Đánh giá năng lực số của thanh thiếu niên Việt Nam

Công nghệ & ngân hàng số
Nhóm nghiên cứu lập ra các câu hỏi đánh giá năng lực số cho thanh thiếu niên Việt Nam; một công cụ đánh giá với công cụ website digicom14.com để thanh thiếu niên biết mình ở đâu trong đại dương số này...
aa

Tóm tắt: Nhóm nghiên cứu lập ra các câu hỏi đánh giá năng lực số cho thanh thiếu niên Việt Nam; một công cụ đánh giá với công cụ website digicom14.com để thanh thiếu niên biết mình ở đâu trong đại dương số này, đồng thời, là công cụ cho giáo viên, các nhà quản lý định hướng, điều chỉnh và hỗ trợ học sinh trong quá trình sử dụng công cụ số. Qua khảo sát thực tế trên 1.500 các bạn thanh thiếu niên từ độ tuổi 13 - 19 trong thời gian từ ngày 02/10/2024 đến ngày 02/11/2024 bằng công cụ website tại Hà Nội và một số tỉnh thành trên toàn quốc, nhóm nghiên cứu đã có được những dữ liệu khái quát về hiện trạng sử dụng năng lực số tại một số trường/lớp và có thể trích xuất ra để các thầy cô, các nhà quản lý tham khảo.

Từ khóa: Năng lực số, các thành phần năng lực số của học sinh, thanh thiếu niên, Việt Nam.

ASSESSING THE DIGITAL COMPETENCE OF VIETNAMESE ADOLESCENTS


Abstract: The research team developed a set of digital competency assessment questions for Vietnamese adolescents, integrated into the website tool digicom14.com. This tool not only helps adolescents understand their position in the digital landscape but also serves as a resource for teachers and administrators to guide, adjust, support students in their use of digital tools.

Through a survey conducted on 1.500 adolescents aged 13 to 19 from October 2, 2024 to November 2, 2024, using the website-based tool in Hanoi and several provinces across Vietnam, the research team collected comprehensive data on the current situation of digital competency usage in some schools and classes. The data can also be extracted to serve as a reference for educators and policymakers.

Keywords: Digital competency, components of student digital competency, adolescents, Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Theo xu hướng hiện nay, trẻ em từ bảy tuổi trở lên khi biết đọc, biết viết đã có thể sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) để chơi một số trò chơi đơn giản và giao tiếp với các thành viên trong gia đình, bạn bè qua các ứng dụng trực tuyến như: Email, zalo, viber, tiktok, facebook… và càng phổ biến với các học sinh trong độ tuổi thanh thiếu niên từ 13 - 19 tuổi. Tuy gia đình và nhà trường đã có một số hạn chế cho các em sử dụng điện thoại thông minh nhưng cũng không thể cấm học sinh do đây là một công cụ hữu ích để giao tiếp và sử dụng trong đời sống thường ngày và học tập của các em.

Việc sử dụng máy tính truy cập internet, điện thoại thông minh là một nhu cầu chính đáng của thanh thiếu niên. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa: “Năng lực số là khả năng truy cập, quản trị, thấu hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho thị trường lao động phổ thông, các công việc cao cấp và khởi nghiệp kinh doanh”. Nó bao gồm các năng lực thường được biết đến như năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin, năng lực thông tin hay năng lực truyền thông. Năng lực số được thừa nhận rộng rãi, bao gồm kiến thức và kỹ năng, thái độ.

Tuy nhiên, hiện nay, chưa có một công cụ nào tại Việt Nam đánh giá năng lực số cho đối tượng là thanh thiếu niên - độ tuổi tò mò và thay đổi lớn nhất cũng như là công cụ cho giáo viên, người quản lý nắm bắt được xu thế theo từng trường/lớp/độ tuổi/giới tính/ khu vực địa lý để điều chỉnh và theo dõi, định hướng cho học sinh. Việc lập một công cụ như website/phần mềm để đánh giá năng lực số và phân tích dữ liệu sử dụng năng lực số của thanh thiếu niên là hết sức cần thiết và cấp bách.

2. Tổng quan nghiên cứu

Đo lường năng lực số của thanh thiếu niên Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu hiện nay. Đây là bước chuẩn bị thiết yếu cho tương lai, khi kỹ năng số không chỉ cần thiết trong công việc mà còn trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đánh giá này giúp xác định mức độ sẵn sàng của thanh thiếu niên trước những cơ hội và thách thức của nền kinh tế số hóa. Không chỉ vậy, kết quả từ việc đo lường còn cung cấp dữ liệu để cải thiện cách thức giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Đồng thời, năng lực số không chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ mà còn là khả năng tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề trong môi trường làm việc khắc nghiệt, đặc biệt trong thời điểm thế giới đang “khát” nhân lực tài năng hơn bao giờ hết. Hơn nữa, đo lường năng lực số giúp xác định sự hiểu biết của những người trẻ khác nhau, từ đó sắp xếp công việc phù hợp với năng suất và độ hiệu quả cao nhất. Những việc này sẽ đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi số và nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế của Việt Nam.

Trên thế giới đã có một số nền tảng Web giúp đo lường và đánh giá năng lực số bao gồm:

1. DigCompSat


Công cụ đánh giá năng lực số dựa trên khung DigComp (Digital Competence Framework) của Liên minh châu Âu. DigCompSAT giúp người dùng tự đánh giá kỹ năng số của mình theo các tiêu chí như khả năng tìm kiếm thông tin, giao tiếp, giải quyết vấn đề và bảo mật dữ liệu.

2. ICDL - International Computer Driving License

Chứng chỉ ICDL cung cấp các bài kiểm tra năng lực số tiêu chuẩn quốc tế, đo lường khả năng sử dụng các công cụ và phần mềm công nghệ cơ bản đến nâng cao.

3. Northstar Digital Literacy Assessment

4. Digital Competence Wheel


Công cụ trực tuyến này dựa trên khung năng lực số của châu Âu, giúp người dùng tự đánh giá kỹ năng số của mình và nhận phản hồi chi tiết về các lĩnh vực cần cải thiện.

Tại Việt Nam, ngày 02/5/2024, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã ban hành khung năng lực số dành cho sinh viên với bảy tiêu chí đánh giá, đồng thời các trường đại học khác cũng đang triển khai. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang dự thảo đề xuất khung năng lực số cho người học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, đến tháng 11/2024, khung năng lực số cho người học trong hệ thống giáo dục quốc dân chưa được ban hành.

Việc có một công cụ website để thanh thiếu niên tự đánh giá mình ở đâu trong đại dương số, biết mình có những gì, cần những gì và cung cấp cơ sở dữ liệu để các thầy cô giáo, các tổ chức liên quan điều chỉnh chính sách giáo dục và đào tạo, cải thiện nguồn nhân lực trẻ của đất nước, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội ngay tại thời điểm này là hết sức cần thiết.

3. Phương pháp nghiên cứu

Đề xuất 20 câu hỏi dành cho thanh thiếu niên Việt Nam dựa trên khung năng lực số châu Âu trên 4 mức độ: Cơ bản, trung cấp, nâng cao, chuyên sâu, đồng thời cũng chỉ ra khả năng áp dụng các năng lực này cho 5 phạm vi và các năng lực được thể hiện như sau:

Phạm vi 1 - Thông tin (Information): Để xác định, định vị, truy xuất, lưu trữ, tổ chức và phân tích thông tin số, đánh giá mức độ phù hợp và mục đích của thông tin.

Phạm vi 2 - Giao tiếp (Communication): Mỗi cá nhân có thể giao tiếp trong môi trường số, chia sẻ các nguồn lực thông tin thông qua các công cụ trực tuyến, liên kết với người khác, cộng tác thông qua các công cụ kỹ thuật số, tương tác và tham gia vào các cộng đồng, mạng lưới, nhận thức sự giao thoa văn hóa.

Phạm vi 3 - Tạo lập nội dung (Content cre­ation): Tạo lập và chỉnh sửa nội dung mới (từ xử lý văn bản đến hình ảnh và video); tích hợp và chỉnh sửa lại kiến thức và nội dung trước đó; tạo ra những cách diễn đạt, sản phẩm truyền thông và lập trình có tính sáng tạo; giải quyết, áp dụng các quyền và giấy phép sở hữu trí tuệ trong môi trường số.

Phạm vi 4 - An toàn (Safety): Bảo vệ cá nhân người sử dụng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ danh tính số, các biện pháp bảo mật, sử dụng an toàn và bền vững.

Phạm vi 5 - Giải quyết vấn đề (Problem solv­ing): Xác định nhu cầu và tài nguyên số, đưa ra quyết định sáng suốt về việc lựa chọn các công cụ kỹ thuật số phù hợp với mục đích hoặc nhu cầu.

Các câu hỏi có ngôn ngữ gần gũi, trực quan với các bạn thanh thiếu niên Việt Nam, có thể thay đổi tùy chỉnh nhưng vẫn giữ nguyên được các nội dung trong phạm vi đánh giá năng lực số.


Nghiên cứu lập website digicom14.com và lập các cơ sở dữ liệu phân tích kết quả đánh giá.

Cơ sở dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ và quản lý dữ liệu đánh giá từ người dùng. Thông qua các hệ thống quản lý dữ liệu, thông tin từ hàng nghìn hoặc hàng triệu người dùng có thể được tổ chức, phân tích và đánh giá một cách toàn diện. Các dữ liệu này bao gồm thông tin về hành vi kỹ thuật số, kết quả kiểm tra và quá trình học tập. Cơ sở dữ liệu không chỉ hỗ trợ việc lưu trữ dữ liệu, mà còn cung cấp nền tảng cho các công cụ phân tích, từ đó đưa ra các báo cáo, biểu đồ và kết luận chi tiết. Điều này giúp cải thiện quá trình đánh giá và phát triển các chiến lược đào tạo dài hạn.

Lập trình web là công cụ để đánh giá Năng lực số cho thanh thiếu niên Việt Nam theo 5 khía cạnh năng lực số để chấm điểm:

1. Kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin và thiết bị số: Hiểu biết và khả năng sử dụng công nghệ số, phần mềm, ứng dụng, cũng như quản lý thiết bị.

2. Kỹ năng sử dụng công cụ số: Khả năng sử dụng các công cụ, phần mềm và ứng dụng phục vụ cho học tập, làm việc và giao tiếp trực tuyến.

3. An toàn và bảo mật thông tin số: Hiểu biết về quyền riêng tư, an toàn mạng, bảo mật thông tin và cách bảo vệ bản thân trên không gian số.

4. Tư duy phản biện và kỹ năng xử lý thông tin số: Khả năng phân biệt thông tin chính xác, giải quyết vấn đề kỹ thuật số và tìm kiếm thông tin hiệu quả.

5. Sáng tạo và giao tiếp trên môi trường số: Khả năng sáng tạo nội dung và giao tiếp, tương tác với người khác trong môi trường số.

4. Kết quả nghiên cứu

Digicom14.com đã hoàn thành nhằm mục đích ứng dụng trực tuyến đầu tiên tại Việt Nam hỗ trợ tự đánh giá năng lực số cho cho thanh thiếu niên Việt Nam với 20 câu hỏi tham khảo từ các khung năng lực số quốc tế, có thể tùy chỉnh tùy theo tình hình thực tế, có thể truy cập nhanh từ mã QR:

Các câu hỏi trực quan, ngôn ngữ gần gũi; thuật toán thực tế giúp phân loại năng lực cho học sinh và thanh thiếu niên; tạo gợi ý riêng dựa trên kết quả đánh giá cá nhân. Đồng thời, có thể tự đánh giá kết quả cá nhân đóng góp vào một bộ dữ liệu có quy mô khá lớn, ví dụ một bảng đánh giá cá nhân như sau: Năng lực số của bạn: 54 điểm; năng lực số trung bình: 44,45 điểm; năng lực số tối đa: 60 điểm.


Digicom14.com thu thập dữ liệu nhanh theo cấu trúc mong muốn, có thể tùy chỉnh theo yêu cầu; dữ liệu được xử lý và xuất theo mẫu báo cáo tự động, có thể phục vụ tốt cho các nghiên cứu định hướng đào tạo hoặc chính sách.


Digicom14.com trích xuất được dữ liệu theo biểu đồ, ví dụ trích xuất dữ liệu 153 người dùng với các kết quả cụ thể: Năng lực số trung bình 46,15/ 60 điểm.


Và có thể trích xuất dữ liệu qua bảng biểu từng trường để giáo viên và nhà quản lý theo dõi.


5. Đề xuất một số giải pháp về đào tạo nhân lực số tại các cơ sở giáo dục

Trên thế giới và Việt Nam đã có một số nghiên cứu về năng lực số, tuy có thể cách tiếp cận khác nhau nhưng với tuổi thanh thiếu niên Việt Nam thì chưa có một công cụ nào đánh giá khảo sát đơn giản dễ hiểu, dễ dùng. Digicom14.com là trang web ứng dụng trực tuyến đầu tiên tại Việt Nam được nhóm tác giả lập ra với mục đích hỗ trợ tự đánh giá năng lực số cho cho thanh thiếu niên Việt Nam.

Việc sử dụng trang web là một công cụ hỗ trợ cho các nhà giáo dục, nhà quản lý để định hướng chính sách và hỗ trợ học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, trong tương lai sẽ cần phải nâng cấp và chỉnh sửa tiếp cho phù hợp với tình hình thực tế.

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực tương lai tại các cơ sở giáo dục đào tạo thuộc lĩnh vực tài chính - ngân hàng như sau:

Một là, đổi mới chương trình đào tạo: Phát triển các chương trình đào tạo mới, thường xuyên cập nhật kiến thức thực tế cho các học phần, chương trình đào tạo đã có, đặc biệt là đào tạo kỹ năng số. Bên cạnh đó, do sự chi phối của kinh tế số, ứng dụng số, rất nhiều vị trí việc làm của ngành tài chính - ngân hàng yêu cầu kỹ năng số vượt trội hơn các kỹ năng về chuyên môn tài chính - ngân hàng, điều này đòi hỏi sự thay đổi về chương trình đào tạo hay phát triển mã ngành đào tạo mới mà kỹ năng số chiếm tỉ trọng cao.

Hai là, cần duy trì liên tục trao đổi, nghiên cứu, làm việc giữa các tổ chức tài chính - ngân hàng và cơ sở giáo dục đào tạo: Để đảm bảo yếu tố năng lực chuyên môn đầu ra mong muốn nói chung và yếu tố năng lực số nói riêng, các tổ chức tài chính - ngân hàng cần tạo điều kiện cho cán bộ tại các cơ sở giáo dục đào tạo tham quan, học tập, làm việc và thâm nhập tổ chức. Từ đó, họ có thêm kinh nghiệm, kiến thức thực tế cho hoạt động giáo dục, đem lại nguồn lực tốt cho tổ chức trong tương lai.

Ba là, quy định, quy chế về kỹ năng số cần thiết đối với sinh viên ngành tài chính - ngân hàng: Các cơ sở giáo dục, đào tạo cần đưa ra những yêu cầu về kỹ năng số cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính - ngân hàng, coi đó là chuẩn đầu ra để đảm bảo chất lượng đầu vào cho các tổ chức tài chính - ngân hàng.

Tài liệu tham khảo:

1.https://all-digital.org/projects/digcompsat/
2. https://icdl.org/
3. https://www.digitalliteracyassessment.org/
4. https://digital-competence.eu/
5. https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/dao-tao/vnu-ussh-ban-hanh-khung-nang-luc-so-danh-cho-sinh-vien-22606.html
6.https://baochinhphu.vn/de-xuat-khung-nang-luc-so-ap-dung-cho-nguoi-hoc-trong-he-thong-giao-duc-quoc-dan-102240923092036247.htm
7. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/10/28/khung-nang-luc-so-chau-au-va-gia-tri-tham-khao-trong-xay-dung-khung-nang-luc-so-cho-can-bo-cong-chuc-o-viet-nam/
8. https://tapchinganhang.gov.vn/phat-trien-nang-luc-so-cho-nhan-luc-nganh-ngan-hang-trong-boi-canh-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-th.htm


Trần Nguyễn Bảo Anh; Bùi Chi Mai

Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Bài viết phân tích toàn diện việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, làm rõ các cơ hội, rủi ro và đề xuất khuôn khổ quản trị nhằm bảo đảm khai thác công nghệ này một cách hiệu quả, an toàn và bền vững.
Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Trong vài năm trở lại đây, thế giới chứng kiến sự phát triển của stablecoin neo theo các đồng tiền pháp định, nổi bật nhất, stablecoin neo theo USD chiếm áp đảo, nó không chỉ làm thay đổi cấu trúc thị trường tài sản số mà còn bắt đầu để lại dấu ấn đậm nét trên thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ - một trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu. Tại các khu vực đồng tiền khác cũng như Khu vực đồng Euro câu chuyện này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Bài viết phân tích một cách hệ thống cơ chế truyền dẫn của stablecoin neo theo Euro, các kịch bản tác động và đưa ra một số hàm ý chính sách.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành Ngân hàng, quy mô thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với dữ liệu tài chính và dữ liệu sinh trắc học. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng, khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam về quản trị và bảo vệ dữ liệu, đồng thời chỉ ra một số thách thức trong thực tiễn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), xử lý dữ liệu sinh trắc học và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái tài chính số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro dữ liệu cá nhân trong ngân hàng, cùng một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bảo đảm an toàn dữ liệu và củng cố niềm tin của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng số.
Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Thời gian qua, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro, phòng, chống gian lận, đồng thời góp phần nâng cao mức độ an toàn và niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch vụ thanh toán trên kênh số nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung.
Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích bản chất kinh tế, cơ chế rủi ro và tác động của stablecoin tới truyền dẫn chính sách tiền tệ, đồng thời thảo luận hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong việc xây dựng khuôn khổ quản lý phù hợp, gắn với phát triển tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và thúc đẩy đổi mới an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán, dữ liệu không chỉ là yếu tố hỗ trợ vận hành hệ thống mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số hiện đại, tiện ích và an toàn.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành