Cảnh báo của FBI về xác thực đa yếu tố và những bài học cho các ngân hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Tháng 9 vừa qua, Cục điều tra liên bang Mỹ công bố một ghi chú cảnh báo các công ty của nước này về việc tội phạm mạng đang sử dụng nhiều biện pháp để qua mặt các kỹ thuật xác thực đa yếu tố phổ biến...
aa

Tháng 9 vừa qua, Cục điều tra liên bang Mỹ công bố một ghi chú cảnh báo các công ty của nước này về việc tội phạm mạng đang sử dụng nhiều biện pháp để qua mặt các kỹ thuật xác thực đa yếu tố phổ biến trên thị trường.

Cảnh báo của FBI

Cách đơn giản nhất và cũng phổ biến nhất là gian lận trao đổi SIM, trong đó, kẻ tấn công thuyết phục một mạng di động (hoặc mua chuộc nhân viên) để chuyển số điện thoại di động mục tiêu, cho phép chúng nhận mã bảo mật 2FA được gửi qua tin nhắn SMS. Tội phạm đã sử dụng phương pháp này để trộm tiền trong tài khoản ngân hàng, trộm tiền mã hóa từ các ví điện tử hay sàn giao dịch, tấn công các dịch vụ kiểu PayPal. Ngay tại Việt Nam, chúng ta cũng đã từng thấy một số trường hợp khách hàng bị “cướp SIM” để trộm tiền từ tài khoản ngân hàng. Từ góc độ của người dùng thì đây là kiểu tấn công rất khó chống đỡ.

Kiểu tấn công thứ hai là sử dụng kỹ thuật phishing để lừa người dùng nhập tên đăng nhập/mật khẩu và mã xác thực dùng một lần (OTP) vào một trang web giả. Tháng 9 vừa qua, một loạt các tài khoản YouTube được nhiều người theo dõi đã bị hack theo cách này.

Kiểu tấn công tinh vi hơn là cướp phiên làm việc (session hijack) khi người dùng đăng nhập vào trang web chính thức nhưng thông tin đăng nhập và mã xác thực dùng một lần bị đánh cắp trong quá trình truyền từ người dùng tới website. Theo FBI, một số trường hợp trong năm 2019, lỗ hổng bảo mật trên trang web của ngân hàng đã cho phép tin tặc bỏ qua mã PIN và câu hỏi bảo mật sau khi lừa lấy được các thông tin cơ bản của chủ tài khoản.

Những thông tin trên đây không phải là mới và đã được nhiều người đã biết tới. Vậy cảnh báo của FBI có thực sự cần thiết với các công ty? Vì dù sao thì các kỹ thuật xác thực đa yếu tố như OTP gửi qua SMS vẫn hoạt động tốt và đáp ứng yêu cầu của phần lớn người dùng (cả người dùng nội bộ lẫn khách hàng). Hơn nữa, dù có thể bị qua mặt nhưng các kỹ thuật xác thực đa yếu tố phổ biến vẫn tốt hơn là chỉ xác thực người dùng bằng mật khẩu. Vấn đề là một số người dùng quan trọng (cán bộ quản trị các hệ thống trọng yếu, khách hàng có số dư và hạn mức giao dịch cao...) - những mục tiêu “giá trị” của tin tặc cần được bảo vệ bằng những biện pháp kỹ thuật cao cấp, an toàn hơn. Họ có thể sử dụng các kỹ thuật xác thực đa yếu tố an toàn hơn như token FIDO2 để tránh bị tấn công phishing. Về lâu dài, giải pháp có thể là một tiêu chuẩn như WebAuthn. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về những công nghệ xác thực tiên tiến đó và khả năng ứng dụng của chúng.

U2F giúp bảo vệ người dùng khỏi các hình thức phishing

Dù sử dụng OTP gửi qua SMS hay OTP do ứng dụng di động sinh ra, giao dịch ngân hàng trực tuyến đều có thể bị tấn công phishing do người sử dụng không biết trang web mà họ đang truy cập có đúng là trang web của ngân hàng hay không. Các hướng dẫn phòng chống phishing thường yêu cầu người sử dụng kiểm tra địa chỉ trang web nhưng trong thực tế, đa số người sử dụng không biết hay không nhớ được cách kiểm tra (và tin tặc thì liên tục sáng tạo ra những cách lừa đảo mới). Theo một chuyên gia bảo mật, yêu cầu khách hàng tự kiểm tra địa chỉ trang web là một đòi hỏi duy ý chí.

Việc kiểm tra địa chỉ trang web cũng không có tác dụng là mấy vì có rất nhiều mẹo mà kẻ tấn công có thể sử dụng để đánh lừa cả những người chuyên nghiệp. Ngoài việc hướng dẫn khách hàng kiểm tra địa chỉ trang web, các ngân hàng có thể sử dụng chứng chỉ EV, với loại chứng chỉ này, tên ngân hàng sẽ hiển thị trên thanh địa chỉ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở Đại học Stanford chỉ ra rằng kẻ tấn công dễ dàng lừa người dùng bằng cách tạo một thanh địa chỉ giả mạo (tấn công “hình trong hình”). Liên minh Xác thực FIDO đã đưa ra chuẩn U2F và các token tuân theo chuẩn này giúp người dùng khỏi phải kiểm tra địa chỉ trang web mà vẫn có thể giao dịch an toàn. Trình duyệt web của người dùng sẽ trực tiếp gửi địa chỉ trang web đến cho thiết bị U2F và thiết bị U2F sẽ thay người dùng kiểm tra địa chỉ có đúng hay không. Nói một cách đơn giản, với mỗi địa chỉ khác nhau thiết bị U2F sẽ trả về một mã xác thực khác nhau, do đó, nếu người dùng bị lừa truy cập địa chỉ http://phishing.com, trang web này không thể lấy cấp mã xác thực của https://banking.com vì địa chỉ https://banking.com khác với http://phishing.com. Đây là một ưu điểm nổi bật của U2F so với các kiểu xác thực bằng OTP truyền thống. Hơn thế, U2F có thể được cắm vào một máy tính nhiễm mã độc mà mã đăng nhập vẫn được đảm bảo an toàn (tuy nhiên, mã độc có thể gây ra nhiều vấn đề khác ngoài quá trình xác thực). Do U2F sử dụng kết nối qua cổng USB, sóng NFC hoặc Bluetooth nên nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến có thể tin tưởng rằng người dùng thực đang ở ngay gần địa điểm đăng nhập chứ không như trường hợp tin tặc lừa người dùng để lấy OTP và đăng nhập ở một địa điểm khác.

Khả năng chống phishing của U2F đã được chứng minh tại Google. Sau khi triển khai thiết bị token bảo mật theo tiêu chuẩn U2F cho hơn 85 nghìn nhân viên, Google không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào bị chiếm tài khoản trong gần 2 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian đăng nhập giảm được 2/3 vì người dùng chỉ cần nhấn vào nút bấm trên token thay cho việc nhập một đoạn mã, số lỗi đăng nhập giảm xuống là 0, thời gian hỗ trợ các vướng mắc của người dùng trong quá trình đăng nhập giảm hàng ngàn giờ, giúp Google tiết kiệm đáng kể chi phí.

Tuy giá của token U2F không rẻ nhưng một token có thể dùng chung cho nhiều dịch vụ khác nhau và các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng sẽ không phải tốn tiền cho những khách hàng đã có token U2F. Dù có thể dùng một token U2F để xác thực cho nhiều dịch vụ khác nhau nhưng việc đánh mất token U2F không làm lộ bất kỳ tài khoản nào. Chủ tài khoản chỉ cần xóa nó khỏi danh sách thiết bị xác thực đăng ký với dịch vụ trực tuyến. Người nhặt được token U2F không thể biết nó được liên kết với các tài khoản nào và thậm chí có thể dùng ngay token đó để bảo vệ các tài khoản của mình. Hơn thế, vì U2F là chuẩn mở nên khi các công ty sản xuất token U2F ngày càng nhiều thêm thì giá cả sẽ giảm thêm. Ngay tại Việt Nam, cũng đã có đơn vị sản xuất token U2F. Tháng 8/2018, Liên minh Xác thực FIDO (FIDO Alliance) có trụ sở tại bang California, Hoa Kỳ, đã cấp chứng nhận cho sản phẩm KeyPass U2F Token của Công ty Cổ phần Tập đoàn MK (MK Group) đạt tiêu chuẩn U2F.

WebAuthn và xác thực không dùng mật khẩu

Ngày 20/11/2018, Microsoft thông báo rằng 800 triệu chủ tài khoản Microsoft có thể đăng nhập vào các dịch vụ như Outlook, Office, Skype và Xbox Live mà không cần mật khẩu. Thông báo này là một phần của quá trình tăng tốc để tiến tới một thế giới mạng không dùng mật khẩu, trong một năm mà Mozilla Firefox, Google Chrome và Microsoft Edge đều triển khai hỗ trợ công nghệ xác thực chủ chốt WebAuthn.

Một trong những lý do khiến mật khẩu tồn tại trong một thời gian rất dài là nó cực kỳ dễ hiểu. Trong khi đó, xác thực không mật khẩu hoạt động theo một cách khác, không dễ để hình dung và đi kèm với một loạt các thuật ngữ và tiêu chuẩn mới như FIDO2, WebAuthn và CTAP. Hơn thế, nó rất dễ bị hiểu nhầm, nhất là với những người đã quen với việc sử dụng mật khẩu. Họ nghĩ rằng nếu sử dụng vân tay để đăng nhập vào một trang web nghĩa là chia sẻ dữ liệu vân tay với trang web đó (trong khi điều này hoàn toàn không xảy ra). Vì thế, họ nghĩ rằng, tuy mật khẩu dễ bị lộ, nhưng ít nhất vẫn có thể thay đổi được (trong khi không thể thay đổi vân tay).

Để giải mã câu chuyện hoang đường này, hãy cùng xem xét vấn đề một cách cụ thể. Khi bạn đăng ký với một website, bạn phải báo cho nó biết bạn dùng tên đăng nhập nào và chọn mật khẩu là gì. Và một khi bạn đã chia sẻ mật khẩu với website, bạn buộc phải tin rằng nó sẽ lưu trữ mật khẩu của mình theo cách an toàn. Người dùng không có cách nào kiểm soát được cách quản lý mật khẩu của nhà cung cấp dịch vụ. Và thực tế họ thực hiện điều đó thế nào thì những ai chịu khó theo dõi tin tức đều đã biết rằng, các vụ để lộ mật khẩu của người dùng liên tiếp xảy ra, kể cả với những công ty lớn và có danh tiếng. Trong khi đó, với xác thực không dùng mật khẩu, người dùng không phải chia sẻ mật khẩu hay bất kỳ thông tin bí mật nào với các website. Vì kỹ thuật này sử dụng mã hóa khóa công khai với một cặp khóa thì khóa bí mật do người dùng giữ và các website cung cấp dịch vụ chỉ nhận được khóa công khai. Vì khóa công khai không cần giữ bí mật nên người dùng sẽ không phải lo ngại việc website có giữ nó an toàn không, không lo bị lộ do các sự cố an toàn thông tin và thậm chí có thể thoải mái mang theo nó đi bất cứ đâu. Người dùng xác thực bản thân bằng cách dùng khóa bí mật để mã hóa một số ngẫu nhiên có giá trị rất lớn do website gửi tới. Website giải mã kết quả nhận được bằng khóa công khai và nếu kết quả của quá trình giải mã trùng với giá trị nó gửi tới người dùng thì nhà cung cấp dịch vụ có thể tin rằng người dùng đăng nhập chính là chủ sở hữu của khóa bí mật.

Tất nhiên, đó mới là lý thuyết. Còn trên thực tế, chúng ta sẽ cần tới một Authenticator để tạo và lưu trữ các khóa, cùng với một tập các quy tắc cho phép máy tính, trình duyệt và các website trao đổi thông tin và thực hiện quá trình xác thực. WebAuthn chính là tập các quy tắc đó, là giao diện lập trình ứng dụng mà các website và các trình duyệt sử dụng để xác thực với mã hóa khóa công khai thay cho mật khẩu. Tất cả các trình duyệt chính trên thị trường đã biết cách làm việc với WebAuthn, việc còn lại là những người chủ các website thay đổi mã lệnh của họ. Thay vì đưa ra biểu mẫu đăng nhập với tên người dùng và mật khẩu, các website có thể xác thực người dùng bằng mã lệnh JavaScript nhúng trong các trang web. Đoạn mã đó dùng WebAuthn API để yêu cầu trình duyệt tạo thông tin đăng nhập khi người dùng muốn đăng ký dịch vụ hay nhận thông tin đăng nhập khi người dùng cần truy cập dịch vụ. Tuy mã lệnh JavaScript được tải xuống cùng với trang web và chạy trên trình duyệt của người dùng nhưng nó vẫn được coi là một phần của website nên nó không được tin cậy (cho phép truy xuất khóa bí mật hay bất kỳ thông tin bí mật nào khác của người dùng). Thay vào đó, mã lệnh JavaScript sẽ đóng vai trò đứng giữa, yêu cầu trình duyệt thực hiện các thao tác bí mật và sau đó, chuyển thông tin qua lại giữa trình duyệt và máy chủ web. Bản thân trình duyệt cũng chỉ nhận các yêu cầu chứ không thực sự xử lý các thao tác đó. Authenticator mới chính là nơi thực hiện các thao tác bí mật.

Theo thiết kế, website mà bạn đăng nhập/đăng ký sử dụng dịch vụ không cần biết và không quan tâm việc người dùng lưu giữ khóa bí mật của họ như thế nào. Người dùng có thể sử dụng bất cứ thứ gì phù hợp với mình, đó có thể là công cụ được dựng sẵn trong hệ điều hành, chẳng hạn như tính năng nhận diện khuôn mặt Microsoft Windows Hello, hay một authenticator từ xa như điện thoại di động hay một thiết bị bảo mật.

Để hỗ trợ nhiều loại hình authenticator từ xa khác nhau, những nhà cung cấp chính cần thống nhất về một tập luật cách các trình duyệt và các authenticator nói chuyện với nhau. Tập luật đó sẽ giúp các trình duyệt không phải biết hay quan tâm đến các kiểu authenticator khác nhau, các nhà sản xuất hay các phiên bản khác nhau, do đó, cho phép các công ty cung cấp các giải pháp xác thực mới tham gia vào thị trường. Tập luật đó có tên là CTAP (Client to Authenticator Protocol), định nghĩa cách một clien như trình duyệt nói chuyện với một authenticator từ xa qua cổng USB, Bluetooth hay NFC (Near-field Communication).


Authenticator cung cấp dịch vụ mật mã học cho toàn bộ giao dịch, sinh và lưu trữ khóa của người sử dụng, mã hóa dữ liệu kiểm tra mà website gửi tới cho trình duyệt. Và điều tối quan trọng là authenticator phải xin phép người dùng trước khi thực hiện các thao tác đó. Chẳng hạn như khi người dùng đăng nhập vào một website bằng dấu vân tay. Khi bạn truy cập website, trình duyệt sẽ yêu cầu trang đăng nhập. Mã lệnh của trang đăng nhập sử dụng API của WebAuthn API để yêu cầu trình duyệt ký một thông tin kiểm tra bằng khóa bí mật của người dùng. Trình duyệt chuyển thông tin đó tới authenticator và nó sẽ đề nghị người dùng cấp quyền ký, người dùng chấp thuận bằng việc đặt ngón tay vào thiết bị đọc vân tay. Authenticator kiểm tra thấy vân tay đúng là của bạn và ký thông tin kiểm tra rồi gửi lại dữ liệu mã hóa cho trình duyệt để chuyển tiếp cho mã lệnh JavaScript, từ đó, dữ liệu mã hóa lại được gửi đến máy chủ của website. Máy chủ giải mã bằng khóa công khai mà người dùng đã cung cấp khi đăng ký dịch vụ và xác nhận người dùng là hợp lệ.

Tuy các công việc hậu trường của quá trình này phức tạp hơn rất nhiều so với việc gửi mật khẩu tới cho website nhưng người dùng không cần làm gì. Họ không phải gõ hay nhớ một thứ gì. Họ chứng minh tư cách sử dụng dịch vụ của mình mà không phải lộ bất cứ thông tin bí mật nào và có thể thoải mái chuyển sang sử dụng một loại authenticator mới, an toàn hơn và thậm chí không dùng đến vân tay nữa.

Xác thực người dùng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam

Ngay từ ngày 31/3/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định số 630/QĐ-NHNN về kế hoạch áp dụng giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng. Theo đó, các giao dịch được phân loại và phải áp dụng giải pháp xác thực tối thiểu căn cứ theo phân loại; OTP gửi qua SMS chỉ có thể dùng cho các giao dịch loại B còn các giao dịch cao cấp hơn (loại C và loại D) sẽ phải xác thực bằng Soft OTP/Token OTP hoặc thiết bị U2F/UAF,...

Để tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước, ngày 01/7 vừa qua, nhiều ngân hàng như BIDV, Vietcombank, VPBank đã chuyển đổi bắt buộc phương thức xác thực chuyển khoản trực tuyến đối với khách hàng cá nhân có hạn mức lớn và với khách hàng doanh nghiệp. Soft OTP (hay Smart OTP - theo cách đặt tên của một số ngân hàng) giúp ngân hàng đảm bảo an toàn giao dịch mà không phải phụ thuộc vào khả năng kiểm soát SIM của các nhà mạng nhưng mức độ an toàn của nó có lẽ vẫn còn là một dấu hỏi. Thuật toán sinh số ngẫu nhiên của họ có tốt không, ứng dụng di động của họ đã được chống dịch ngược chưa, đã kiểm tra tính toàn vẹn của hệ điều hành di động chưa (chống root/jail break), họ lưu các thông tin quan trọng phục vụ việc sinh OTP ở đâu,... Nếu không làm tốt các khâu đó và để mã xác thực bị tin tặc đọc được một cách tự động/tìm ra cách sinh OTP, Soft OTP hoàn toàn có thể bị biến thành “No OTP” và khiến cho độ an toàn của các giao dịch ngân hàng trực tuyến giảm đi.


Để tránh việc phải tự đảm bảo/kiểm tra mức độ an toàn của Soft OTP, các ngân hàng có thể tìm hiểu và áp dụng các kỹ thuật xác thực mới như U2F hay WebAuthn từ các nhà cung cấp tin cậy. Trước đây, chủ các website còn phải đắn đo về chi phí mua token U2F cho khách hàng và lo ngại việc các nhà cung ứng dịch vụ khác có thể sử dụng token đó miễn phí. Nhưng đến nay, với việc những chiếc điện thoại Android chạy phiên bản 7.0 trở lên có thể được dùng như một token U2F độc lập thì khả năng ứng dụng U2F đã tăng lên rất nhiều, với chi phí gần như bằng không (vì hầu hết khách hàng sử dụng dịch vụ internet banking đều đã sử dụng điện thoại thông minh đời mới). Khách hàng sử dụng Windows 10 có thể dùng Windows Hello để xác thực bằng tính năng nhận diện khuôn mặt, mống mắt hoặc vân tay một cách an toàn, tiện lợi và việc cung cấp tính năng xác thực cao cấp cho khách hàng VIP sẽ giúp họ giao dịch một cách tự tin hơn đồng thời nâng cao hình ảnh của ngân hàng trong mắt những khách hàng “giá trị cao” này.

Tài liệu tham khảo:

- https://www.yubico.com

- https://krebsonsecurity.com

- https://fidoalliance.org

- https://vnhacker.blogspot.com

- https://vnexpress.net

- https://medium.com.

(Theo TCNH chuyên đề Tin học Ngân hàng số 8/2019)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Xem thêm
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng