Để dòng vốn ngân hàng tiếp tục hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chính sách
Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hiệu quả, kịp thời, đáp ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cùng với những giải pháp tăng khả năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế, cộng với nhu cầu vốn thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm 2024 là hoàn toàn khả thi.
aa

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hiệu quả, kịp thời, đáp ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cùng với những giải pháp tăng khả năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế, cộng với nhu cầu vốn thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm 2024 là hoàn toàn khả thi.

Trong 9 tháng đầu năm 2024, bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn và thuận lợi đan xen, tại nhiều nền kinh tế lớn, kinh tế giảm tốc trong nhiều tháng. Lạm phát toàn cầu hạ nhiệt nhanh sau thời gian thắt chặt tiền tệ kéo dài và giá dầu giảm. Do đó, một số ngân hàng trung ương (NHTW) bắt đầu hạ lãi suất và phát tín hiệu nới lỏng chính sách tiền tệ (CSTT). Ngày 18/9/2024, Fed cắt giảm lãi suất 0,5 điểm phần trăm, lần đầu tiên sau 4 năm duy trì mặt bằng lãi suất cao, Trung Quốc giảm một loạt lãi suất điều hành và công bố gói kích thích kinh tế lớn nhất kể từ sau đại dịch Covid-19.



9 tháng đầu năm 2024, NHNN đã điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hiệu quả, kịp thời hỗ trợ
các doanh gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng


Trong nước, kinh tế tiếp tục phục hồi tích cực mặc dù bị tác động lớn bởi cơn bão Yagi. GDP 9 tháng đầu năm 2024 tăng 6,82% so với cùng kỳ năm 2023, các động lực chính là từ xuất khẩu, dịch vụ và xây dựng. Lạm phát ổn định, trong đó chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2024 tăng 3,88%; lạm phát cơ bản tăng 2,69% so với cùng kỳ năm 2023.

Trong bối cảnh đó, bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN điều hành CSTT chắc chắn, chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Linh hoạt điều hành tín dụng

Trong 9 tháng đầu năm 2024, NHNN đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp điều hành linh hoạt tín dụng để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động thực hiện tăng trưởng tín dụng, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu, làm cho tăng trưởng tín dụng thấp hơn chỉ tiêu định hướng 15% hồi đầu năm; mức tăng trưởng tín dụng của các TCTD không đồng đều. Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hiệu quả, kịp thời, đáp ứng vốn cho nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã chủ động điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD, đồng thời có giải pháp triển khai chủ trương của Quốc hội, Chính phủ trong việc từng bước dỡ bỏ dần biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Theo đó, kể từ ngày 28/8/2024, TCTD có tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt từ 80% chỉ tiêu NHNN đã thông báo đầu năm 2024 sẽ được chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ tín dụng. Việc điều chỉnh, bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho TCTD nêu trên được NHNN chủ động triển khai.

Bên cạnh đó, NHNN cũng hoàn thiện khung khổ pháp lý hướng dẫn Luật Các TCTD năm 2024 tạo thuận lợi cho hoạt động của các TCTD, cũng như nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của người dân, doanh nghiệp; cho phép kéo dài thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ thêm 6 tháng (đến hết ngày 31/12/2024) theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2024 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024 và các văn bản chỉ đạo, công điện, chỉ thị, trong 9 tháng đầu năm 2024, NHNN đã kịp thời ban hành 8 văn bản chỉ đạo toàn hệ thống về công tác tín dụng; làm việc trực tiếp với 4 ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm khoảng 45% tín dụng toàn hệ thống) để chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có các giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ lực trong cung ứng vốn tín dụng; đồng thời đã tổ chức 2 hội nghị về đẩy mạnh tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục quyết liệt triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với các ngành, lĩnh vực theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp trên đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế.

Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN), đến ngày 30/9/2024, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 14,8 triệu tỉ đồng, tăng 9% so với cuối năm 2023, tăng 16,01% so với cùng kỳ năm 2023 (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,92% so với cuối năm 2022). Tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên. Cụ thể, đến cuối tháng 8/2024, theo các ngành kinh tế, dư nợ ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 6,81%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 25,56%, ngành thương mại dịch vụ chiếm 67,63%. Đối với lĩnh vực ưu tiên như: Tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 4,64%; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 2,72%; tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 25,74%; tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 18,06%...

Ngoài các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, ngành Ngân hàng còn tích cực triển khai các giải pháp góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại bởi cơn bão số 3 (Yagi). NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo TCTD triển khai những biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vay, hạ lãi suất; tiếp tục cho vay mới khôi phục sản xuất, kinh doanh sau bão số 3 theo các chương trình, các gói tín dụng mới với lãi suất phù hợp; thực hiện xử lý nợ đối với khách hàng bị thiệt hại về vốn vay theo quy định hiện hành và giao NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, đôn đốc, giám sát việc thực hiện cam kết (cho vay mới, hạ lãi suất...) của các chi nhánh TCTD trên địa bàn; tổ chức Hội nghị trực tuyến với Ủy ban nhân dân 26 tỉnh, thành phố để triển khai các giải pháp của ngành Ngân hàng hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, giúp người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống. Đến cuối tháng 9/2024, đã có 35/40 ngân hàng gửi thông báo về NHNN và công bố hỗ trợ cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 là 405.000 tỉ đồng cho vay mới và hạ lãi suất, trong đó dành khoảng 300.000 tỉ đồng cho vay mới khôi phục sản xuất, kinh doanh. Mức giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu từ 0,5% - 2%/năm, mức lãi suất cho vay đối với các khoản giải ngân mới ngắn hạn từ 5% - 6,7%, trung dài hạn từ 5,5% - 8%/năm.

Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 143/NQ-CP ngày 17/9/2024 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khẩn trương khắc phục hậu quả bão số 3, nhanh chóng ổn định tình hình Nhân dân, khôi phục sản xuất, kinh doanh, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát tốt lạm phát, hiện nay NHNN đang xây dựng dự thảo để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn, thiệt hại do ảnh hưởng của cơn bão số 3. Đồng thời, NHNN đã xây dựng và gửi xin ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân đối với Thông tư hướng dẫn các TCTD thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ do ảnh hưởng của cơn bão số 3.​

Nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong bối cảnh Mỹ và nhiều NHTW lớn tuy đã giảm lãi suất nhưng lãi suất thế giới vẫn neo cao. Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo TCTD tiết giảm chi phí hoạt động để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, yêu cầu TCTD thực hiện báo cáo và công bố công khai mức lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân trên trang thông tin điện tử của TCTD.

Theo Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), đến cuối tháng 9/2024, lãi suất cho vay bình quân các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,64%/năm, giảm 0,45%/năm so với cuối năm 2023. Như vậy, lãi suất cho vay tiếp tục kéo dài xu hướng giảm từ năm 2023 đến nay theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tín dụng cho nền kinh tế

Những tháng cuối năm 2024, nền kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ các yếu tố bất lợi bên ngoài. Kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, thiếu vững chắc, giá vàng, xăng dầu, hàng hóa cơ bản, cước vận tải quốc tế biến động mạnh... Bên cạnh đó là những khó khăn nội tại của nền kinh tế, đặc biệt là ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, cũng có những thời cơ, thuận lợi, nhất là xu hướng phục hồi tích cực của nền kinh tế, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước; 9 tháng năm 2024 tốt hơn cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Đó cũng là xu hướng của tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2024. Thông thường cuối năm, tín dụng thường tăng trưởng mạnh. Cùng với các giải pháp của ngành Ngân hàng, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% là khả thi.

Trong bối cảnh đó, NHNN tiếp tục xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm điều hành tín dụng các tháng cuối năm 2024 như sau:

Thứ nhất, thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Thứ hai, tiếp tục chỉ đạo các TCTD: (i) Tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tiếp tục kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; (iii) Rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ vay vốn, tài sản bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; (iv) Triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN và Thông tư số 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2023/TT-NHNN; (v) Triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi cơn bão Yagi.

Thứ ba, tiếp tục theo dõi, đôn đốc các TCTD triển khai quyết liệt các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó có: Chương trình cho vay phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững (quy mô từ 120.000 tỉ đồng lên 145.000 tỉ đồng); chương trình cho vay lĩnh vực lâm sản, thủy sản (quy mô từ 15.000 tỉ đồng lên 60.000 tỉ đồng); chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phối hợp với các bộ, ngành kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.

Thứ tư, đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp thông qua tổ chức các Hội nghị kết nối doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp bằng hình thức phù hợp theo vùng và tại các tỉnh, thành phố. Đồng thời, chỉ đạo các ngân hàng thương mại chủ động tổ chức Hội nghị khách hàng để tháo gỡ, chia sẻ khó khăn với khách hàng.

Thứ năm, tiếp tục triển khai các kế hoạch, chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Đề án những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu; các nghị quyết của Đảng, Chính phủ về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế trong cả nước.

Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi để Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ được giao của ngành Ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Thứ bảy, tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động tín dụng, ngân hàng phù hợp với quy định của Luật Các TCTD năm 2024 và các luật mới được ban hành; khẩn trương xây dựng Thông tư quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn, thiệt hại do ảnh hưởng của cơn bão số 3.

Thứ tám, về lãi suất, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT; khuyến khích các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục cho vay, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cho vay, tiếp tục phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

Những tháng cuối năm, để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp, thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, bên cạnh các giải pháp của ngành Ngân hàng, cũng cần có sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành. Theo đó cần những giải pháp như: Miễn, giảm phí, thuế cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3; các chính sách về kích cầu đầu tư, tiêu dùng, thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu; khai thác thị trường nội địa; cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính; ổn định, khơi thông dòng vốn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp; xử lý các vấn đề tồn tại của thị trường bất động sản, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Về phía các doanh nghiệp, cần nâng cao năng lực, khả năng hấp thụ vốn thông qua các biện pháp tái cấu trúc hoạt động, nâng cao năng lực quản trị điều hành, xây dựng các phương án, dự án sản xuất, kinh doanh khả thi, minh bạch tình hình tài chính… để TCTD có cơ sở thẩm định, quyết định cho vay và tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các kênh huy động khác (như phát hành cổ phiếu, trái phiếu…).


Tài liệu tham khảo:

1. Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn.
2. Nghị quyết số 143/NQ-CP ngày 17/9/2024 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khẩn trương khắc phục hậu quả bão số 3 (Yagi), nhanh chóng ổn định tình hình Nhân dân, đẩy mạnh khôi phục sản xuất, kinh doanh, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát tốt lạm phát.
3. https://www.sbv.gov.vn



Trang Hạ (NHNN)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Xem thêm
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam