Hoạt động thanh toán biên mậu Việt Nam - Trung Quốc, thực trạng và định hướng quản lý trong bối cảnh mới

Nghiên cứu - Trao đổi
Thương mại biên giới giữa Việt Nam và các nước có chung biên giới trong những năm gần đây đã có bước phát triển mạnh mẽ và dần trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn c...
aa

Thương mại biên giới giữa Việt Nam và các nước có chung biên giới trong những năm gần đây đã có bước phát triển mạnh mẽ và dần trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn các tỉnh biên giới; trong đó, tuyến biên giới Việt - Trung chiếm khoảng 85% tổng kim ngạch thương mại biên giới.


Với quan hệ láng giềng lâu đời, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại song phương, đặc biệt là các chính sách thúc đẩy thương mại biên giới. Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục giữ vị trí đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng trưởng mạnh, chiếm khoảng trên 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Kim ngạch thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc tăng trưởng cùng với quy mô hoạt động thương mại song phương, chiếm tỷ lệ từ 9 - 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước.

Một trong những chính sách quan trọng hỗ trợ hoạt động thương mại biên giới được triển khai thực hiện tích cực trong thời gian qua đó là hoạt động thanh toán. Đây là hoạt động không thể thiếu đối với thương mại nói chung và thương mại biên giới nói riêng; chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) luôn chủ động, tích cực trong công tác quản lý hoạt động thanh toán biên mậu nhằm mục đích phù hợp yêu cầu thực tiễn nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước.

1. Chính sách quản lý ngoại hối đối với thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc là chính sách cần thiết và hỗ trợ tích cực cho hoạt động thương mại biên giới, phù hợp với chủ trương, định hướng chỉ đạo của Chính phủ

Hoạt động thương mại biên giới giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc được Chính phủ hai nước quan tâm thúc đẩy trong nhiều năm qua, thông qua việc ký kết Hiệp định thương mại vùng biên năm 1998 và được thay thế bởi Hiệp định thương mại biên giới ký ngày 12/9/2016. Trong các hiệp định nói trên, đều có quy định về đồng tiền và phương thức thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Với yêu cầu phát triển đa dạng của hoạt động thương mại biên giới, ngày 23/01/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới, trong đó có quy định cụ thể về hoạt động thanh toán để hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới nói chung và thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói riêng.

Với vai trò là hoạt động hỗ trợ cần thiết cho thương mại biên giới, các chính sách đối với hoạt động thanh toán biên mậu Việt - Trung ra đời rất sớm, song hành cùng các quy định của Đảng, Chính phủ về thương mại biên giới. Ngay từ năm 1993, NHNN và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã ký kết Hiệp định thanh toán và hợp tác giữa ngân hàng trung ương hai nước và được sửa đổi, bổ sung năm 2003. Trên cơ sở quy định của Hiệp định thương mại biên giới, hiệp định thanh toán của hai nước, NHNN có Quyết định 689/2004/QĐ-NHNN ngày 07/6/2004 ban hành Quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ tại khu vực biên giới và khu kinh tế cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Phù hợp với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn đầu những năm 2000, các quy định tại Quyết định số 689/2004/QĐ-NHNN chỉ mới nhằm hướng dẫn thanh toán đối với các thương nhân có hoạt động thương mại qua biên giới. Ngày 23/01/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới với nhiều nội dung, trong đó có quy định cụ thể hơn các hình thức thương mại giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, không chỉ bao gồm việc mua bán, trao đổi hàng hóa của thương nhân mà còn bao gồm mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới; mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới. Tại Nghị định 14, Chính phủ giao trách nhiệm cho NHNN trong việc hướng dẫn triển khai thực hiện về thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới.

Đồng thời, sau một thời gian dài thực hiện, với sự phát triển không ngừng của hoạt động thương mại hai nước Việt - Trung cũng như sự phát triển của thương mại biên giới vùng biên, các quy định tại Quyết định 689/2004/QĐ-NHNN đã phát sinh một số vướng mắc không đáp ứng được yêu cầu trong bối cảnh mới. Vì vậy, ngày 28/8/2018, NHNN đã ban hành Thông tư số 19/2018/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Các quy định trong Thông tư số 19 đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tình hình mới, góp phần thúc đẩy thanh toán biên mậu, tạo thuận lợi cho người dân hai nước trong việc giao thương, đồng thời thực hiện tốt hơn việc quản lý nhà nước về ngoại hối, tạo sự đồng bộ với các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối hiện nay.

Là cơ chế đặc thù áp dụng cho hoạt động thương mại biên giới, do đó, quy định về hoạt động thanh toán biên mậu Việt - Trung hiện nay điều chỉnh các hoạt động thanh toán trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua biên giới của thương nhân; mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới và trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ tại chợ biên giới tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đối tượng được thực hiện bao gồm thương nhân, cư dân biên giới hai nước Việt Nam - Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đồng tiền sử dụng trong thanh toán, ngoài đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, còn được sử dụng đồng tiền của hai nước (VND, CNY). Phương thức thanh toán bao gồm ba hình thức: thanh toán qua ngân hàng; thanh toán phần chênh lệch trong giao dịch bù trừ hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu và phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Tuy nhiên, phương thức thanh toán bằng tiền mặt chỉ áp dụng cho một số trường hợp thương nhân Việt Nam có hoạt động xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở gặp khó khăn trong thanh toán qua ngân hàng.

Quy định về hoạt động ủy thác thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ giữa các ngân hàng được phép và hoạt động thanh toán bằng đồng nhân dân tệ trong hệ thông ngân hàng được phép có chi nhánh ngân hàng biên giới đã tạo điều kiện cho phép các thương nhân có hoạt động thương mại biên giới có ký kết hợp đồng thanh toán bằng đồng tiền của hai nước được thông qua mạng lưới các ngân hàng thương mại có chi nhánh ở khu vực biên giới Việt - Trung để thực hiện thanh toán bằng Việt Nam đồng, Nhân dân tệ. Với nhu cầu xuất khẩu các mặt hàng nông sản (vải, dưa hấu, nhãn…) của thương nhân Việt Nam sang Trung Quốc ngày càng gia tăng, quy định này tạo hành lang pháp lý cụ thể cho thương nhân Việt Nam, tuy nhiên, cũng kiểm soát chặt chẽ được hoạt động thanh toán bằng đồng tiền của nước có chung biên giới thông qua việc tập trung thanh toán qua hệ thống ngân hàng, hạn chế tình trạng thanh toán bất hợp pháp, nhờ đó kiểm soát nguồn gốc tiền tệ và giúp giảm tình trạng thất thu thuế.

2. Hoạt động thanh toán biên mậu Việt - Trung đã đáp ứng thực tiễn phát triển thương mại vùng biên trong thời gian qua

Trong những năm qua, hoạt động xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc ngày càng sôi động, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng liên tục cùng với quy mô hoạt động thương mại song phương giữa hai nước, chiếm tỷ lệ từ 9 - 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước. Cùng với sự tăng trưởng tích cực của hoạt động thương mại biên giới, quy mô hoạt động thanh toán biên mậu cũng có sự phát triển tích cực. Phương thức, đồng tiền thanh toán đa dạng (qua ngân hàng, bù trừ thanh toán, tiền mặt; bằng đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, Việt Nam đồng, Nhân dân tệ), phù hợp với các loại hình thương mại của vùng biên như thương nhân hai nước thì chủ yếu thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, cư dân chủ yếu là hoạt động trao đổi, mua bán nhỏ lẻ với nhau; ngoài ra, còn hoạt động kinh doanh tại các chợ biên giới. Doanh số thanh toán biên mậu Việt - Trung tăng trưởng đều qua các năm, đạt hơn 93 tỷ USD vào năm 2017, trong đó doanh số thanh toán bằng đồng tiền của hai nước đạt khoảng 10% trên tổng doanh số thanh toán biên mậu giữa hai nước.

Góp phần phát triển hoạt động thanh toán thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc không thể thiếu sự đóng góp tích cực của mạng lưới ngân hàng thương mại. Với vai trò chức năng cung ứng dịch vụ thanh toán, trong thời gian qua, mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại tại khu vực biên giới cũng gia tăng và phát triển đáp ứng sự phát triển của thương mại biên giới và nhu cầu thanh toán của các tổ chức, cá nhân. Hiện nay, có 11 ngân hàng thương mại tham gia hoạt động thanh toán biên mậu thông qua các chi nhánh tại khu vực biên giới tiếp giáp Trung Quốc. Các ngân hàng thương mại của Việt Nam đã ký kết thỏa thuận thanh toán biên mậu với khoảng 10 ngân hàng thương mại Trung Quốc như: Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp Quế Lâm, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Kiến Thiết, Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Vịnh Bắc Bộ, Ngân hàng Bưu điện, Hợp tác xã tín dụng nông thôn tỉnh Vân Nam - Trung Quốc… Các ngân hàng thương mại cũng đã tích cực đổi mới, áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại, tiên tiến, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Có thể nói, với việc áp dụng các chính sách cho hoạt động thanh toán biên mậu thời gian qua đã góp phần thúc đẩy quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các chính sách của Trung ương và địa phương nhằm phát triển thương mại biên giới không những thúc đẩy sản xuất, nâng cao đời sống của người dân vùng biên giới mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh biên giới, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ chế thanh toán biên mậu bằng đồng tiền của hai nước đã tiết kiệm một lượng ngoại tệ mạnh cho đất nước, từ đó giảm áp lực cung - cầu ngoại tệ, góp phần ổn định thị trường ngoại hối. Cơ chế thanh toán biên mậu cũng góp phần hỗ trợ công tác quản lý chống buôn lậu, hạn chế gian lận thương mại và thất thu thuế. Tạo thuận lợi hơn cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ngoại hối trên địa bàn các tỉnh biên giới; đóng góp tích cực cho sự phát triển của hoạt động thương mại biên giới.

3. Giải pháp phát huy hiệu quả chính sách quản lý ngoại hối đối với hoạt động thanh toán biên mậu Việt - Trung trong bối cảnh hiện nay

Với lợi thế đường biên giới giữa hai nước Việt - Trung khá dài, Chính phủ hai nước đã có chủ trương, định hướng phát triển kinh tế vùng biên giới từ nhiều thập niên qua. Chính phủ Việt Nam cũng xác định phát triển kinh tế biên mậu là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương các tỉnh biên giới Việt - Trung. Hoạt động thương mại biên giới được Chính phủ giao nhiều bộ, ngành liên quan quản lý theo chức năng, nhiệm vụ. Do đó, với thực trạng phát triển của thương mại biên giới cũng như hoạt động thanh toán biên mậu Việt - Trung hiện nay, cần có những giải pháp đồng bộ, hiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành cũng như sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ.

Chính vì vậy, đối với sự phát triển đồng bộ của thương mại biên giới, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành liên quan triển khai các giải pháp, cơ chế chính sách để phát triển thương mại biên giới; tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường; đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp và các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển là thế mạnh của địa phương; đồng thời, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông, quy hoạch…, đặc biệt là các địa bàn chậm phát triển như Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu.

UBND các tỉnh biên giới Việt - Trung tùy tình hình và đặc điểm, ưu thế của từng địa bàn, chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các huyện, thị trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi phát triển giao thông, lưu thông hàng hóa; nghiên cứu quy hoạch xây dựng và phát triển chợ biên giới để thu hút phát triển các dịch vụ hỗ trợ, góp phần thúc đẩy giao thương. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành chức năng để kiểm tra, đảm bảo hoạt động thương mại và tiền tệ tại khu vực biên giới tuân thủ đúng các quy định pháp luật; đấu tranh ngăn ngừa các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại; đồng thời, phối hợp với NHNN trên địa bàn thực hiện quản lý tốt thị trường ngoại hối, tiền tệ ở khu vực biên giới.

Trong hoạt động thanh toán, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn khuyến khích nghiên cứu và mở rộng các sản phẩm phục vụ thanh toán biên mậu và tài trợ thương mại cho các doanh nghiệp, từ đó gia tăng thị phần cung ứng dịch vụ thanh toán của các ngân hàng trên địa bàn; tăng cường triển khai nghiệp vụ ngân hàng điện tử phục vụ hoạt động thanh toán biên mậu để tăng tính linh hoạt cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước; đảm bảo thực hiện việc thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng nhanh gọn, an toàn, tiết kiệm chi phí.

Ngoài ra, NHNN tăng cường công tác phối hợp với các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh biên giới thực hiện quản lý, hướng dẫn hoạt động thanh toán trong thương mại biên giới theo chỉ đạo của Chính phủ. Mạng lưới ngân hàng trên địa bàn các tỉnh biên giới không ngừng được mở rộng, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phát triển đa dạng, đáp ứng linh hoạt nhu cầu các doanh nghiệp có hoạt động thương mại biên giới, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới, tạo chuyển biến tích cực về đời sống kinh tế - xã hội của các tỉnh biên giới.

Nguyễn Ngọc Cảnh

Nguồn: TCNH số 2+3/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành