Bàn về quy định cung cấp thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng cho cơ quan thuế

Nghiên cứu - Trao đổi
Tóm tắt: Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng luôn là chủ đề gây tranh cãi, đặc biệt là liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế mà không có sự can thiệ...
aa

Tóm tắt: Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng luôn là chủ đề gây tranh cãi, đặc biệt là liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế mà không có sự can thiệp của cơ quan tư pháp.

Bài viết đề cập đến cơ sở lý luận của việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế, xem xét lại giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ này, đưa ra một vài khuyến nghị nhằm bảo đảm quyền được bảo mật thông tin khách hàng, quyền của người nộp thuế trong sự hài hòa với nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế.

Từ khóa: Bảo mật, ngân hàng, cung cấp thông tin, khách hàng, cơ quan thuế.



Nhiều chủ tài khoản còn băn khoăn về quy định ngân hàng chuyển thông tin khách hàng cho cơ quan thuế

1. Cơ sở lý luận của việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế

Theo Báo cáo Cải thiện tiếp cận thông tin cho mục đích thuế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm 2020, việc không đủ khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng là một trở ngại đối với việc quản lý thuế và thực thi pháp luật1. Theo công bố của tổ chức Mạng lưới pháp lý thuế quan (TJN) ngày 20/11/2020, mỗi năm, các quốc gia đang mất tổng cộng hơn 427 tỷ USD tiền thuế do tình trạng lạm dụng thuế doanh nghiệp quốc tế và trốn thuế tư nhân2.

Thật vậy, trong hoạt động ngân hàng, song hành cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là sự gia tăng các giao dịch quốc tế, điều này gây ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế. Việc từ chối cơ quan thuế truy cập thông tin ngân hàng có thể phát sinh những hậu quả bất lợi trong nước và quốc tế. Trong nước, điều này có thể cản trở khả năng của cơ quan thuế trong việc xác định và thu đúng số tiền thuế. Đồng thời, việc này cũng có thể thúc đẩy sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế bởi một số người nộp thuế sẽ sử dụng nguồn lực về công nghệ và tài chính để trốn thuế thông qua các giao dịch với các tổ chức tài chính ở những quốc gia có quy định về bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng đối với cơ quan thuế. Rõ ràng là, sự gia tăng các giao dịch tài chính của khách hàng với các tổ chức tài chính của nhiều nước trên thế giới do những tiến bộ của công nghệ gây ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế. Điều này cũng làm sai lệch việc phân bổ gánh nặng thuế và có thể dẫn đến “sự thất vọng” về tính công bằng của hệ thống thuế.

Việc thiếu khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các kế hoạch rửa tiền đạt được những thành công thông qua việc xử lý số tiền thu được từ tội phạm ngụy tạo nguồn gốc bất hợp pháp qua hệ thống ngân hàng. Thông qua hệ thống ngân hàng, các kỹ thuật rửa tiền cũng được sử dụng để che giấu thu nhập chịu thuế bất hợp pháp và hợp pháp từ cơ quan thuế. Điều này cũng thúc đẩy sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế tuân thủ luật thuế và những người tìm cách tránh thuế, trốn thuế. Tương tự, sự bình đẳng ​giữa những người nộp thuế bị bóp méo bởi những người nộp thuế tuân thủ sẽ có thu nhập sau thuế thấp hơn những người có thể che giấu thu nhập của mình thông qua các việc lợi dụng sự bảo mật thông tin khách hàng.

Hơn nữa, nếu cơ quan thuế không có quyền yêu cầu cung cấp thông tin ngân hàng sẽ làm giảm đáng kể nguồn thu từ thuế, các chính phủ sẽ phải cân nhắc để quyết định xem liệu có nên giảm các dịch vụ mà họ cung cấp hay phải thu phí tăng lên do vay vốn để tài trợ cho việc cung cấp các dịch vụ đó. Thiếu tiếp cận thông tin ngân hàng có thể làm tăng chi phí quản lý thuế và chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Trên bình diện quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng đầy đủ cho mục đích thuế có thể cản trở hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến thuế, từ đó có thể dẫn đến hành động đơn phương của quốc gia tìm kiếm thông tin ngân hàng, gây thiệt hại cho khách hàng và nền tài chính quốc gia.

Việc từ chối cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế cũng có thể dẫn đến việc không tuân thủ thuế tự nguyện nhất là khi ngày càng có nhiều cá nhân nhận thu nhập từ dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Google, Yahoo, Youtube hoặc kinh doanh thương mại điện tử qua các sàn thương mại điện tử như: Amazon, Lazada, Tiki, Shopee,… Doanh thu của các dịch vụ quảng cáo trực tuyến, bán hàng trực tuyến có thể sẽ không được khai báo hoặc khai báo không đúng với thực tế, các dữ liệu giao dịch có thể bị sửa đổi hoặc xóa bỏ sau khi thực hiện. Trốn thuế đang diễn ra phổ biến trên tất cả các lĩnh vực, gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân sách Nhà nước.

Với những tác động như vậy, nhiều nước đã quy định việc cải thiện tiếp cận thông tin khách hàng cho mục đích thuế. Ngày càng nhiều nước công nhận rằng, việc cho phép thuế hay các cơ quan chức năng truy cập thông tin ngân hàng cho các mục đích thuế có khả năng tăng cường việc thực thi pháp luật có liên quan. Việc truy cập vào hồ sơ ngân hàng tạo điều kiện cho các cuộc điều tra của Chính phủ là cần thiết để ngăn chặn các tội phạm tài chính như gian lận, trốn thuế, rửa tiền.

2. Cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế liệu có vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Ngân hàng có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của mình, không được để cho thông tin về cuộc sống riêng tư cá nhân, tài chính của khách hàng bị chủ thể khác tự do tiếp cận, khai thác nếu những thông tin mà ngân hàng có được do khách hàng cung cấp hoặc thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch, cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở hợp đồng giữa khách hàng với các ngân hàng. Nghĩa vụ này được hình thành dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư của cá nhân, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và nguyên tắc thiện chí, trung thực trong luật về hợp đồng, pháp luật về đại lý. Đây là nghĩa vụ mà các ngân hàng phải triệt để tuân thủ. Bảo mật thông tin khách hàng góp phần khuyến khích mọi người gửi tiền vào các ngân hàng. Ngân hàng khi thực hiện tốt nghĩa vụ này sẽ tạo lập được niềm tin của khách hàng, từ đó giúp ngân hàng có thể tránh được các rủi ro pháp lý, hoạt động kinh doanh ngân hàng sẽ đạt được hiệu quả, kích thích sự phát triển của ngành dịch vụ tài chính, sự phát triển của nền kinh tế.

Sự phát triển của khoa học công nghệ thời gian qua đã tạo nhiều thuận lợi cho khách hàng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nhưng bên cạnh sự thuận lợi đó là những rủi ro và cơ hội gian lận phát sinh. Chẳng hạn, việc khách hàng lợi dụng các quy định bảo mật để thực hiện việc che giấu tội phạm và hành vi sai trái như thực hiện các giao dịch liên quan đến tài trợ khủng bố, mua bán ma túy, rửa tiền, trốn thuế… điều này gây nhiều bất lợi cho xã hội. Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng đặt trước nhiều thách thức, câu hỏi đặt ra là có nên mở rộng khả năng tiếp cận thông tin khách hàng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không?

Nhà nước với tư cách là người đảm nhận chức năng bảo đảm tính có tổ chức của xã hội, có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện quyền được bảo mật thông tin của công dân trong khuôn khổ trật tự xã hội. Tuy nhiên, khi cần thiết để bảo vệ an ninh công cộng, an toàn và phúc lợi chung, thì Nhà nước quyết định cần hạn chế đối với những gì mà mình bảo vệ và đương nhiên cần có sự cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền tư nhân, quyền dân sự. Điều này đã được khẳng định tại Điều 8 Công ước về bảo vệ Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản năm 1950: “Mọi người đều có quyền được tôn trọng đời sống riêng tư và gia đình, nơi cư trú và thư từ” và “cơ quan công quyền có thể có sự can thiệp tới việc thực hiện quyền này chỉ khi sự can thiệp này được luật dự liệu và là một biện pháp trong một xã hội dân chủ và cần thiết cho an ninh quốc gia, an toàn công cộng hoặc vì sự thịnh vượng của đất nước với mục đích ngăn ngừa sự hỗn loạn hoặc tội phạm, bảo vệ sức khỏe hoặc các giá trị đạo đức hoặc bảo vệ quyền và sự tự do của các chủ thể khác”.

Ngày nay, hầu hết các nước đều thống nhất rằng, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng không phải là tuyệt đối. Chẳng hạn, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin của khách hàng có thể được tiết lộ trong các trường hợp sau: (i) theo yêu cầu của pháp luật (khi các điều khoản theo luật định yêu cầu công bố); (ii) khi có lợi ích quan trọng hơn (có thể là lợi ích riêng tư hay lợi ích công cộng); (iii) khi có sự đồng ý của khách hàng3.

Tại Anh, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng được đề cập trong án lệ Tournier. Theo đó, đây là nghĩa vụ được xác định mặc nhiên giữa ngân hàng với khách hàng, song, không phải là tuyệt đối. Án lệ Tournier đã xác định bốn điều kiện đi kèm nghĩa vụ này, đó là: (i) việc công bố thông tin theo yêu cầu của pháp luật; (ii) nhiệm vụ phải công bố công khai; (iii) các lợi ích của ngân hàng yêu cầu công bố thông tin; (iv) việc công bố được thực hiện bởi sự đồng ý rõ ràng hay ngụ ý của khách hàng4.

Tại Singapore, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng được quy định tại Điều 47 Luật Ngân hàng Singapore năm 1970, sửa đổi, bổ sung năm 2018 như sau: “Thông tin khách hàng của ngân hàng sẽ không bị tiết lộ bởi ngân hàng hoặc bất kỳ nhân viên nào của ngân hàng tại Singapore, ngoại trừ được quy định rõ ràng trong Đạo luật này”. Phụ lục thứ ba của Đạo luật này quy định các trường hợp cung cấp thông tin khách hàng, chẳng hạn nếu không có sự đồng ý của khách hàng, các ngân hàng được thành lập tại Singapore hoặc các ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Singapore không được tiết lộ thông tin của khách hàng với bên thứ ba trừ khi có lệnh của tòa án hoặc bảo vệ lợi ích của ngân hàng5.

Có thể thấy, hầu như các nước đều có quy định về giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong các trường hợp: (i) nếu khách hàng đồng ý; (ii) theo yêu cầu của pháp luật;(iii) vì lợi ích công cộng hay lợi ích chung; (iv) vì lợi ích chính đáng của ngân hàng.

Với những tác động bất lợi của việc hạn chế khả năng tiếp cận thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế đối với nền kinh tế quốc gia cũng như thế giới, nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế là một trong các giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng.

3. Quy định của pháp luật về cung cấp thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng cho cơ quan thuế tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 “TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (CNNHNNg) phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg. TCTD, CNNHNNg không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Các TCTD về nghĩa vụ bảo mật và cung cấp thông tin khách hàng, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg (Nghị định số 117/2018/NĐ-CP) cũng đã quy định: “Thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật Các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Cũng theo điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP “TCTD, CNNHNNg chỉ được cung cấp thông tin khách hàng cho tổ chức khác, cá nhân thuộc trường hợp có quy định cụ thể tại bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội”.

Cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan quản lý thuế đã được quy định tại Điều 9 Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012. Hiện nay, nội dung này được quy định tại Điều 19 Luật Quản lý thuế năm 2019, cụ thể: Cơ quan quản lý thuế6 có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế theo quy định của pháp luật; ấn định thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. Đồng thời, pháp luật hiện hành cũng quy định rõ nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở tài khoản7; cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan quản lý thuế8; khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam; trích tiền để nộp thuế từ tài khoản của người nộp thuế, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế9.

Nội dung này đã được quy định cụ thể hóa tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế. Cụ thể: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn NHTM, TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép trong việc kết nối, cung cấp thông tin với cơ quan quản lý thuế liên quan đến giao dịch qua ngân hàng của tổ chức, cá nhân và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế;…”10. Bên cạnh đó, Nghị định cũng hướng dẫn cụ thể hơn trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản của khách hàng mở tại các ngân hàng cho cơ quan thuế, theo đó: (i) Theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, NHTM cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế bao gồm: Tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo Mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản. Việc cung cấp thông tin về tài khoản theo điểm a khoản này được thực hiện lần đầu trong thời gian 90 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Việc cập nhật các thông tin về tài khoản được thực hiện hàng tháng trong 10 ngày của tháng kế tiếp. Phương thức cung cấp thông tin được thực hiện dưới hình thức điện tử. (ii) NHTM cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch theo đề nghị của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế để phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế11.

Có thể thấy, các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến việc cung cấp thông tin cho cơ quan thuế đã xác định rõ chủ thể có nghĩa vụ phối hợp và chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan quản lý thuế theo luật định.

Việc cung cấp thông tin khách hàng của các NHTM cho cơ quan quản lý thuế thuộc các giới hạn luật định của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng. Việc cung cấp thông tin trong trường hợp này là nhằm thực thi hoạt động quản lý nhà nước, do đó, các ngân hàng phải có nghĩa vụ tuân thủ. Tuy nhiên, việc xác định người đại diện có thẩm quyền của cơ quan thuế có quyền yêu cầu NHTM cung cấp thông tin của khách hàng, các trường hợp cơ quan này được tiếp cận thông tin khách hàng, phạm vi, mục đích sử dụng thông tin khách hàng… cần phải được quy định một cách chặt chẽ.

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP hướng dẫn về việc cung cấp thông tin khách hàng của các TCTD thì chủ thể được quyền ký văn bản yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng đã mở rộng ra tối đa. Liên quan đến việc cung cấp thông tin cho cơ quan thuế, có các chức danh sau: Tổng Cục trưởng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế; Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh tra Tổng cục Thuế; Cục Trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thuế; Chi Cục trưởng, Phó Chi Cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế có quyền ký văn bản yêu cầu các ngân hàng cung cấp thông tin về tài khoản và các giao dịch khác của khách hàng, nhưng không hướng dẫn cụ thể về phạm vi, thẩm quyền theo phân cấp khi yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng của họ. Điều này có thể sẽ tạo ra một sự “bất an” cho khách hàng. Do vậy, để đảm bảo hài hòa quyền được bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng, quyền của người nộp thuế và nghĩa vụ của ngân hàng trong việc cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế nhằm thực thi quy định pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến việc thu thuế thì:

Thứ nhất, pháp luật phải quy định rõ ràng đối tượng, tiêu chí khách hàng mà ngân hàng phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế, từ đó xác định rõ phương thức cung cấp, quy trình phê duyệt của cơ quan thuế khi yêu cầu NHTM cung cấp thông tin khách hàng. Đây là nội dung quan trọng bởi nếu pháp luật chỉ ghi nhận NHTM có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho cơ quan thuế có thể dẫn đến “lạm quyền” và “gây ra những lo lắng từ phía khách hàng”, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Thứ hai, cần quy định rõ cơ chế giải quyết khi có mâu thuẫn trong việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng. Trường hợp giữa TCTD và cơ quan quản lý thuế có bất đồng về việc cung cấp thông tin khách hàng thì sẽ được giải quyết theo cơ chế pháp lý nào? Ví dụ, thời hạn cung cấp thông tin, phạm vi thông tin khách hàng của các NHTM cần phải cung cấp cho cơ quan quản lý thuế theo quy định nội bộ của ngân hàng hay theo quyết định của cơ quan thuế.

Thứ ba, quy định rõ cơ chế giải quyết khiếu nại, bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp làm lộ thông tin khách hàng, bởi việc khách hàng đi tìm các chứng cứ liên quan đến chủ thể làm lộ thông tin khách hàng được cung cấp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhau là điều không dễ dàng.

Thứ tư, cần quy định chế tài cụ thể nhằm xử lý các hành vi cung cấp thông tin, yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng không đúng thẩm quyền, hoặc làm lộ các thông tin của khách hàng trong quá trình thực hiện các quy định về cung cấp thông tin khách hàng cho các cơ quan thực thi pháp luật về thuế.

1 OECD (2000), Improving Access to Bank Information for Improving Access to Bank Information for Tax Purposes Tax Purposes, https://www.oecd.org/ctp/exchange-of-tax-information/2497487.pdf

2 TTXVN, Nạn trốn thuế khiến thế giới thiệt hại khoảng 427 tỷ USD/năm, https://vtv.vn/kinh-te/nan-tron-thue-khien-the-gioi-thiet-hai-khoang-427-ty-usd-nam-2020112011424309.htm

3 Sandra Booysen, Dora Neo (2017), “Can Banks Still Keep a Secret? Bank secrecy in Financial Centres around the World”, Cambridge University Press, tr.317.

4 Sandra Booysen, Dora Neo (2017), Tlđd, tr.342.

5 Yun Hui Tan, Banking secrecy in Singapore, DENTONS RODYK (Sept. 2014),

6 Cơ quan quản lý thuế gồm: Cơ quan thuế bao gồm Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế, Chi cục Thuế khu vực; Cơ quan Hải quan bao gồm Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục Hải quan. (Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý thuế năm 2019).

7 Điều 27 Luật Quản lý thuế năm 2019.

8 Điểm a khoản 2 Điều 98 Luật Quản lý thuế năm 2019.

9 Điều 27 Luật Quản lý thuế năm 2019.

10 Điểm a5, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý thuế.

11 Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý thuế.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Luật Các TCTD năm 2010.

2. Luật Quản lý thuế năm 2019.

3. Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg.

4. Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.

5. Một số tài liệu liên quan khác.


TS. Nguyễn Thị Kim Thoa

Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành