CIC Áp dụng phương thức cấp tin mới nhanh chóng, chính xác

Hoạt động ngân hàng
Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các đơn vị sử dụng thông tin, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã nâng cấp và đưa vào vận hành hệ thống công nghệ thông tin mới, hiện đại, qua đó ch...
aa

Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các đơn vị sử dụng thông tin, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã nâng cấp và đưa vào vận hành hệ thống công nghệ thông tin mới, hiện đại, qua đó cho phép CIC triển khai mô hình kết nối, cung cấp thông tin trực tiếp với một số tổ chức tín dụng (TCTD) có nhu cầu. Mô hình kết nối trực tiếp (Host to Host - H2H) với các giải pháp kỹ thuật mới bao gồm 02 cổng kết nối đặt tại TCTD và CIC (API gateway) cho phép dữ liệu được truyền tự động hai chiều qua đường truyền riêng, đáp ứng tối đa yêu cầu báo cáo thông tin tín dụng theo quy định của NHNN, đồng thời khai thác có hiệu quả sản phẩm, dịch vụ của CIC.

Theo lãnh đạo CIC, Mô hình kết nối H2H giữa CIC và từng TCTD là một hệ thống được thiết kế với đường truyền riêng giữa CIC và từng TCTD để phục vụ hoạt động báo cáo, khai thác thông tin tín dụng của TCTD với CIC hiệu quả hơn, đặc biệt với các yêu cầu báo cáo, truy xuất lượng thông tin khách hàng lớn, có tính đồng bộ cao. Đặc biệt, đây là hệ thống chuyển dữ liệu hai chiều tự động, cho phép tinh giản hoạt động hỏi tin, tiết kiệm về phí dịch vụ, lao động và thời gian, giảm bớt can thiệp của con người vào quá trình hỏi và trả lời tin. Hệ thống kết nối H2H còn cho phép TCTD quản lý tập trung và có hệ thống các thông tin đã khai thác từ CIC để phục vụ cho các hoạt động quản trị rủi ro và là nguồn dữ liệu lịch sử quan trọng để các TCTD xây dựng và phát triển các mô hình quản trị rủi ro nội bộ.

Việc triển khai mô hình H2H sẽ giúp các ngân hàng và CIC cập nhật hai chiều thông tin (TCTDàCIC và CICàTCTD) một cách tự động ngay khi có biến động thông tin theo các mẫu biểu/trường thông tin đã thống nhất; giảm thiểu sự can thiệp của con người vào quá trình truy vấn, chiết xuất thông tin; Hỗ trợ TCTD trong việc lưu trữ, quản trị dữ liệu TTTD tập trung tại Hội sở phục vụ cho các mục đích, nhiệm vụ khác nhau của hoạt động ngân hàng.

Mô hình này cũng mang lại ý nghĩa hết sức thiết thực đối với cả TCTD lẫn CIC. Cụ thể, đối với TCTD: Các báo cáo TTTD kịp thời, chính xác theo quy định của TT03; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả dữ liệu TTTD khai thác từ CIC, tiết kiệm thời gian, chi phí, nguồn lực và giảm thiểu rủi ro tác nghiệp. Đối với CIC: Việc cập nhật dữ liệu phát sinh tại TCTD một cách nhanh chóng, tăng cường tự động hóa trong hoạt động cung cấp thông tin, giảm rủi ro tác nghiệp; đa dạng hóa các loại hình sản phẩm theo yêu cầu của từng TCTD; nắm bắt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của TCTD về TTTD trong thời đại công nghệ mới


Lãnh đạo CIC chia sẻ, TCTD có thể lựa chọn các giai đoạn triển khai phù hợp với điều kiện và yêu cầu công nghệ, vận hành và quy trình nghiệp vụ nội bộ thông qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Triển khai tích hợp hỏi và trả lời tin tự động online dựa trên các yêu cầu hỏi tin cụ thể từng lần tương ứng theo các sản phẩm/ mẫu biểu cụ thể;

Giai đoạn 2: Triển khai tích hợp đồng bộ thông tin chủ động từ CIC. Việc triển khai tích hợp đồng bộ thông tin chủ động từ CIC được hiểu là: Đối với Khách hàng cũ đang có quan hệ tín dụng với TCTD: thông tin CIC của các khách hàng sẽ được tự động được cập nhật đẩy về kho cơ sở dữ liệu CIC riêng cho TCTD khai thác khi có bất kỳ sự thay đổi/ cập nhật mới thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng tại bất kỳ các TCTD khác. Đối với khách hàng mới: triển khai tích hợp hỏi và trả lời tin tự động như đã phát triển Giai đoạn 1;

Giai đoạn 3: CIC sẽ triển khai xây dựng đồng bộ việc báo cáo thông tin tín dụng của các khách hàng vay tại TCTD sang CIC theo quy định Thông tư 03, TT02 và văn bản bổ sung sửa đổi. Việc triển khai giải pháp công nghệ sẽ theo phương pháp cuốn chiếu xây dựng và triển khai theo từng giai đoạn .

Với hệ thống công nghệ mới trong dự án FSMIMS và sự chủ động của CIC trong việc áp dụng phương thức cung cấp thông tin mới hiện đại (host to host), thời gian truy xuất thông tin đã giảm xuống dưới 10 giây, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng khai thác thông tin nhanh, hiệu quả và với chi phí hợp lý. Cùng với đó, CIC đã nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu tổ chức tín dụng Quốc gia cả về chiều rộng và chiều sâu. Nguồn thông tin đã mở rộng tới 100% các tổ chức tín dụng, kể cả các tổ chức có quy mô nhỏ như Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và các tổ chức ngoài ngành. Do vậy, tổng số khách hàng vay lưu trữ đã đạt trên 36,6 triệu khách hàng, độ sâu thông tin là 7/8 điểm, độ phủ thông tin là 51% trên số người trưởng thành, cao hơn khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và nhóm các nước OECD.

Theo CIC, trong quý III/2018 CIC đã cập nhật được 3.491.654 hồ sơ khách hàng (tăng hơn 27,5% so với quý II/2018), nâng tổng số khách hàng trong kho dữ liệu TTTD quốc gia lên trên 37,7 triệu khách hàng. Tính đến 10/09/2018, kho dữ liệu của CIC có hơn 17 triệu khách hàng còn dư nợ tín dụng với tổng dư nợ là 6.144 nghìn tỷ đồng và 22.647 triệu USD. Trong quý III/2018, tổng số hợp đồng tín dụng được cập nhật trong kho dữ liệu đến nay là trên 26,1 triệu (giảm 0,2% so với quý II/2018), trong đó 25,9 triệu hợp đồng thể nhân và trên 234.012 hợp đồng pháp nhân. Đến ngày 10/09/2018, tổng số hồ sơ thu thập thông tin tài sản đảm bảo cập nhật được là trên 17,4 triệu hồ sơ (tăng 4,4% so với quý II/2018); trong đó hồ sơ không có TSĐB là trên 13 triệu hồ sơ, hồ sơ có TSĐB là 4,3 triệu hồ sơ. CIC cũng đã thu thập và cập nhật được 33.606 bản báo cáo thông tin tài chính doanh nghiệp giảm 1% so với cùng kỳ năm 2017. Đặc biệt, đến nay có 43/43 TCTD phát hành thẻ gửi báo cáo về CIC, tổng số thẻ tín dụng là hơn 3,6 triệu thẻ, với tổng dư nợ là 38.721 tỷ đồng (tăng 15% so với quý II/2018). CIC thu thập và cập nhật được từ 38/38 TCTD có nghiệp vụ đầu tư trái phiếu vào doanh nghiệp với tổng giá trị đầu tư là 181.194 tỷ đồng.

Bên cạnh việc thu thập, cập nhật dữ liệu báo cáo tài chính của TCTD, doanh nghiệp và khách hàng vay, CIC cũng đã cung cấp hàng ngàn báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước, các Vụ, Cục chức năng của các bộ ngành khác như Bộ Tài chính, Bộ Công thương… theo đó, hằng tháng CIC cung cấp hàng ngàn báo cáo về tình hình đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng; Báo cáo tình hình cho vay đối với các ngành kinh tế và các tập đoàn kinh tế; báo cáo doanh nghiệp có dư nợ lớn; Báo cáo quan hệ tín dụng, tài sản đảm bảo, xếp hạng tín dụng của khách hàng...

CIC cũng đã cung cấp 6.740.075 báo cáo quan hệ tín dụng (pháp nhân và thể nhân) cho các TCTD khai thác với tỷ lệ trên 90% có thông tin và 93% trả lời tự động. Tính riêng trong Quý III/2018, CIC đã cung cấp trên 7 triệu báo cáo cho các TCTD tăng 8,3% so với cùng kỳ. Cũng trong Quý III/2018, CIC đã cung cấp TTTD theo lô cho Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Hàng Hải, ShinHan Vietnam, Đại Dương, Kiên Long, Á Châu, Đầu tư và Phát triển Việt Nam, HSBC, Việt Nam Thịnh Vượng, Citi bank, An Bình, Kỹ Thương VN, Nam Á, Quân đội, Công ty cho thuê tài chính VCB,... Đặc biệt, CIC đã cung cấp thông tin nhóm nợ cao nhất theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN cho 118 TCTD, trong đó có 74 TCTD phải điều chỉnh nhóm nợ trong đó số hồ sơ cần điều chỉnh là 227.500 hồ sơ, tổng dư nợ cần điều chỉnh vào khoảng 110.056 tỷ đồng. CIC cũng đã cung cấp TTTD cho 2.931 khách hàng vay thể nhân và 53 khách hàng vay pháp nhân theo quy định.

Trong năm 2019 này, CIC sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm hiện có, sản phẩm tổng hợp phục vụ các đơn vị; nghiên cứu xây dựng thêm sản phẩm mới phù hợp yêu cầu TCTD; tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các TCTD trong việc tìm hiểu và triển khai kết nối trực tiếp H2H giữa CIC và TCTD. Xúc tiến làm việc với các đơn vị ngoài ngành để tìm kiếm nguồn thông tin mở rộng cho CIC; thực hiện gói thầu kết nối thông tin khách hàng vay với C72 theo kế hoạch đã đề ra. Tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm thông tin tín dụng tới các đơn vị; tư vấn, hướng dẫn việc khai thác sản phẩm, dịch vụ TTTD và tiến hành ký kết hợp đồng dịch vụ với các đơn vị sử dụng.

Thanh Thủy
Nguồn: TCNH số 6-2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng