Bản lĩnh chính trị của nhà báo trong bối cảnh bùng nổ truyền thông và toàn cầu hóa - vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo

Kinh tế - xã hội
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là sự thể hiện tính giai cấp, “tính Đảng” trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; là luôn “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; là “phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân.
aa

1. Bản lĩnh chính trị và yêu cầu nghề nghiệp của nhà báo chân chính

Bản lĩnh chính trị là sự kiên định, khả năng độc lập suy nghĩ, quyết định và hành động, là sự cụ thể hóa bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất giai cấp công nhân, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người; là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; là phần cốt lõi, cơ bản nhất, là phẩm chất quan trọng cần phải có hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên; là tinh thần, ý chí quyết tâm phấn đấu, vượt mọi gian khổ và không dao động trước những thử thách, áp lực để hoàn thành nhiệm vụ. Đó còn là tinh thần chủ động trong đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động của chúng, phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…


Phóng viên tác nghiệp tại bệnh viện đưa tin về công tác phòng, chống dịch Covid-19. (Nguồn Internet)

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là sự thể hiện tính giai cấp, “tính Đảng” trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; là luôn “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; là “phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đó là phẩm chất cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó đảm bảo cho sự thắng lợi của Đảng, của giai cấp, của nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.354 và t.11, tr.611).

Bản lĩnh chính trị của nhà báo thể hiện ở sự vững vàng trong quan điểm, lập trường chính trị, sự kiên định, ý chí trung thành với lý tưởng mà mình đã chọn và tin yêu; sự kết tinh các phẩm chất tâm lý tích cực, tốt đẹp thể hiện ở nhận thức, hành vi, lối sống, sự tôn trọng chuẩn mực “chân, thiện, mỹ” để ứng xử một cách độc lập, sáng tạo trong đời sống chính trị - xã hội và hoàn thành những yêu cầu mà xã hội đặt ra, được cộng đồng và xã hội thừa nhận.

Ngày 25/5/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư “Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ”, trong đó Người nhấn mạnh nhiệm vụ và mục tiêu lớn mà Chính phủ cùng toàn thể đồng bào đồng tâm thực hiện là “…Kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà… để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”; đối với các nhà báo, Người khẳng định “Ngòi bút của các bạn là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”…

Người là một nhà báo tài năng và bản lĩnh chính trị gắn chặt với sự nghiệp cách mạng mà Người suốt đời phụng sự. Tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 06/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là “đề tài” thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: Chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sử dụng báo chí như là một phương tiện hữu hiệu để tuyên truyền, giác ngộ và vận động quần chúng; bản thân Người là tấm gương làm báo sáng ngời, là người thầy của đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam. Với Người, viết báo và làm báo là “công tác cách mạng” để “phụng sự Tổ quốc”, “phụng sự nhân dân”, “phụng sự giai cấp và nhân loại”.

Để hoàn thành nhiệm vụ chiến sĩ cách mạng vẻ vang, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các nhà báo không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt, đặc biệt là trình độ chính trị; hòa mình vào đời sống của quần chúng nhân dân để viết cho đúng với tâm trạng, nhu cầu và nguyện vọng của họ. Quần chúng nhân dân là đối tượng cung cấp thông tin cho báo chí, đối tượng tiếp nhận thông tin báo chí, đồng thời cũng là đối tượng thẩm định chất lượng tác phẩm báo chí. Về nội dung phản ánh của báo chí cách mạng, Người chỉ rõ: "Viết để nêu những cái hay, cái tốt..., đồng thời để phê bình những khuyết điểm”. Hình thức diễn đạt, phương pháp thể hiện, cách trình bày, kết cấu tác phẩm báo chí phải trong sáng, dễ hiểu và tránh cầu kỳ. "Viết sao cho giản đơn, dễ hiểu, thiết thực. Sao cho mỗi đồng bào, mỗi chiến sĩ đều đọc được, hiểu được, nhớ được, làm được".

Người căn dặn các nhà báo cách mạng cần suy nghĩ kỹ, tự đặt câu hỏi và tự trả lời cho rõ rồi hãy làm, đó là: Viết và nói về cái gì? Viết và nói để làm gì? Viết và nói cho ai? Viết và nói như thế nào? Tại Đại hội lần thứ ba Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 08/9/1962, Người chỉ rõ: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trong điện mừng Hội Nhà báo Á - Phi, ngày 24/4/1965, Người nhấn mạnh “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”.

Trong bài “Cần phải xem báo Đảng” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 24/6/1954, Người chỉ rõ: “Tờ báo Đảng như là những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết, làm về tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta”. Người đặc biệt quan tâm tới vai trò của báo chí và nhà báo trong việc định hướng dư luận, cổ vũ cái tốt, phê phán cái xấu, giáo dục nhận thức, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, củng cố niềm tin và thúc đẩy quần chúng trong mọi hoạt động sáng tạo để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị trong tiến trình đấu tranh cách mạng, “Mỗi người tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc là một vườn hoa đẹp”. “Phải làm cho cái hay, cái tốt này nở như hoa mùa xuân, cái xấu, cái dở sẽ mất dần đi”. Coi trung thực là một tiêu chuẩn đạo đức rất quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp báo chí, Bác từng căn dặn những người làm báo: “Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật. Không được bịa ra”, và “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Để chỉ rõ tính chính xác khi viết, Bác lấy ví dụ: “Chống tham ô, lãng phí thì nêu rõ ai tham ô, ai lãng phí? Cơ quan nào tham ô? Lãng phí như thế nào? Ngày tháng nào… Chớ viết lung tung”. Nói cách khác, Bác luôn đòi hỏi trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của các nhà báo là phải đưa tin, phân tích, bình luận các sự kiện chân thực, khách quan, tôn trọng sự thật và đem lại lợi ích cho công chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắn nhủ những người làm báo “phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản...”, “Tất cả những người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ, đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng”. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về bản lĩnh chính trị của người làm báo, với phẩm chất trung thực và cương trực, khiêm tốn và tận tụy, trách nhiệm với công việc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, không để tính tham, lòng tham, những cám dỗ vật chất tầm thường bủa vây…

Trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo trong nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa hiện nay đã được Hội Nhà báo Việt Nam cụ thể hóa 10 điều quy định đạo đức của người làm báo. Có thể xem đây là bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp, mang tính dẫn dắt, hướng dẫn, đòi hỏi mỗi người làm báo phải luôn tuân thủ bằng cả lương tâm và trách nhiệm của mình.

Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của công việc và uy tín của mỗi người làm báo luôn phụ thuộc vào sự kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, trình độ chuyên môn, đạo đức và sự say mê nghề nghiệp, cũng như khả năng nhạy bén nắm bắt và thâm nhập thực tiễn. Về tổng thể, chất lượng thông tin báo chí đem lại cho xã hội tùy thuộc vào bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, năng lực nghiệp vụ báo chí, chất lượng nguồn tin và biên tập tin, bài, hình thức thể hiện và chất lượng in ấn. Theo đó, người làm báo chân chính phải luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của bản thân; phải luôn gần gũi, sâu sát với đời sống của nhân dân, phản ánh đúng đắn những tâm tư, tình cảm, nhu cầu, lợi ích của nhân dân và đất nước. Đồng thời, nhà báo phải am hiểu pháp luật, gương mẫu chấp hành pháp luật cả trong cuộc sống, cũng như trong hoạt động báo chí.

Tóm lại, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, trách nhiệm xã hội và năng lực nghề nghiệp cao, hiểu biết và tuân thủ pháp luật là nền tảng vững chắc giúp nhà báo thực hiện tốt nhiệm vụ, bảo đảm thông tin nhanh chóng, chính xác, đủ liều lượng, đúng định hướng chính trị, với cách thức thông tin phù hợp, hiệu quả và có tác dụng định hướng, giáo dục tốt… để báo chí thực sự “là diễn đàn của nhân dân”, là kênh cung cấp thông tin cho các cơ quan Ðảng, chính quyền các cấp về các dư luận trong xã hội, về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo sự đồng thuận và xây dựng quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc,… xứng đáng với niềm tin và sự mong đợi của độc giả.

Thời đại bùng nổ thông tin và tác nghiệp trong cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, nhà báo phải đối mặt với muôn vàn thách thức: Từ sức ép cạnh tranh thông tin đến những cạm bẫy vật chất và tiêu cực xã hội. Đặc biệt, sự bùng nổ thông tin mạng và thời đại công nghệ số tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà báo trong quá trình tác nghiệp, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với người làm báo bởi sự tràn ngập các loại thông tin gây nhiễu loạn, khó kiểm chứng; trong đó có không ít những luồng thông tin xấu, độc. Điều đó buộc người làm báo phải tỉnh táo, có trách nhiệm, không vì đề cao tính thời sự mà bỏ qua tính chính xác, chân thực và nhân văn của mỗi thông tin đem đến cho bạn đọc; không được nóng vội để rồi thổi phồng sự thật, làm sai lệch bản chất sự việc chỉ với mục đích câu view, chạy theo lợi nhuận. Thông tin mà báo chí chân chính cung cấp phải đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống, tin vào sự nghiêm minh của pháp luật và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ đất nước, tương lai dân tộc.

Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, báo chí nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, cả về số lượng, chất lượng và loại hình. Đội ngũ những người làm báo ngày một đông đảo và hùng hậu. Trong những thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ những người làm báo, nhất là trong tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần điều chỉnh dư luận xã hội, đấu tranh và bài trừ sai trái, bảo vệ chân lý...

Tuy nhiên, trước xu hướng thương mại hóa báo chí, xuất hiện một bộ phận nhà báo thiếu bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và bán rẻ lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, chạy theo kiểu làm báo “lá cải”, câu khách một cách rẻ tiền theo kiểu “ăn sổi, cốt sao đánh đấm ra tiền,… đã làm nhiễu thông tin, suy giảm các giá trị xã hội về “chân, thiện, mỹ”, tự làm tổn thương mình và tổn thương uy tín danh hiệu nhà báo chân chính.

Đặc biệt, nguy hại hơn, xuất hiện tình trạng có một số nhà báo “hai mặt”: Khi viết bài đăng báo chính thống trong nước, họ viết một kiểu; ngược lại, khi tự đăng bài viết riêng trên các trang mạng hoặc báo chí nước ngoài, họ viết và thể hiện quan điểm, thái độ chính trị khác, thậm chí ngược lại với những gì họ đã thể hiện trước đó. Phải chăng đây không phải là một biểu hiện đặc thù cần nhận diện đầy đủ và phòng, chống nghiêm khắc của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp…?!

Nhà báo trong kỷ nguyên số và bùng nổ thông tin phải là những người đa năng và đa nhiệm, chuyên nghiệp ở tất cả các khâu trong quá trình thực hiện một tác phẩm báo chí, vừa là nhà báo viết, vừa là nhà báo ảnh, biết dựng video, làm infographic, biết sử dụng các thiết bị kỹ thuật đa phương tiện; có phông kiến thức văn hóa - xã hội vững chắc, nắm vững các kỹ năng sử dụng ngôn từ, hình ảnh, title… vừa theo chuẩn mực quy định, vừa có phong cách sáng tạo cá nhân đậm nét; liên tục trau dồi, tích lũy kiến thức chuyên sâu và có thể thực hiện tác nghiệp thành thạo trên nhiều công đoạn với tính độc lập rất cao để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; năng nổ và có ảnh hưởng xã hội ngày càng sâu, rộng.

Nhà báo trong kỷ nguyên số cần phải biết sử dụng và khai thác triệt để truyền thông xã hội phục vụ cho hoạt động của mình; biết thu hút sự hợp tác và cùng tham gia của công chúng, vừa là chủ thể, lại vừa là khách thể tiếp nhận, xử lý thông tin từ phía công chúng qua các trang mạng xã hội; nhạy bén và thành thạo kỹ năng phát hiện vấn đề, kỹ năng thu thập, khai thác, xử lý, kiểm chứng thông tin, giao tiếp tốt với nguồn tin, đồng nghiệp, với cấp trên và với công chúng. Phóng viên không chỉ thuần túy đưa tin tức, mà còn bình luận, phân tích, dự báo và đề xuất giải pháp, thể hiện cả quan điểm riêng và cung cấp cơ sở giúp bạn đọc có góc nhìn đa chiều hơn về vấn đề mà mình thông tin. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhà báo là hạt nhân để xây dựng nên tính chuyên nghiệp của báo chí hiện đại.

Đặc biệt, nhà báo cần thành thạo một ngoại ngữ thông dụng, nhất là tiếng Anh; có nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực về đạo đức nói chung, đạo đức nghề báo nói riêng; cũng như trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình; dũng cảm tuyên truyền, cổ vũ và bảo vệ cái tốt, cái đẹp, phản bác và diệt trừ cái xấu, cái ác; suy nghĩ và hành động trước hết vì lợi ích chung, góp phần làm cho quan hệ giữa người với người trong xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân văn hơn.

Nhà báo phải là những “nhà tư tưởng” có khả năng thuyết phục, những cây bút chính trị - xã hội sắc sảo. Nếu người làm báo mà tư cách đạo đức không tốt, có biểu hiện “hai mặt, hai lời, hai thái độ” bất nhất giữa viết báo và sống thực tế, giữa bài đăng báo chính thống với bài đăng mạng xã hội thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tín nhiệm của công chúng đối với bài viết của mình và đối với cả cơ quan báo chí.

2. Yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo nhà báo, phóng viên, biên tập viên

Bản lĩnh của nhà báo không phải tự nhiên mà có, mà nó được sinh ra từ sự học tập, rèn luyện nghiêm túc, khoa học của mỗi người cầm bút. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”. Bởi vậy, cần quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên.

Bản lĩnh chính trị của nhà báo phải bắt đầu ngay từ lúc học làm nghề báo. Do đó, trong hệ thống nhà trường, nhất là các nhà trường làm nhiệm vụ đào tạo ra những nhà báo trong tương lai, cần phải làm thật tốt việc giáo dục nhận thức về hệ giá trị chuẩn chung quốc gia và nhân loại, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội cho các sinh viên, nền tảng để hình thành bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp báo chí.

Các cơ quan báo chí cũng cần tăng cường công tác quản lý, trau dồi đạo đức về nghề, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên... để các nhà báo luôn có được lòng yêu nghề, thái độ chăm nghề, trọng nghề, bởi đây là cái gốc để sinh ra bản lĩnh chính trực của các nhà báo.

Đặc biệt, cần có sự phối hợp liên thông và liên kết đa tầng về hình thức và nội dung để tạo chuỗi đào tạo liên tục các nhà báo trên cơ sở sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đào tạo, sử dụng, các cơ quan quản lý báo chí và hội nhà báo…

Các cơ quan báo chí cần coi trọng hơn việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục bản lĩnh chính trị vững vàng và bản lĩnh nghề nghiệp cao cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên; chủ động nhận diện và phòng chống sự suy thoái trong chính nội bộ các cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa; bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí gắn liền với việc đảm bảo tôn chỉ, mục đích của các cơ quan báo chí.

Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cần coi trọng việc thường xuyên cập nhật kiến thức, đổi mới nội dung chương trình, tăng cường đào tạo kỹ năng cho các phóng viên, biên tập viên về viết tin, bài, chụp ảnh, quay video và biên tập trên điện thoại di động, sử dụng những ứng dụng truyền thông mới (new media) để tường thuật trực tiếp, truyền phát video trực tiếp (live streaming) cho tòa soạn hoặc lên thẳng website; tổ chức các cuộc tọa đàm, gặp gỡ, trao đổi giữa giới báo chí, các cơ quan quản lý báo chí và công chúng, cũng như phát triển các quan hệ toàn diện hơn giữa các cơ quan báo chí với các cơ sở đào tạo báo chí để nắm bắt kịp thời xu thế báo chí hiện đại, tăng cường kỹ năng chuyên nghiệp và năng lực công tác kiểm chứng thông tin để nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí và để báo chí chính thống mãi luôn là nguồn thông tin tin cậy với công chúng.

Trong quá trình bồi dưỡng và phát triển, tổ chức hoạt động của đội ngũ phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên báo chí, cần cảnh giác trước các biểu hiện và ý đồ chia rẽ khối đại đoàn kết, xa rời mục đích, tôn chỉ và thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong “làng báo” Việt Nam, gây chia rẽ, phân tâm, làm nhiễu loạn thông tin, thiếu sự đồng thuận trong xã hội.

Việc đào tạo và nâng cao chất lượng phóng viên, biên tập viên cần bám sát nhiệm vụ chính trị của báo chí, gắn với thực tiễn phong phú của đời sống báo chí, nắm bắt đúng, trúng nhu cầu kiến thức và kỹ năng trong hoạt động tác nghiệp của phóng viên, hoạt động quản lý tòa soạn và các vấn đề, các tình huống về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Hình thức đào tạo cần đa dạng, từ mở lớp đến tổ chức hội thảo, tọa đàm nghiệp vụ, tổ chức các giải báo chí. Bên cạnh các lớp bồi dưỡng từ 2 - 3 ngày, cần có nhiều hình thức mở lớp chuyên đề với thời gian ngắn (chỉ một buổi, một ngày), quy mô gọn ngay tại cơ quan báo chí. Hình thức này phù hợp với các nhà báo bận rộn về chuyên môn, ít có thời gian theo học.

Ban biên tập báo và Liên chi hội Nhà báo cần tăng cường phát hiện, tập hợp, đào tạo và trọng dụng những nhóm chuyên gia và cây bút chuyên sâu; tổ chức thường xuyên các hoạt động đào tạo chuyên môn, chính trị và nghiệp vụ báo chí, năng lực viết bài và chuyên môn sâu về chính trị, luật, kinh tế, xã hội, văn hóa … cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên; chủ động triển khai đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên có khả năng theo dõi diễn biến của lĩnh vực theo cả chiều rộng và chiều sâu, luôn cập nhật tình hình để có khả năng phát hiện, nắm bắt, khái quát nội dung các vấn đề cần thiết để hình thành đề tài, có khả năng kịp thời xử lý các đề tài thời sự; đồng thời, chủ động phát hiện nguồn phóng viên trẻ từ các sinh viên mới tốt nghiệp đại học, có khả năng đáp ứng công việc tuyển dụng để đào tạo, bồi dưỡng,… chuẩn bị lực lượng về lâu dài trong cơ cấu ở từng ban chuyên môn liên quan.

Đặc biệt, cần thành lập nhóm chuyên gia gồm các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các cây bút có uy tín, có trình độ, có tâm huyết, có khả năng viết, triển khai đề tài từ sự khảo sát và đề xuất của mỗi người, hoặc viết theo đề tài do Tòa soạn đề nghị; tập trung tìm cộng tác viên là những người có trình độ chuyên môn liên quan làm việc tại các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành, địa phương, các viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài nước… Đồng thời, xây dựng cơ chế đãi ngộ hấp dẫn và cơ chế hoạt động linh hoạt để vừa đáp ứng được nhiệm vụ tuyên truyền thường xuyên cũng như khi có việc đột xuất cần phản ứng nhanh, thực hiện một bài viết kịp thời trong thời gian sớm nhất có thể, hoặc một loạt bài, tuyến bài có tầm bao quát, có chiều sâu, tạo sức lan tỏa lớn, góp phần nâng cao tính thuyết phục trên các ấn phẩm.

Bên cạnh đó, các phóng viên, biên tập viên cần tự giác rèn luyện, đảm bảo sự tín nhiệm của công chúng và cả của cơ quan báo chí đối với bài viết của mình; thực hiện nghiêm 10 điều quy định về đạo đức, nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam; tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội; học tập, nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; tham dự các cuộc hội thảo nghiệp vụ do Ban chấp hành Liên Chi hội Nhà báo tổ chức; học hỏi nghiệp vụ chuyên môn qua công việc thực tế, học tập kinh nghiệm của những người đi trước. Cán bộ, công chức, viên chức đang giữ chức vụ và thuộc ngạch, chức danh nào phải đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn trình độ kiến thức quy định cho chức vụ và ngạch, chức danh đó. Kết quả học tập là một tiêu chí để xem xét trong việc khen thưởng theo các danh hiệu thi đua trong các đợt sơ kết, tổng kết hằng năm. Cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được cơ quan, đơn vị bố trí, sắp xếp thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập (dựa trên cơ sở quy chế định mức, định việc); hưởng nguyên tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp (nếu có). Cán bộ, công chức, viên chức, biên tập viên, phóng viên được cơ quan cử đi học được hỗ trợ kinh phí trong quá trình học tập. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, biên tập viên, phóng viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, thực hiện theo quy định của cơ sở đào tạo và các quy định của Đảng và Nhà nước. Cơ quan có chế độ hỗ trợ thêm cho những đồng chí trong thời gian công tác tự học để có bằng thạc sĩ, tiến sĩ.

Hằng năm, thủ trưởng các đơn vị căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh của cán bộ, công chức, viên chức và nhu cầu đào tạo cụ thể của đơn vị mình để xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng và hoàn thiện quy trình tuyển dụng tiên tiến, khoa học để lựa chọn được những người thực sự có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong trong công tác tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ.

TS. Nguyễn Minh Phong

BTV cao cấp, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên truyền lý luận
Thư ký Hội đồng khoa học nghiệp vụ - Báo Nhân Dân

ThS. Nghiêm Anh Thư
Đại học Ngoại thương Hà Nội

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
Xem thêm
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành