Chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Hoạt động ngân hàng
Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày nay. Trải qua chặng ...
aa

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày nay. Trải qua chặng đường 70 năm, ngành Ngân hàng đã có những bước chuyển mình vượt bậc, dòng vốn tín dụng ngân hàng đã đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước.



Vốn tín dụng ngân hàng là nguồn lực quan trọng góp phần hoàn thành sớm các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Sau quá trình không ngừng hoàn thiện về mô hình, tổ chức, ngày 12/9/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ký Quyết định số 183/QĐ-NH9 ban hành Quy chế tổ chức của các Vụ, đơn vị thuộc bộ máy NHNN, trong đó có Vụ Tín dụng. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và ngành Ngân hàng, đến năm 2014, Vụ Tín dụng đổi tên thành Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Vụ Tín dụng CNKT) với chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực tín dụng ngân hàng đối với các ngành kinh tế - đây được coi là dấu mốc quan trọng, mở ra một trang mới cho hoạt động của Vụ góp phần vào sự nghiệp chung của cả ngành.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, Ban Lãnh đạo NHNN, sau khi chuyển đổi tập trung vào nhiệm vụ có tính chất chuyên sâu về ngành kinh tế, Vụ Tín dụng CNKT đã phát huy vai trò và gặt hái được một số kết quả bước đầu, với dấu ấn nổi bật nhất trong giai đoạn 2016 - 2020. Vụ Tín dụng CNKT luôn là một trong các đơn vị quan trọng thuộc khối chính sách tham mưu, giúp Lãnh đạo NHNN ban hành nhiều cơ chế, chính sách, chỉ đạo điều hành, định hướng, đưa ra các giải pháp về tín dụng ngành, lĩnh vực kinh tế; một mặt, giúp thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định hoạt động và an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng chung của Ngành. Mặt khác, giúp khơi thông dòng vốn tín dụng phục vụ cho phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện mọi mặt đời sống của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng phục vụ phát triển ngành, lĩnh vực theo định hướng.

Các cơ chế, chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực không ngừng được hoàn thiện đã góp phần đưa chủ trương, đường lối về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Hệ thống chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực luôn đồng bộ và phù hợp với các chính sách hỗ trợ phát triển khác của Nhà nước không chỉ tạo điều kiện thuận lợi mở rộng tín dụng phục vụ tăng trưởng, phát triển kinh tế, mà còn hướng tới tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, đảm bảo an sinh xã hội. Quan trọng có thể kể đến như chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; các chương trình tín dụng hỗ trợ đối với các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam; chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ; chính sách đối với một số dự án trọng điểm quốc gia, các dự án giao thông trọng điểm, đầu tư lớn cho các ngành kinh tế làm thay đổi bộ mặt kinh tế quốc gia...; chương trình tín dụng hỗ trợ nhà ở dành cho người thu nhập thấp; chính sách tín dụng cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã; các chương trình tín dụng chính sách dành cho đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; chính sách bảo lãnh ngân hàng, đầu tư ra nước ngoài...

Công tác chỉ đạo điều hành kịp thời, bám sát vào các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát do Quốc hội đề ra, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, và căn cứ mức tăng trưởng tín dụng năm trước, Vụ Tín dụng CNKT đã tham mưu Lãnh đạo NHNN định hướng điều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, cần tăng cường quản lý rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi để Ngân hàng Chính sách xã hội đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng chính sách; quan tâm triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia; thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh.

Quan tâm, chú trọng công tác xử lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp, theo đó, Vụ Tín dụng CNKT đã tham mưu Lãnh đạo NHNN đẩy mạnh công tác kết nối, trao đổi giữa ngân hàng - doanh nghiệp nhằm nắm bắt và kịp thời xử lý những khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng; xử lý các khó khăn tài chính của các doanh nghiệp, các tập đoàn, tổng công ty; chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh. Bên cạnh đó, Vụ Tín dụng CNKT cũng luôn làm tốt vai trò tham mưu cho Lãnh đạo NHNN trong công tác xử lý nợ góp phần thực hiện thành công quá trình tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế của Chính phủ.

Kết quả tín dụng ngành, lĩnh vực đạt được trong giai đoạn 2016 - 2020 đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước theo định hướng. Cụ thể:

Thứ nhất, kết quả hoạt động tín dụng ngân hàng 05 năm qua đã đóng góp quan trọng vào ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Dư nợ tín dụng luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng tích cực, bình quân giai đoạn tăng 15,25%/năm, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2016 - 2019 có xu hướng giảm dần, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP tăng dần và cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy nguồn vốn tín dụng được tăng cường sử dụng hiệu quả và phân bổ phù hợp. Riêng năm 2020, trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, tín dụng vẫn có mức tăng trưởng khá tốt (12,17%), đóng góp vào mức tăng chung 2,91% của GDP - là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới. (Hình 1)


Thứ hai, cơ cấu tín dụng các ngành kinh tế có xu hướng chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Tỷ trọng tín dụng ngành thương mại, dịch vụ tiếp tục có xu hướng tăng, chiếm từ 57% - 63% tổng dư nợ nền kinh tế, tỷ trọng tín dụng ngành nông, lâm, thủy sản và tín dụng ngành công nghiệp, xây dựng có xu hướng giảm lần lượt chiếm khoảng 8 - 10% và 28 - 30% tổng dư nợ.

Xét về tốc độ tăng trưởng, dư nợ tín dụng đối với ngành thương mại và dịch vụ có mức tăng trưởng ổn định và cao nhất với mức tăng trưởng bình quân đạt 17,43%; dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng bình quân tăng 12,41%; dư nợ tín dụng ngành nông, lâm, thủy sản bình quân tăng 11,02%. (Hình 2)


Thứ ba, tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Cụ thể, các lĩnh vực có mức tăng trưởng tín dụng khá và bình quân giai đoạn 2016 - 2020 cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế gồm lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, cụ thể:

(i) Tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 18,17%, chiếm tỷ trọng 24,77% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế; (ii) Tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 16,07%, chiếm 19,79% tổng dư nợ tín dụng chung; (iii) Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 15,31%, chiếm 2,47% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hai lĩnh vực ưu tiên còn lại là tín dụng xuất khẩu tăng 8,38%, chiếm 2,96% tổng dư nợ tín dụng chung và tín dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 3,13%, chiếm 0,35% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. (Hình 3)


Thứ tư, tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, cần tăng cường quản lý rủi ro tiếp tục được kiểm soát phù hợp với định hướng điều hành của NHNN, đảm bảo an toàn cho cả hệ thống và định hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên. Theo đó, tín dụng đối với các lĩnh vực này đang có xu hướng giảm dần qua các năm, cụ thể: (i) Tín dụng đối với dự án BOT, BT giao thông đang có xu hướng giảm mạnh về tốc độ tăng trưởng, bình quân giai đoạn 2016 - 2020, dư nợ lĩnh vực BOT, BT giao thông đạt 10,18%, chiếm tỷ trọng 1,18% tổng dư nợ nền kinh tế; (ii) Tốc độ tăng trưởng tín dụng phục vụ đời sống có xu hướng giảm dần, bình quân giai đoạn 2016 - 2020, dư nợ lĩnh vực này là 28,66%, chiếm tỷ trọng 20,08% tổng dư nợ nền kinh tế; (iii) Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản có xu hướng giảm dần, bình quân giai đoạn 2018 - 2020 là 20,64%, chất lượng tín dụng tiếp tục được cải thiện1; trong đó, dư nợ tín dụng về nhà ở luôn chiếm tỷ trọng trên 60% tổng dư nợ lĩnh vực bất động sản; (iv) Tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư kinh doanh chứng khoán bình quân giai đoạn 2018 - 2020 là 23,86%, chiếm tỷ trọng khá nhỏ (0,5%) trong tổng dư nợ nền kinh tế.

Thứ năm, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã trở thành nguồn lực quan trọng (chiếm trên 50% tổng nguồn lực) của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; cùng với nguồn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần hoàn thành sớm các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (sớm 18 tháng so với mục tiêu). Trong giai đoạn 2016 - 2020, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay trên 10 triệu lượt khách hàng vay vốn với tổng doanh số cho vay đạt 320.988 tỷ đồng. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã góp phần giúp hơn 2,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho hơn 1,3 triệu lao động; giúp hơn 24 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; gần 346 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 7,3 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn, gần 142 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách; góp phần giải quyết những vấn đề căn bản, thiết yếu của cuộc sống cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội; góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Thứ sáu, các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn của ngành Ngân hàng đối với doanh nghiệp trong thời gian qua, đặc biệt là thông qua chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp với trên 300 nghìn khách hàng doanh nghiệp được vay vốn đã góp phần tích cực trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế bị tác động và ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai hiệu quả các chính sách của Chính phủ, NHNN về tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, cho vay mới..., thể hiện tinh thần chia sẻ, tháo gỡ, tạo điều kiện cho khách hàng vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế và tạo đà tăng trưởng trong và sau dịch. Tính đến cuối năm 2020, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với dư nợ gần 335 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho hơn 600 nghìn khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước dịch với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đến 28/12/2020 đạt hơn 2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 400 nghìn khách hàng. Sự vào cuộc khẩn trương, tích cực của ngành Ngân hàng đã được các tổ chức, cá nhân đánh giá cao, nhiều khách hàng đã dần khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Có thể nói, kết quả hoạt động tín dụng ngân hàng 5 năm qua đã đóng góp quan trọng vào ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng hành cùng sự phát triển đất nước. Quy mô hoạt động, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng tích cực, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP theo mục tiêu Quốc hội đề ra tại Nghị quyết số 142/2016/QH13 ngày 12/4/2016 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Cơ cấu tín dụng có xu hướng chuyển dịch phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên. Tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro trong tầm kiểm soát về cả quy mô và chất lượng tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của NHNN; tín dụng người nghèo và các đối tượng chính sách được mở rộng góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đảm bảo an sinh xã hội.

Kết quả này một lần nữa khẳng định vai trò và vị trí của Vụ Tín dụng CNKT trong việc tham mưu Lãnh đạo NHNN điều hành tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; đóng góp tích cực vào sự lớn mạnh, phát triển, thành công chung của ngành Ngân hàng suốt những năm vừa qua và cũng là hướng đi, định hướng đúng đắn cho giai đoạn tiếp theo.

* Nợ xấu đối với tín dụng lĩnh vực bất động sản khá thấp năm 2018: 1,95%, năm 2019: 1,58% và năm 2020: 1,73%.


TS. Nguyễn Tuấn Anh - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Tạp chí Ngân hàng số Chuyên đề đặc biệt 2021


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Bài viết làm rõ vai trò quản lý, điều tiết hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh Khu vực 1 (NHNN Khu vực 1) trong việc khai thác hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2024, qua đó góp phần huy động, phân bổ nguồn lực và củng cố nền tảng tài chính cho phát triển kinh tế Thủ đô theo hướng bền vững.
Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành