APEC - Vai trò và điểm nhấn mới trong hợp tác kinh tế

Nghiên cứu - Trao đổi
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) thành lập năm 1989, bao gồm 21 nền kinh tế trên vành đai châu Á - Thái Bình Dương.
aa

1. Vai trò và điểm nhấn mới trong hợp tác kinh tế của APEC

Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) thành lập năm 1989, bao gồm 21 nền kinh tế trên vành đai châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…) và 9 thành viên Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G20) cùng với nhiều nền kinh tế mới nổi, phát triển năng động, tổng cộng chiếm hơn 38% dân số thế giới, đóng góp 61% GDP và 47% thương mại toàn cầu.

Là thể chế hợp tác mềm - diễn đàn, không có hiến chương hay điều lệ, APEC hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, đồng thuận và không ràng buộc trên cơ sở hợp tác bình đẳng, chia sẻ trách nhiệm, tôn trọng lẫn nhau và vì lợi ích chung. Hoạt động hằng năm của APEC gồm: Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế (lãnh đạo cấp cao của các thành viên); Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế; các hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành về thương mại, tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực khác như cải cách cơ cấu, phát triển nguồn nhân lực, du lịch, an ninh lương thực, phụ nữ và kinh tế, y tế, năng lượng, giao thông vận tải, thông tin và truyền thông...; 5 hội nghị các quan chức cao cấp, cùng nhiều hội nghị, hội thảo của các ủy ban, nhóm công tác và các cơ chế cấp làm việc khác thuộc các kênh chính phủ, học giả và doanh nghiệp.

Hợp tác kinh tế của APEC tập trung vào ba trụ cột chính: Tự do hóa thương mại và đầu tư, thuận lợi hóa kinh doanh và hợp tác kinh tế - kĩ thuật.

Năm 1994, các nhà lãnh đạo kinh tế đã thông qua các Mục tiêu Bogor về thương mại và đầu tư tự do và mở đối với các nền kinh tế thành viên phát triển vào năm 2010 và các nền kinh tế thành viên đang phát triển vào năm 2020. Giai đoạn 2014 - 2019, tăng trưởng GDP thực toàn khối đạt trung bình 3,9%/năm và mức tăng trưởng tính trên đầu người đạt 3,1%. Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa và dịch vụ nội khối tăng trưởng trung bình 6,9%/năm; mức thuế quan trung bình theo nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) giảm từ 13,9% xuống 5,2% trong năm 2019; lượng vốn FDI đầu tư vào và ra của các nền kinh tế thành viên APEC tăng trưởng trung bình trên 10%/năm; chi phí giao dịch thương mại nội khối giảm 5% vào các năm 2006, 2010 và 10% vào năm 2015. Mỗi năm, APEC hỗ trợ kinh phí cho khoảng 150 dự án hợp tác và nâng cao năng lực với tổng giá trị lên đến 23 triệu USD.

Năm 2020, các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua Tầm nhìn Putrajaya 2040, nhằm xây dựng một “Cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương cởi mở, năng động, kiên cường và hòa bình” vì sự thịnh vượng của tất cả người dân và các thế hệ tương lai, trên cơ sở thúc đẩy ba trụ cột hợp tác về thương mại và đầu tư; đổi mới và số hóa; tăng trưởng mạnh mẽ, cân bằng, an toàn, bền vững và bao trùm; cam kết nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò quản trị toàn cầu của APEC.

Năm 2021, các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua Kế hoạch Aotearoa đề ra các mục tiêu và hành động cụ thể nhằm triển khai tầm nhìn APEC đến năm 2040 với ba phần chính: Mục tiêu, cam kết hành động của riêng từng nền kinh tế và cam kết hành động chung đối với ba trụ cột hợp tác của tầm nhìn; đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động APEC với vai trò là một thể chế với các mục tiêu cụ thể đến năm 2025; rà soát và đổi mới kế hoạch hành động và kết quả thực hiện giám sát các mục tiêu hằng năm; rà soát 5 năm thực hiện các cam kết; rà soát giữa kì các mục tiêu và hành động.

Năm 2022 là năm đầu tiên Diễn đàn triển khai Kế hoạch Aotearoa về tầm nhìn APEC đến năm 2040, với tầm nhìn về một APEC “Mở với tất cả cơ hội, kết nối trên mọi phương diện, cân bằng trên mọi khía cạnh”. Nội dung hợp tác kinh tế APEC tập trung vào ba ưu tiên, gồm: Thương mại và đầu tư mở với tất cả các cơ hội; khôi phục kết nối trên mọi phương diện; thúc đẩy tăng trưởng cân bằng, bền vững và bao trùm trên mọi khía cạnh.

Đặc biệt, Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo APEC về các Mục tiêu Bangkok về mô hình kinh tế sinh học - tuần hoàn - xanh được thông qua là sự kiện đánh dấu lần đầu tiên APEC đặt ra mục tiêu toàn diện cho các vấn đề môi trường và khí hậu khi trong bối cảnh quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu đối mặt với cùng lúc nhiều thách thức như lạm phát leo thang, căng thẳng địa chính trị, biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19. Đây cũng chính là thông điệp mạnh mẽ về hợp tác, đối thoại và chủ nghĩa đa phương, minh chứng cho thấy APEC tiếp tục có vai trò diễn đàn hàng đầu khu vực và là cơ chế quan trọng tại châu Á - Thái Bình Dương thúc đẩy các nỗ lực đa phương xây dựng các chuỗi cung ứng tự cường, đối phó với các vấn đề liên quan đến thương mại đang nổi lên như y tế, kinh tế số, biến đổi khí hậu, tạo thuận lợi và khôi phục đi lại qua biên giới an toàn, thông suốt, tạo động lực phục hồi kinh tế, chuẩn bị cho tăng trưởng dài hạn và từng bước hiện thực hóa Khu vực thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP)...

Cũng tại APEC 2022, Việt Nam nỗ lực đề xuất và ủng hộ về nội dung hợp tác cần bảo đảm môi trường thương mại và đầu tư mở, minh bạch, không phân biệt đối xử; thúc đẩy mô hình tăng trưởng cân bằng, bao trùm và bền vững, hỗ trợ các nền kinh tế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số thành công; đảm bảo sự “cân bằng” trong hợp tác bao gồm: Coi người dân là trung tâm để tạo sự cân bằng trong mỗi nền kinh tế giữa các lĩnh vực, giữa các thành phần xã hội; cân bằng về lợi ích và trách nhiệm giữa các nền kinh tế, các khu vực. Mục tiêu là chung, nhưng các biện pháp cụ thể phải được điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù, trình độ phát triển của mỗi nơi; cân bằng giữa bảo đảm tính tự chủ, tự cường của mỗi nền kinh tế và chủ động mở cửa, hội nhập, liên kết kinh tế; cân bằng giữa đổi mới, chuyển đổi với bảo đảm sự ổn định. Quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh phải được thực hiện sao cho đạt hiệu quả cao về kinh tế nhưng giảm thiểu tác động, xáo trộn đến an sinh xã hội, giữ vững an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh mạng.

Những đề xuất của Việt Nam nhận được sự hưởng ứng, đánh giá cao và được thể hiện trong văn kiện bởi có tính đến lợi ích của tất cả các thành phần trong xã hội, các nền kinh tế, cũng như cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn. Việt Nam đã cùng các thành viên chủ động tạo thêm kênh trao đổi để thu hẹp khác biệt, tìm kiếm tiếng nói chung, duy trì đồng thuận, đóng góp cho thành công của hội nghị.

Năm 2023, Mỹ đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 30 từ ngày 15 - 17/11/2023 tại San Francisco với chủ đề “Tạo dựng một tương lai kiên cường và bền vững cho tất cả mọi người”. APEC cam kết thúc đẩy khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, thương mại kĩ thuật số, kết nối, cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, biến đổi khí hậu và sự bền vững môi trường, bảo đảm an ninh lương thực, y tế, chống tham nhũng, số hóa, trao quyền kinh tế cho phụ nữ và hỗ trợ các cộng đồng yếu thế, dựa trên ba ưu tiên nhấn mạnh là kết nối với nhau, đổi mới và toàn diện.


Phiên toàn thể Hội nghị Bộ trưởng Thương mại (MRT) APEC lần thứ 29 (Nguồn: Internet)


Theo đó, APEC đang nỗ lực triển khai các chiến lược, chương trình hợp tác lớn gồm: Chương trình nghị sự tăng cường về cải cách cơ cấu; Lộ trình cạnh tranh dịch vụ đến năm 2025; Kế hoạch kết nối tổng thể đến 2025; Chương trình nghị sự phát triển bao trùm về kinh tế, tài chính, xã hội đến 2030; Khuôn khổ phát triển nguồn nhân lực trong kỉ nguyên số đến 2025; Lộ trình La Serena về phụ nữ và tăng trưởng bao trùm đến 2030.

Bên cạnh đó, vai trò APEC còn thể hiện trong thực tiễn nhiều liên kết kinh tế quy mô lớn đã bắt nguồn từ APEC và các thành viên. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Khuôn khổ Đối tác toàn diện kinh tế khu vực (RCEP) là những minh chứng sống động. Các thành viên APEC cũng đang triển khai kế hoạch chung về kết nối, tạo thuận lợi trong việc đi lại của doanh nhân, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng… Liên kết kinh tế APEC nhờ đó ngày càng sâu, rộng, đóng góp thiết thực hơn vào việc củng cố các giá trị và vai trò của hệ thống thương mại đa phương.

Với những điểm nhấn mới đó, nên dù đa dạng về thể chế, trình độ phát triển, lợi ích cốt lõi, vị thế quốc tế và đã trải qua hơn 1/3 thế kỉ hình thành và phát triển, APEC vẫn tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng hàng đầu, cùng với các nền tảng đa phương khác, góp phần định hình lại trật tự thế giới, hướng đến mô hình công bằng hơn, thúc đẩy luật lệ, quy tắc quốc tế để thích ứng với thay đổi qua thời gian; định hướng và thúc đẩy xu thế tự do hóa kinh tế, thương mại, đầu tư trong khu vực và trên thế giới, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương...

2. Việt Nam - thành viên có trách nhiệm trong APEC

Việt Nam là thành viên chính thức số 21 của APEC từ ngày 15/11/1998. APEC có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh và kinh tế của Việt Nam, bởi Diễn đàn này quy tụ 15/30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược toàn diện là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu, chiếm hơn 77% thương mại, gần 81% đầu tư trực tiếp và hơn 85% du lịch của nước ta. 17/20 thành viên APEC là đối tác trong số 13/17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đang triển khai/đàm phán...
Trong 25 năm tham gia APEC, nhất quán với chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng chứng tỏ mình là thành viên có trách nhiệm, chủ động và đóng góp tích cực vào hoạt động chung của APEC.

Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC (hai lần vào các năm 2006 và 2017); vị trí Giám đốc điều hành Ban Thư kí APEC (năm 2005 - 2006); Chủ tịch/Phó Chủ tịch nhiều ủy ban và nhóm công tác chủ chốt trong APEC như Ủy ban Thương mại và Đầu tư, Ủy ban Quản lí ngân sách, các nhóm công tác về doanh nghiệp nhỏ và vừa, y tế, đối phó với tình trạng khẩn cấp...; vai trò Chủ tịch, Phó Chủ tịch 18 ủy ban, nhóm công tác của APEC và Hội đồng Tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC) trong giai đoạn 2016 - 2018 được các thành viên đánh giá cao. Việt Nam cũng đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch Nhóm ASEAN trong APEC năm 2022.

Đặc biệt, Việt Nam là một trong những thành viên tích cực nhất trong đề xuất hơn 100 dự án trên nhiều lĩnh vực. Nhiều sáng kiến do Việt Nam đề xuất được cộng đồng APEC hoan nghênh vì tính thiết thực, đáp ứng quan tâm và lợi ích chung, nhất là các sáng kiến về phát triển bền vững, bao trùm, phát triển nguồn nhân lực trong kỉ nguyên số, thúc đẩy kinh tế số, thu hẹp khoảng cách số tạo thuận lợi thương mại điện tử qua biên giới; các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa xanh, bền vững và sáng tạo; an ninh lương thực, ứng phó biến đổi khí hậu, xử lí rác thải đại dương; nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, phát triển nông thôn và đô thị…

Với vai trò Phó Chủ tịch Nhóm xây dựng Tầm nhìn APEC, Việt Nam đã chủ động tham gia dẫn dắt, điều phối quá trình xây dựng Báo cáo khuyến nghị của Nhóm xây dựng Tầm nhìn APEC với tiêu đề “Người dân và thịnh vượng: Tầm nhìn APEC đến 2040”. Với Tầm nhìn APEC đến năm 2040 và Kế hoạch Aotearoa triển khai tầm nhìn được các nhà lãnh đạo 21 nền kinh tế thành viên thông qua, APEC đã hoàn tất thực hiện sáng kiến do Việt Nam khởi xướng và được thông qua tại Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 25 diễn ra tháng 11/2017 tại thành phố Đà Nẵng.

Bên cạnh đó, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cũng đóng góp nhiều đề xuất và khuyến nghị lên các nhà lãnh đạo, các bộ trưởng APEC và trực tiếp tham gia triển khai nhiều hoạt động hợp tác liên kết kinh tế khu vực.

Tham gia APEC giúp Việt Nam đẩy mạnh triển khai chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương, nâng cao vị thế quốc tế; thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần tạo đan xen lợi ích dài hạn và đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước; thực hiện các cam kết về mở cửa thương mại, đầu tư, thuận lợi hóa kinh doanh, góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước, từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, quy định phù hợp với các cam kết quốc tế; tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những sân chơi rộng lớn và có mức độ cam kết cao hơn như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao. Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Việc triển khai các cam kết, đồng bộ hóa chính sách, cùng các dự án hỗ trợ của APEC đã góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tăng cường kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập. Các chương trình hợp tác về tăng cường trao đổi sinh viên, thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân... thực sự đem lại nhiều cơ hội lớn đối với người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

APEC mang đến những tiềm năng và cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối thoại giữa các nhà lãnh đạo APEC với ABAC và Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC hằng năm là dịp quan trọng để cộng đồng doanh nghiệp đề xuất khuyến nghị lên các nhà lãnh đạo, chủ động tham gia đóng góp xây dựng chính sách liên kết kinh tế khu vực, đồng thời tạo khuôn khổ để doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các tập đoàn hàng đầu thế giới. APEC cũng hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận thị trường, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược, tiếp cận công nghệ và trình độ quản lí tiên tiến.

Việt Nam sẽ tiếp tục đồng hành cùng APEC trên chặng đường phát triển sắp tới, chung tay xây dựng tầm nhìn chiến lược về cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, gắn kết và thịnh vượng.

Trong thời gian tới, trên cơ sở phát huy các thành quả và kinh nghiệm đã có, Việt Nam cần tiếp tục chủ động xây dựng và triển khai các nội dung cam kết trong APEC; tăng cường phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong chủ trì hoặc đồng chủ trì các dự án hợp tác của APEC về kinh tế tuần hoàn, xử lí rác thải cứng đại dương, thương mại điện tử, nâng cao quyền năng cho phụ nữ, ứng phó biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, y tế biển, kết nối chuỗi cung ứng tự cường, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa… Chính phủ, chính quyền các cấp cần đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước, nâng cao năng lực phản ứng chính sách và phản ứng thị trường, tranh thủ tốt các nguồn lực của APEC, vượt qua các hạn chế nội tại nhằm góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế bền vững, thích ứng kịp thời với mọi biến động nhanh chóng của bối cảnh khu vực và thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.vietnamplus.vn/hoi-nghi-apec-2022-tam-nhin-toan-dien-de-phuc-hoi-ben-vung/np;
2. https://sngv.thuathienhue.gov.vn/?
3. https://special.nhandan.vn/Vietnam-APEC-CTN-Nguyen-Xuan-Phuc/index.html?
4. https://sbv.gov.vn

TS. Nguyễn Minh Phong

ThS. Nguyễn Trần Minh Trí
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Xem thêm
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành