Cập nhật về tình hình dự trữ ngoại hối quốc tế và hàm ý chính sách

Quốc tế
Ngày 30/9/2021, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cập nhật về tình hình dự trữ ngoại hối quốc tế. Đây là dữ liệu tổng hợp từ 149 báo cáo của các quốc gia thành viên IMF và một số quốc gia khác, các tổ chức nắm giữ dự trữ ngoại hối quốc tế...
aa

Ngày 30/9/2021, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cập nhật về tình hình dự trữ ngoại hối quốc tế. Đây là dữ liệu tổng hợp từ 149 báo cáo của các quốc gia thành viên IMF và một số quốc gia khác, các tổ chức nắm giữ dự trữ ngoại hối quốc tế...

Ngày 30/9/2021, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cập nhật về tình hình dự trữ ngoại hối quốc tế. Đây là dữ liệu tổng hợp từ 149 báo cáo của các quốc gia thành viên IMF và một số quốc gia khác, các tổ chức nắm giữ dự trữ ngoại hối quốc tế. Dữ liệu được thu thập theo ba nhóm: Toàn thế giới, các nền kinh tế phát triển, các nước đang phát triển và mới nổi. Đối với mỗi nhóm, dự trữ phân bổ bao gồm những đồng tiền dự trữ truyền thống (USD, EUR, GBP, JPY, CHF) và một số đồng tiền khác.

Cơ cấu dữ trữ ngoại hối quốc tế quy đổi sang USD. Đơn vị tính: tỷ USD

Nguồn: IMF tháng 9/2021


Tính đến cuối quý II/2021, tổng dự trữ ngoại hối quốc tế đạt trên 12.817 tỷ USD, tăng gần 270 tỷ USD so với quý trước đó. Tương tự, dự trữ đã phân bổ tăng lên con số 11.953 tỷ USD, chiếm trên 93,26% tổng dự trữ ngoại hối quốc tế. Trong giá trị dự trữ đã phân bổ, dự trữ bằng USD đạt trên 6.984 tỷ USD, giảm nhẹ từ tỷ trọng 59,54% trong quý trước xuống 59,23%, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với đồng EUR - đồng tiền dự trữ thứ hai - đồng tiền này chiếm tỷ trọng 20,54% trong tổng dự trữ ngoại hối đã phân bổ (quý I/2021 chiếm 21,24%). Tương tự, tỷ trọng JPY cũng giảm nhẹ xuống 5,79% từ 5,89% trong quý I/2021 trước đó. Tỷ trọng CHF không thay đổi, những đồng tiền còn lại tiếp tục tăng nhẹ so với quý I/2021 trước đó, cả về giá trị và tỷ trọng.

Dữ liệu cập nhật cho thấy, USD đang mất dần sức hút như một loại tiền tệ dự trữ hàng đầu, khi một số quốc gia muốn chấm dứt sự lệ thuộc vào đồng bạc xanh này. Sự kiện đáng chú ý là gần đây, CHLB Nga đã loại USD khỏi danh mục dự trữ ngoại hối quốc gia. Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 là yếu tố cơ bản tác động đáng kể đến tình hình dự trữ ngoại hối toàn cầu. Cụ thể là, sau khi giảm 122 tỷ USD trong quý I/2020, dự trữ tăng trở lại lên 12.817 tỷ USD vào cuối quý II/2021. Nguyên nhân là do nhiều nước đẩy mạnh can thiệp mua vào những lượng ngoại hối quy mô lớn nhằm tăng thêm nguồn dự trữ để đối phó với những diễn biến kinh tế - xã hội khó lường do dịch bệnh Covid-19 gây ra và nhiều đồng tiền mới nổi lên giá so với các loại ngoại tệ chủ chốt như USD, EUR, JPY.

Tại một số quốc gia, dự trữ ngoại hối đã tăng lên quá mức cần thiết (để trang trải những nghĩa vụ (khoản nợ) nước ngoài ngắn hạn và chi phí nhập khẩu kỳ vọng. Trong khi đó, những nền kinh tế khác, cụ thể là các nước thu nhập thấp, đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt ngoại hối để xử lý những nhu cầu cần thiết về tài chính quốc tế.

Theo thống kê do Wikipedia cập nhật, top 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đang có dự trữ ngoại tệ và vàng lớn nhất thế giới bao gồm: Trung Quốc (3.408,736 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Nhật Bản (1.424,284 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Thụy Sỹ (1.087,774 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Ấn Độ (638,646 tỷ USD, dữ liệu ngày 24/9/2021); CHLB Nga (617,90 tỷ USD, dữ liệu ngày 24/9/2021); Đài Loan (543,58 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Hồng Kông (497 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Hàn Quốc (463,90 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021); Saudi Arabia (441,245 tỷ USD, dữ liệu tháng 07/2021); Singapore (418,146 tỷ USD, dữ liệu tháng 08/2021).

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet


Về bản chất, các ngân hàng trung ương nắm giữ các đồng tiền dự trữ quốc tế bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau, chủ yếu là nhằm: Duy trì ổn định tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ; đảm bảo thanh khoản trong trường hợp xảy ra khủng hoảng kinh tế, chính trị; duy trì niềm tin đối với các khách hàng quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài; đáp ứng các nghĩa vụ tài chính quốc tế như hoàn trả những khoản nợ đã đến hạn thanh toán; đa dạng hóa danh mục tài sản của ngân hàng trung ương, góp phần kiềm chế rủi ro quá mức.

Đối với các ngân hàng trung ương, USD và EUR là hai đồng tiền mang lại lợi ích lớn nhất trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc gia do hai đồng tiền này được chấp nhận rộng rãi trên thế giới, là trung gian thanh toán với tính thanh khoản và độ tin cậy rất cao. Mặc dù USD không còn đóng vai trò quan trọng như trong những năm sau khi hệ thống Bretton Woods được hình thành, khi mà hầu hết các đồng bản tệ trên thế giới đều neo tỷ giá với đồng tiền này nhưng đến nay, USD vẫn tiếp tục là đồng tiền quan trọng nhất trong giỏ các đồng tiền dự trữ quốc tế (chiếm 59,23%).

Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương cần hạn chế can thiệp để tích lũy dự trữ, không nên để dự trữ ngoại hối quốc gia tăng quá mức cần thiết. Một khi kinh tế toàn cầu ổn định trở lại và tăng trưởng bền vững trong dài hạn, các nền kinh tế chủ chốt sẽ chấp nhận chính sách thu hẹp mức độ thâm hụt hoặc thặng dư quá mức. Rủi ro tăng cao từ khó khăn kinh tế cho thấy, các chính phủ cần đẩy mạnh các yếu tố dẫn dắt kinh tế trong nước hơn là dựa vào các nền kinh tế bên ngoài, làm nền tảng vững chắc để cân bằng tăng trưởng giữa các nền kinh tế trên thế giới. Đề tránh rủi ro, về cơ cấu dự trữ cần thay đổi phù hợp tình hình xuất nhập khẩu và nghĩa vụ tài chính quốc tế của mỗi nước, không nên nắm giữ tỷ trọng lớn những đồng tiền có xu hướng giảm giá.

Tình hình dự trữ ngoại hối của Việt Nam

Trong bảng thống kê của Wikipedia, dự trữ ngoại hối của Việt Nam có xu hướng tăng dần và đạt 100,438 tỷ USD, xếp thứ 27 trong bảng thống kê, giảm 1 bậc so với báo cáo trước đó.

Đạt được kết quả đó là do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ. Mặc dù trong bối cảnh kinh tế, tài chính thế giới biến động nhanh và phức tạp do sự tàn phá của đại dịch Covid-19, tâm lý thị trường dao động mạnh, nhưng tỷ giá và thị trường ngoại tệ diễn biến ổn định, nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân được đáp ứng đầy đủ và kịp thời. Với sự ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước đã góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp, duy trì niềm tin của các nhà đầu tư, thu hút nguồn vốn đầu tư phục hồi nền kinh tế.

Hiện nay, giá cả hàng hóa thế giới biến động với biên độ lớn do thương mại quốc tế đình trệ, nhất là những mặt hàng thiết yếu, nhu cầu về hàng hóa và nhu yếu phẩm tăng cao, tập trung vào một số thời điểm nhất định; các giải pháp nới lỏng chính sách vĩ mô để hỗ trợ nền kinh tế có thể kéo theo những rủi ro khó lường trong việc kiểm soát lạm phát. Do vậy, mức dự trữ trên của Việt Nam là phù hợp để tiếp tục điều hành ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, đáp ứng tốt các nhu cầu thương mại và tài chính quốc tế.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; IMF; Wikipedia

Xuân Thanh (NHNN)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành