung thực các nội dung cơ bản tại hợp đồng cho vay tiêu dùng, trong đó bao gồm cả quyền và nghĩa vụ của khách hàng vay tiêu dùng, các biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ, biện pháp xử lý trong trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng cho vay tiêu dùng và có xác nhận của khách hàng về việc đã được công ty tài chính cung cấp thông tin theo quy định tại khoản này, để khách hàng xem xét, quyết định trước khi ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng. CTTC cũng phải quy định cụ thể trách nhiệm của người quản lý, phụ trách điểm giới thiệu dịch vụ trong việc báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nơi có điểm giới thiệu dịch vụ.

Cũng theo Thông tư số 18, CTTC cần thường xuyên rà soát, nâng cao chất lượng quy trình tuyển dụng, đánh giá nhân viên, hạn chế rủi ro đạo đức; tổ chức tập huấn, đào tạo nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng, chất lượng dịch vụ tư vấn khách hàng, ý thức tuân thủ pháp luật, quy định nội bộ, đạo đức nghề nghiệp cho nhân viên. Đồng thời, CTTC thực hiện giám sát, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên việc tuân thủ quy định của pháp luật, quy trình, quy định nội bộ về hoạt động cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, bộ phận, đơn vị có liên quan tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, điểm giới thiệu dịch vụ của CTTC, đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật quy trình, quy định nội bộ; phát hiện kịp thời các bất cập, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động cho vay tiêu dùng, thông báo, cảnh báo trong hệ thống CTTC để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro, các hành vi vi phạm pháp luật; xử lý hoặc phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật, quy trình, quy định nội bộ trong hoạt động cho vay tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng; công bố công khai trong nội bộ việc xử lý các vi phạm này.

Giải pháp để thị trường cho vay tiêu dùng phát triển lành mạnh

Quản lý hoạt động cho vay tiêu dùng hiệu quả thường gắn với hai mục tiêu chính, đó là bảo vệ người đi vay và thúc đẩy thị trường cho vay tiêu dùng phát triển lành mạnh, cung cấp các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mọi người dân. Tuy nhiên, để thị trường cho vay tiêu dùng tại Việt Nam theo kịp với sự phát triển của thị trường thế giới, cần phải hoàn thiện các vấn đề pháp lý cho kênh tài chính tiêu dùng, để tạo nền tảng cho hệ thống ngân hàng thương mại và các CTTC hoạt động, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh.

Thời gian tới, các cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xây dựng hệ thống quy định quản lý thống nhất, tạo lập và duy trì môi trường vĩ mô ổn định. Theo đó, NHNN cần tiếp tục phối hợp các cơ quan liên quan hoàn thiện hành lang pháp lý trong việc quản lý, giám sát các CTTC; tạo điều kiện cho các CTTC quy mô vừa và nhỏ phát triển, nhằm tăng tính cạnh tranh thông qua việc thu hút vốn từ nhà đầu tư nước ngoài, tiếp nhận nguồn vốn ưu đãi quốc tế.

Mặt khác, hiện nay, mặc dù đã có văn bản luật và Nghị định, tuy nhiên, các bộ, ngành chưa có quy định cụ thể hướng dẫn phương thức khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia của các TCTD. Thực trạng này dẫn đến các TCTD hiện nay đang xây dựng hệ thống dữ liệu riêng cho từng TCTD mà không thể tiếp cận, khai thác hệ thống dữ liệu chung của quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, việc TCTD được tiếp cận với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về công dân, doanh nghiệp, tài sản, đất đai, thuế… có giá trị to lớn trong việc đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh, an toàn, phòng ngừa rủi ro gian lận, rửa tiền, tội phạm, tiết kiệm chi phí, nguồn lực xã hội.

Do đó, các bộ, ngành liên quan (như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, NHNN) cần đẩy nhanh hoàn thiện hướng dẫn việc các TCTD được khai thác, sử dụng dữ liệu quốc gia về công dân, doanh nghiệp thông qua cổng kết nối trực tiếp với các TCTD. Đồng thời, NHNN nghiên cứu, đề xuất bổ sung quy định Luật Các TCTD về việc cung cấp, chia sẻ dữ liệu quốc gia về công dân, doanh nghiệp và các hệ thống dữ liệu quốc gia khác (đất đai, tài sản, thuế…) để góp phần minh bạch, lành mạnh hóa nền kinh tế.

Ngoài ra, cần tăng cường các chính sách, biện pháp và vai trò các tổ chức liên quan trong việc bảo vệ lợi ích của khách hàng vay tiêu dùng, trong đó có người tiêu dùng tài chính. Theo đó, việc xây dựng Luật bảo vệ người tiêu dùng tài chính và các văn bản hướng dẫn kèm theo là hết sức cần thiết. Trong đó quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính phải công khai minh bạch thông tin về sản phẩm, dịch vụ; cam kết đối xử công bằng, bình đẳng với tất cả người tiêu dùng; bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng; nhà cung cấp dịch vụ tài chính phải có cơ chế giải quyết, xử lý khiếu nại của người tiêu dùng. Đồng thời, tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ sự phát triển của tài chính vi mô, bảo hiểm vi mô, góp phần triển khai có hiệu quả chiến lược tài chính toàn diện. Các bộ, ngành có liên quan cần nghiên cứu, đề xuất việc thành lập các cơ quan chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng tài chính.

Các bộ, ngành, chính quyền địa phương tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết tài chính, nhận thức về quản lý tài chính trong cộng đồng; tăng cường các hình thức giáo dục tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính đối với người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đồng thời cảnh báo về sự gia tăng rủi ro (nợ xấu) trong điều kiện thị trường phát triển nhanh.

Để tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, tài chính, các TCTD cần tiếp tục mở rộng hoạt động dưới nhiều hình thức, thông qua nhiều kênh khác nhau, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng vay ở các phân khúc khác nhau của thị trường, góp phần hạn chế tín dụng đen. Cùng với đó, các TCTD, trong đó có các CTTC cần chú trọng phát triển các nền tảng công nghệ phục vụ cho vay tiêu dùng, giảm chi phí, tăng năng suất lao động, phối hợp phát triển các mô hình kinh doanh mới (Fintech, cho vay ngang hàng, Mobile-Money…); chú trọng quản trị rủi ro tín dụng và tiết giảm chi phí để tối ưu hóa hoạt động, cân đối phù hợp giữa rủi ro và lãi suất cho vay.

Thực tế, hiện nay có một số cá nhân, doanh nghiệp lập website, tạo ứng dụng cho vay có tên gây hiểu nhầm doanh nghiệp đó là CTTC được cấp phép hoạt động. Do đó, NHNN cần tiếp tục phối hợp các cơ quan Công an, Cảnh sát điều tra đối với các vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của những công ty này, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Để bảo vệ quyền lợi của người dân nói chung và các CTTC tiêu dùng được NHNN cấp phép nói riêng, NHNN đã có văn bản chỉ đạo các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chủ động báo cáo và đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố rà soát và yêu cầu các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức khác đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động ngân hàng khi được NHNN cấp phép, đảm bảo tuân thủ quy định tại Luật Các TCTD; đồng thời, yêu cầu không được sử dụng các cụm từ, thuật ngữ để quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ là hoạt động ngân hàng khi chưa được NHNN cấp phép.

Về phía khách hàng, khi có nhu cầu vay tiêu dùng tại các TCTD, đặc biệt tại các CTTC cần tìm hiểu kỹ thông tin về lãi suất, tính toán phương án trả nợ, tra cứu danh sách các CTTC được cấp phép thành lập và hoạt động đã được NHNN đăng tải đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử NHNN (http://sbv.gov.vn) tại mục “Hệ thống các TCTD” để có thể nắm bắt, tiếp cận được nguồn vốn tín dụng hợp pháp từ các CTTC được NHNN cấp phép thành lập và hoạt động.

Tài liệu tham khảo:

  1. Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định cho vay tiêu dùng của CTTC.
  2. Thông tư số 18/2019/TT-NHNN ngày 04/11/2019 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43.
  3. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay củaTCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
  4. Cổng Thông tin điện tử NHNN: sbv.gov.vn

Hà Trang (NHNN)



https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng