Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng: Thách thức và một số giải pháp khắc phục

Công nghệ & ngân hàng số
Hội nhập quốc tế đang dần trở thành một xu hướng tất yếu của các ngân hàng, mang đến cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội chuyển mình nhưng cũng đặt ra không ít các thách thức.
aa

Tóm tắt: Hội nhập quốc tế đang dần trở thành một xu hướng tất yếu của các ngân hàng, mang đến cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội chuyển mình nhưng cũng đặt ra không ít các thách thức. Trước tình hình đó, bài viết tập trung nghiên cứu về sự cần thiết của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó chỉ ra những thách thức, bất cập và đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của ngành Ngân hàng.


Từ khóa: Hội nhập quốc tế, ngân hàng, thách thức, giải pháp.

INTERNATIONAL INTEGRATION IN THE BANKING SECTOR: CHALLENGES AND SOME SOLUTIONS

Abstract: International integration is gradually becoming an inevitable trend of banks, it gives the banking industry many opportunities for transformation, in addition, poses many challenges. Facing that situation, the article focuses on researching the need for international integration in the banking sector, pointing out challenges and inadequacies in this issue, thereby offering appropriate solutions and recommendations to promote the process of international integration, contribute to improving the quality and efficiency of the banking industry.

Keywords: International integration, banking, challenges, solutions.

Đặt vấn đề


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì hội nhập quốc tế đang trở thành một xu thế tất yếu ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới. Hòa cùng dòng chảy hội nhập quốc tế của đất nước ta, việc thúc đẩy hội nhập ngành Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta đến gần hơn với các đối tác quốc tế, từ đó mang lại những lợi thế và đạt được nhiều kết quả tích cực. Việc hội nhập quốc tế ngành Ngân hàng là nền tảng giúp nước ta thu hút dòng vốn nước ngoài lớn vào nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng nâng cao tính thanh khoản và tiếp cận các nguồn vốn có chi phí thấp trên thế giới. Thêm vào đó, quá trình hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, học hỏi kiến thức, kĩ năng của các quốc gia tiến bộ vào công cuộc phát triển đất nước. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả những cơ hội của quá trình hội nhập quốc tế thì phải giải quyết hiệu quả một số thách thức, bất cập đang hiện hữu như: Yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ am hiểu và vận dụng hiệu quả pháp luật quốc tế; rào cản về ngôn ngữ; sự khác biệt văn hóa, pháp lí giữa các quốc gia; sự cạnh tranh của các ngân hàng trong và ngoài nước… Theo đó, các ngân hàng cần chủ động thích ứng và mạnh dạn thay đổi nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng và hiệu quả hơn, góp phần đưa ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế của Việt Nam nói chung phát triển bền vững.

1. Sự cần thiết của việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Việc hội nhập quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, trong đó không thể thiếu ngành Ngân hàng. Theo đó, ngành Ngân hàng được biết đến chính là “huyết mạch” của nền kinh tế đất nước, đóng vai trò trung gian hỗ trợ nền kinh tế huy động nguồn lực về tài chính để phát triển đất nước. Ngân hàng không trực tiếp tạo ra vật chất, của cải cho xã hội nhưng là chủ thể điều khiển dòng tiền, đảm bảo dòng tiền sử dụng đúng mục đích, thúc đẩy phát triển đất nước cũng như đảm bảo quyền lợi cho người dân.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng sẽ là một nền tảng cần thiết trong việc thu hút dòng vốn nước ngoài, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế. Theo đó, chỉ tính riêng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), trong hai quý đầu năm 2022 đã nhận được khoản vay hợp vốn quy mô 700 triệu USD kèm quyền chọn gia tăng thêm 300 triệu USD đến từ 26 ngân hàng quốc tế - khoản vay hợp vốn trung và dài hạn lớn nhất được thu xếp cho một ngân hàng thương mại tại thời điểm này ở Việt Nam. Hội nhập quốc tế đã tạo nên một nguồn vốn lớn giúp cho các ngân hàng nâng cao tính thanh khoản và dễ dàng hơn trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, tiếp thu các kinh nghiệm, kiến thức phong phú từ các tổ chức tài chính uy tín, lâu đời trên thế giới. Từ đó, giúp cho ngành Ngân hàng nâng cao được năng lực quản lí rủi ro, áp dụng những công nghệ hiện đại vào trong lĩnh vực của mình, đưa ra những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất cho người dân.

Nhiều ngân hàng đã nắm bắt từ rất sớm các cơ hội từ quá trình hội nhập quốc tế. Điển hình như Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) đã hợp tác với Opportunity Network cung ứng dịch vụ kết nối 28.000 doanh nghiệp ở hơn 120 quốc gia từ năm 2018 để tìm kiếm đối tác mua, bán hàng hóa, huy động vốn và mở rộng thị trường; hợp tác cùng Amazon từ năm 2021 cung cấp dịch vụ ngân hàng số trên điện toán đám mây; trở thành đối tác lớn và uy tín của nhiều tổ chức trong và ngoài nước trên lĩnh vực mua bán ngoại hối... Qua đó, nhờ vào sự hợp tác này đã giúp cho các giao dịch tài chính, thanh toán của khách hàng được thực hiện dễ dàng hơn, đảm bảo tính an toàn, minh bạch và nâng cao việc áp dụng công nghệ số trong lĩnh vực ngân hàng. Nhờ vậy, VietinBank đã xác lập kỉ lục 5 năm liền (từ năm 2018 đến năm 2022) nhận được giải thưởng Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam do Tạp chí uy tín thế giới Global Finance công bố. Thêm vào đó, thông qua sự hợp tác quốc tế đã giúp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành 5 loại thẻ quốc tế American Express, Visa, Mastercard, JCB, UnionPay từ năm 1990. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng thì quá trình hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thâm nhập vào thị trường quốc tế, cũng như mở rộng mạng lưới kinh doanh. Có thể kể đến, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 6 dự án đầu tư tại nước ngoài, gồm: Ngân hàng liên doanh Lào - Việt (LVB) tại Lào, Công ty Bảo hiểm Lào Việt (LVT), Văn phòng đại diện tại Đài Loan (Trung Quốc), Văn phòng đại diện tại Liên bang Nga, BIDV - Chi nhánh Yangon tại Myanmar và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Campuchia (BIDC) tại Campuchia.

Qua những số liệu trên có thể thấy được sự cần thiết và xu hướng tất yếu của ngành Ngân hàng là hội nhập quốc tế, cũng như những lợi ích và thành tựu đáng kể thông qua quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam mà ngành Ngân hàng đã đạt được. Do đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

2. Thách thức đặt ra trong hoạt động hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân hàng

Quá trình hội nhập quốc tế đã giúp cho ngành Ngân hàng có nhiều cơ hội hợp tác đối với các tổ chức, doanh nghiệp tài chính lớn trên thế giới. Qua đó, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ khách hàng, cũng như nâng cao kinh nghiệm, năng lực quản lí rủi ro, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, đáp ứng được các nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Tuy nhiên, để tận dụng được tối đa những lợi ích mà quá trình hội nhập quốc tế mang lại, đòi hỏi ngành Ngân hàng phải nỗ lực hơn nữa trong việc thay đổi toàn diện, cả bên trong lẫn bên ngoài. Sau đây là một số thách thức nổi bật của ngành Ngân hàng có thể gặp phải trong quá trình hội nhập quốc tế:

Một là, hệ thống ngân hàng chịu áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Quá trình mở cửa mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam tạo không ít điều kiện về vốn, cơ hội tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập cũng mở ra cơ hội cho các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường trong nước. Các ngân hàng này đưa ra các khuyến mại, ưu đãi cho các sản phẩm, dịch vụ, khách hàng sẽ cân nhắc các ưu điểm của từng ngân hàng mà lựa chọn sản phẩm, dịch vụ.

Hai là, càng tham gia hội nhập thì hệ thống ngân hàng càng cần có nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn, am hiểu khoa học kĩ thuật, có trình độ ngoại ngữ. Đánh giá một cách khách quan, nguồn nhân lực hiện nay vẫn chưa đồng bộ, vẫn còn những nhân viên trình độ chuyên môn chưa cao cũng như chưa có khả năng am hiểu về công nghệ kĩ thuật tiên tiến.

Ba là, quá trình hội nhập quốc tế làm gia tăng các giao dịch vốn ở phạm vi trong và ngoài nước, dẫn đến các rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Nếu luồng vốn vào ngày càng tăng mạnh có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng, tiền cung ứng tăng quá mức so với tăng trưởng GDP thực tế. Điều này gây áp lực lạm phát và biến động về tỉ giá hối đoái, cũng như tiềm ẩn rủi ro về cán cân thanh toán và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

3. Một số giải pháp

Với các thách thức như vậy, ngành Ngân hàng thời gian tới cần nhiều sự nỗ lực và quan tâm của Chính phủ, phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan. Một số giải pháp được khuyến nghị như sau:

Một là, các ngân hàng trong nước cần có những giải pháp nhằm tận dụng cơ hội mà quá trình hội nhập quốc tế mang lại để tăng sức cạnh tranh đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính ở nước ngoài. Hội nhập sẽ mang lại cho các ngân hàng trong nước rất nhiều cơ hội để phát triển, tuy nhiên để có thể tận dụng tốt các cơ hội đó, đòi hỏi các ngân hàng phải nhanh chóng, sớm tận dụng quá trình hội nhập để tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi những kĩ năng, kiến thức của các tổ chức, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới.

Hai là, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực am hiểu chuyên môn lẫn khoa học kĩ thuật, chú trọng áp dụng công nghệ số vào trong hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ cho thời đại hội nhập quốc tế. Theo đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì đòi hỏi cần phải đẩy mạnh hoạt động đào tạo, tổ chức các khóa học nâng cao, tạo cơ hội cho nhân viên có thể tiếp cận khoa học kĩ thuật, kiến thức từ bên ngoài thông qua việc tăng cường hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, đối với những ngân hàng tiên phong trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật với nguồn nhân lực chất lượng cao thì cần có những chiến lược lâu dài hơn để tuyển dụng cũng như giữ nhân tài cho chính tổ chức của mình. Ngoài ra, bên cạnh việc đào tào nguồn nhân lực nội bộ thì cũng nên có sự đầu tư và chú trọng trong việc đưa kiến thức mới và những kĩ năng thực tiễn cần thiết vào trong đào tạo và giảng dạy cho những thế hệ tương lai.

Ba là, cần nâng cao năng lực quản lí, thanh tra, giám sát chặt chẽ đối với các giao dịch vốn trong quá trình hội nhập quốc tế. Do quá trình mở cửa thị trường, xóa bỏ các hạn chế nhằm thúc đẩy hội nhập toàn cầu dẫn đến tình trạng gia tăng các giao dịch vốn ở phạm vi trong và ngoài nước, dễ dẫn tới rủi ro thanh khoản. Do đó, Nhà nước cần dự liệu được trước những kịch bản có thể xảy ra và dự phòng trước các biện pháp đối phó phù hợp nhằm đảm bảo ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Đặc biệt hơn, cần xác định rõ cơ chế mở cửa, xóa bỏ từ từ các hạn chế, đảm bảo sự kiểm soát, thanh tra, giám sát chặt chẽ các giao dịch vốn dựa trên mục tiêu kinh tế, cũng như các quy định của Nhà nước đưa ra, đảm bảo cho các ngân hàng luôn kiểm soát được các giao dịch vốn trong và ngoài nước, không rơi và tình trạng mất dần kiểm soát và gây ra biến động về tỉ giá hối đoái.

Kết luận

Xu thế chung của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng. Ngành Ngân hàng đã và đang có những nỗ lực đáng kể nhằm từng bước thực hiện công cuộc hội nhập quốc tế và đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì hệ thống ngân hàng cũng gặp không ít các khó khăn, thử thách trong quá trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải vượt qua. Chính vì thế, việc phân tích, đánh giá được sự cần thiết của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cũng như chỉ ra các khó khăn, thách thức mà hệ thống ngân hàng đang gặp phải và từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng phát triển mạnh mẽ và bền vững là điều rất quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.


Tài liệu tham khảo:

1. Hương Giang (2022), “Ngân hàng mở rộng tiến trình hội nhập quốc tế”, Thời báo Ngân hàng, https://thoibaonganhang.vn/ngan-hang-mo-rong-tien-trinh-hoi-nhap-quoc-te-132434.html, truy cập ngày 01/5/2023.

2. Lê Viết Huyến (2008), “Tăng cường hợp tác đào tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ, số 21.

3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), “Tự do hóa giao dịch vốn và sự ổn định khu vực tài chính Việt Nam”, https://sbv.gov.vn/webcenter/portal/m/menu/trangchu/ddnhnn/nctd/nctd truy cập ngày 01/5/2023.

4. Tô Huy Vũ (2019), “Hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng giúp thu hút nguồn vốn lớn chi phí thấp”, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/m/menu/trangchu/ttsk/


ThS. Trịnh Tường Khiêm (Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh)

ThS. Trần Linh Huân, Lê Phạm Anh Thơ (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Xem thêm
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng