Ảnh hưởng của dân trí tài chính đến quản lí nợ của người lao động phổ thông Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Định nghĩa về dân trí tài chính (financial literacy) từ trước đến nay luôn khiến các nhà nghiên cứu gặp khó khăn bởi có nhiều quan điểm sử dụng những từ ngữ khác nhau để đề cập đến khái niệm này như: “hiểu biết về tài chính”, “kiến thức tài chính”, “năng lực tài chính”…
aa

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của dân trí tài chính đến quản lí nợ của lao động phổ thông tại Việt Nam. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp người lao động phổ thông trong các khu công nghiệp, sau đó xử lí dữ liệu bằng phần mềm SPSS22 và AMOS20. Kết quả của mô hình cho thấy: Đối với các nhân tố cấu thành dân trí tài chính, thái độ tài chính và kiến thức tài chính có ảnh hưởng thuận chiều đến hành vi quản lí nợ, đồng thời chưa tìm được những tác động của hành vi tài chính. Với các biến nhân khẩu học, thu nhập và giới tính có tác động, nhưng bác bỏ giả thuyết về sự tác động của tuổi tác đến quản lí nợ của người lao động phổ thông Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lí cũng như các tổ chức tín dụng.

Từ khóa: Dân trí tài chính, lao động phổ thông, quản lí nợ, quản lí tài chính cá nhân.

IMPACTS OF FINANCIAL LITERACY ON VIETNAMESE LABOURERS’ DEBT MANAGEMENT

Abstract: The study is conducted to evaluate financial literacy’s influence on Vietnamese labourers’ (or unskilled workers’) debt management. We do direct interviews with labourers in industrial zones, then the data is processed by software SPSS22 and AMOS20. The results of the model show that: Financial attitudes and financial knowledge have a positive influence on debt management behavior, and the effects of financial behavior have not yet been found. For demographic variables, income and gender had an effect, but rejected the hypothesis of an effect of age. The authors has proposed some recommendations for regulatory agencies and credit institutions from the research results.


Keywords: Financial literacy, unskilled workers, debt management, personal finance management.

1. Giới thiệu

Định nghĩa về dân trí tài chính (financial literacy) từ trước đến nay luôn khiến các nhà nghiên cứu gặp khó khăn bởi có nhiều quan điểm sử dụng những từ ngữ khác nhau để đề cập đến khái niệm này như: “hiểu biết về tài chính”, “kiến thức tài chính”, “năng lực tài chính”… Dân trí tài chính là sự kết hợp đồng thời giữa kiến thức, học vấn, khả năng, năng lực, trách nhiệm và các khái niệm này thường xuyên bị nhầm lẫn. Các khía cạnh này cũng cần được đo lường, tuy nhiên, phương pháp đo lường có nhiều sự khác biệt, chủ yếu đến từ việc xác định các cấu phần của dân trí tài chính ở mỗi nghiên cứu khác nhau là khác nhau, cách hiểu và diễn đạt chúng cũng chưa thống nhất. Một trong những nghiên cứu đã đưa ra quan điểm: Người dân Việt Nam có kiến thức tài chính tương đối tốt, ví dụ như có thể tính toán được lãi đơn, lãi gộp, so sánh được giá hàng hóa, thậm chí có thể đánh giá được tác dụng của tín dụng đen, nhưng vẫn nghèo (Khúc Thế Anh và cộng sự, 2022). Như vậy, kiến thức tài chính không thể hiện hết được dân trí tài chính và đặc biệt đối với khu vực lao động phổ thông - khi còn nhiều áp lực xung quanh.

Xuất phát từ những lí do trên, nghiên cứu này được thực hiện để tập trung đi sâu vào đo lường, đánh giá thực trạng dân trí tài chính, đồng thời, xem xét tác động của các cấu phần trong dân trí tài chính đến hành vi quản lí nợ của lao động phổ thông tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hậu Covid-19, thu nhập của đối tượng này giảm rõ rệt. Như vậy, ngoài phần giới thiệu, phần 2 sẽ đưa ra tổng quan nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Chúng tôi sẽ đề cập đến phương pháp nghiên cứu ở phần 3, trước khi đi vào kết quả nghiên cứu tại phần 4. Phần 5 sẽ nêu một số khuyến nghị chính sách.

2. Tổng quan và giả thuyết nghiên cứu

2.1 Các khái niệm sử dụng

Dân trí tài chính

Dân trí tài chính là một khái niệm rất phức tạp, rất nhiều học giả từ lâu đã bất đồng quan điểm xung quanh việc định nghĩa nó. Nghiên cứu này tập trung vào khái niệm dân trí tài chính là “sự kết hợp của nhận thức, kiến thức, thái độ và hành vi cần thiết để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn và cuối cùng đạt được mục tiêu tài chính cá nhân” (OECD, 2018). Như vậy, dân trí tài chính bao gồm ba khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

Kiến thức tài chính được hiểu là sự hiểu biết về các vấn đề tài chính. Dân trí tài chính được Huston (2010) chỉ ra là có hai khía cạnh: “hiểu biết” và “sử dụng”, trong đó, kiến thức tài chính đại diện cho sự “hiểu biết”, còn ứng dụng của những kiến thức đó chính là cách “sử dụng”. Nói cách khác, kiến thức tài chính định hình việc ra quyết định tài chính.

Hành vi tài chính là bất cứ hành vi nào của con người có liên quan đến quản lí tiền. Một số hành vi tài chính phổ biến ở các cá nhân là hành vi sử dụng tiền mặt, hành vi tiết kiệm, hành vi tín dụng... OECD (2013) coi đây là một cấu phần của dân trí tài chính. Hành vi tài chính có thể chia thành hành vi tài chính tích cực và hành vi tài chính tiêu cực, trong đó những hành vi tích cực sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như góp phần vào tăng sự hài lòng về tài chính (Xiao và cộng sự, 2006).

Parrotta và Johnson (1998) định nghĩa thái độ tài chính là một khuynh hướng tâm lí được thể hiện khi đánh giá các thông lệ quản lí tài chính được khuyến nghị ở một mức độ đồng ý hoặc không đồng ý. Humaira và Sagoro (2018) cho rằng, đây là trạng thái của tâm trí, ý kiến và nhận định về tài chính của cá nhân. Thái độ tài chính có tốt hay không, có thể được đánh giá qua thái độ tổ chức các dòng tiền, hành vi đầu tư hay việc quản lí tài chính sao cho phù hợp với nhu cầu của mình (Budiono, 2020). Đây cũng được coi là một cấu phần của dân trí tài chính (OECD, 2013).

Quản lí nợ

Quản lí nợ là một phần trong quản lí tài chính cá nhân, là một công việc, hành động giúp các cá nhân quản lí tiền bạc thông qua sắp xếp và lập kế hoạch chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư một cách hợp lí. Quản lí nợ là thực hiện kiểm soát nợ thông qua các hoạt động lập kế hoạch tài chính và ngân quỹ, với mục đích cuối cùng là giúp các cá nhân giảm những khoản nợ hiện tại, tiến tới có thể hoàn toàn loại bỏ chúng trong tương lai. Ngoài ra, ở khía cạnh rộng hơn, khái niệm này cũng có thể hiểu là việc chúng ta thực hiện quản lí tài chính cá nhân nhằm tránh phát sinh những khoản nợ trong tương lai.

Người lao động phổ thông

Lao động phổ thông là một khái niệm đề cập đến những người lao động không được đào tạo chuyên môn hoặc có kinh nghiệm đặc biệt. Họ là một phần của lực lượng lao động với kĩ năng rất hạn chế, chủ yếu là những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông trở xuống.

2.2. Giả thuyết nghiên cứu

Kiến thức tài chính

Kiến thức tài chính đã được nhiều tác giả xác định là một cấu phần quan trọng của dân trí tài chính (OECD, 2018; Laura, 2021…), qua các nghiên cứu thực nghiệm, nhiều bằng chứng đã được đưa ra thể hiện rằng dân trí tài chính có những tác động đáng kể đến các hành vi quản lí tài chính cá nhân, trong đó có quản lí nợ. Vì vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất giả thuyết nghiên cứu:

H1: Dân trí tài chính được thể hiện qua kiến thức tài chính, đồng thời kiến thức tài chính có tác động đến quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Hành vi tài chính

OECD (2015) xác định đây là một yếu tố quan trọng và là một cấu phần của dân trí tài chính. Đồng tình với quan điểm này còn có nghiên cứu của Vera và cộng sự (2020), Peter (2022)… và việc đo lường hành vi tài chính được coi là không thể thiếu nếu muốn đánh giá dân trí tài chính của các cá nhân một cách toàn diện nhất (Sandra, 2010). Do vậy, chúng tôi đề xuất giả thuyết nghiên cứu:

H2: Hành vi tài chính là một cấu phần của dân trí tài chính và hành vi tài chính có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Thái độ tài chính

Rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng cho thấy thái độ đối với tiền là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định đến hành vi tài chính cá nhân, trong đó có hành vi quản lí nợ (Humaira và Sagoro, 2018; Ameliawati và Setiyani, 2018), đồng thời có sự khác biệt về mức độ và tính chất của những tác động giữa thái độ tài chính tích cực và thái độ tài chính tiêu cực đến hành vi. Chúng tôi đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

H3: Thái độ tài chính là một cấu phần của dân trí tài chính, đồng thời, thái độ tài chính có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Thu nhập

Theo Nidar và Bestari (2012), những người chưa có thu nhập hoặc chưa có việc làm để tạo ra thu nhập khiến họ có nhiều hạn chế trong quản lí tài chính cá nhân, đồng thời, dân trí tài chính của những người này cũng không được tốt vì họ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với giáo dục tài chính (Beverly và Burkhalter, 2005). Mandell (2008), Jayaraman và Jambunathan (2018) lại chỉ ra rằng, những người có gia đình thu nhập thấp thì có khả năng quản lí tiền tốt hơn, do họ phải tìm cách xoay sở với những khó khăn tài chính hiện tại và cố gắng để không phải đi vay thêm khoản nợ mới nào. Như vậy, yếu tố thu nhập có tác động đến hành vi quản lí nợ và điều này đã được chứng minh bởi các nghiên cứu trước đó. Nhóm tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu:

H4a: Thu nhập có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Tuổi

Mặc dù nhiều nghiên cứu cho rằng, nam giới thường có dân trí tài chính cao hơn nữ giới, thì Yu và cộng sự (2015) lại nhận thấy phụ nữ càng lớn tuổi thì càng có khả năng độc lập và quản lí tài chính tốt hơn trước và tốt hơn nam giới. Nghiên cứu hàm ý rằng càng về già, những kinh nghiệm và bài học về quản lí tiền trong quá khứ sẽ khiến họ quản lí tài chính cá nhân tốt hơn. Họ cũng nhận ra tầm quan trọng của độc lập tài chính và đảm bảo cân bằng giữa thu - chi, điều này định hình cho người lớn tuổi cách quản lí tiền hiệu quả. Ngược lại, Nuraini và cộng sự (2019) cho rằng, những người lao động trẻ tuổi cũng ngày càng quản lí nợ tốt hơn, họ cố gắng hết sức để không phát sinh những khoản nợ mới, còn với những người mắc nợ, họ tự vạch ra chiến lược chi tiêu để nhanh chóng hoàn trả khoản vay. Có lẽ, việc kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động trong những năm qua là lí do khiến người trẻ nhận ra rằng, việc mắc một món nợ sẽ khiến họ phải gánh vác nhiều trách nhiệm trong thời gian dài. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết:

H4b: Tuổi tác ảnh hưởng đến hành vi quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Giới tính

Sự khác biệt về giới trong dân trí tài chính đã được tìm thấy ở rất nhiều cuộc khảo sát tại các quốc gia. Các nhà nghiên cứu nhận thấy không chỉ ít có khả năng đưa ra các câu trả lời chính xác, mà tỉ lệ phụ nữ không biết câu trả lời cũng cao hơn nam giới (OECD, 2013). Một số lí do được đưa ra gồm sự khác biệt về đặc điểm cá nhân, sự khác biệt về văn hóa xã hội, sự khác biệt về vai trò trong xã hội. Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, sự đóng góp của phụ nữ vào nền kinh tế càng lớn, do đó việc nghiên cứu về sự khác biệt giới trong dân trí tài chính và ảnh hưởng của nó tới các hành vi tài chính cá nhân ngày càng quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp làm giảm sự chênh lệch này. Do vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết:

H4c: Có sự khác biệt về quản lí nợ giữa lao động nam và lao động nữ.

Sử dụng dịch vụ tài chính

Limbu và Sato (2019) đã tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính như thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng… có ảnh hưởng đến các kĩ năng quản lí tài chính cá nhân. Dolores và cộng sự (2018) chỉ ra rằng, để có thể sử dụng những dịch vụ này, các cá nhân sẽ được cung cấp những kiến thức và bản thân họ cũng được thúc đẩy để tự trang bị những hiểu biết liên quan đến tài chính. Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ khiến cho những dịch vụ này ngày càng trở nên gần gũi và tiếp cận với nhiều người hơn bao giờ hết, từ đó, tạo ra nhiều sự thay đổi trong hành vi tài chính nói riêng và hành vi quản lí nợ nói chung. Vì vậy, để tìm hiểu thêm tác động của yếu tố này, trong phạm vi bài nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết:

H5: Việc sử dụng các dịch vụ tài chính có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông.

Kết hợp những giả thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu: (Hình 1)


Hình 1: Mô hình nghiên cứu


3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, mô hình hóa dữ liệu thu thập được từ các cá nhân để có được những thông tin về dân trí tài chính, quản lí nợ và những thông tin về nhân khẩu học khác. Bài nghiên cứu tiến hành xây dựng bộ tiêu chí đo lường các yếu tố dân trí tài chính và quản lí chi tiêu theo phương pháp định lượng, cụ thể:

- Bộ chỉ số đo lường dân trí tài chính được xây dựng trên cơ sở bộ câu hỏi của OECD năm 2015 và năm 2018, bảng hỏi được phát triển từ nghiên cứu của Ani và cộng sự (2016). Trong đó, bộ câu hỏi đo lường dân trí tài chính bao gồm các bảng hỏi đo lường: Kiến thức tài chính (gồm 05 câu hỏi có nội dung về lãi suất, lạm phát, giá trị thời gian của tiền và đầu tư), hành vi tài chính (05 câu hỏi, tìm hiểu về các hành vi quản lí ngân quỹ cá nhân, lập kế hoạch tài chính và hành vi thanh toán), thái độ tài chính (05 câu hỏi gồm những câu hỏi về thái độ với việc vay - trả nợ, thái độ đối với việc thiết lập kế hoạch chi tiêu, mức độ coi trọng tiền bạc…).

- Thang đo quản lí nợ được xây dựng và hiệu chỉnh theo thang đo Money Importance Scale (MIS) (Mitchell và cộng sự, 1998), thang đo quản lí nợ (Nyamute và Maina, 2011) và thang đo Money Attitude Scale (MAS) (Yamauchi, 1982) để phù hợp với mục tiêu cũng như đối tượng nghiên cứu. Thang đo bao gồm 04 câu hỏi về quá trình thực hiện hoàn trả các khoản nợ cũng như thanh toán hóa đơn, về kế hoạch phòng ngừa các chi phí đột xuất và kế hoạch cho việc nghỉ hưu.

- Các thang đo đều được cấu trúc theo thang đo Likert 5 mức độ nhằm thu được những kết quả phù hợp để thống kê và mô hình nghiên cứu.

Mẫu nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn thông qua các chuyến công tác của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Ngân hàng Chính sách xã hội, Tổ chức tài chính vi mô CEP để đưa bảng hỏi trực tiếp đến lao động phổ thông, chủ yếu là công nhân trong các nhà máy hoặc các khu công nghiệp. Trong số hơn 2.000 bảng hỏi được đưa ra, chúng tôi thu về 1.818 bảng hỏi. Trong số này, để phục vụ cho nghiên cứu thì một lượng lớn bảng hỏi đánh vào ô “Tôi không biết” buộc phải loại bỏ đi. (Bảng 1)

Bảng 1: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả, 2022

Tổng số quan sát được đưa vào phân tích là 652, với tỉ lệ Nữ là 63,8% và Nam là 36,2%. Mẫu có phần lớn lao động trẻ nằm trong khoảng từ 18 tuổi đến 30 tuổi (68,9%), tiếp theo là nhóm từ 30 tuổi đến dưới 45 tuổi (23%). Về nơi làm việc của người lao động, chiếm tỉ lệ lớn nhất là khu vực Nam Bộ với 40,5%, tiếp theo là khu vực miền Bắc (35,9%), còn lại là lao động tại miền Trung (23,6%). Mẫu nghiên cứu cũng có tới 63,28% người có thu nhập từ 5 triệu đến dưới 10 triệu đồng/tháng, chỉ có 12,57% có mức thu nhập trên 15 triệu đồng/tháng, còn lại ở mức từ 10 triệu đến dưới 15 triệu đồng/tháng. Có thể thấy, dù điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta ngày càng phát triển, thu nhập của người lao động cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. Tuy nhiên, so với thu nhập bình quân theo tháng của người lao động năm 2022 là 6,7 triệu đồng (Tổng cục Thống kê, 2022), thì thu nhập của người lao động phổ thông phần lớn cũng chỉ nằm trong mức trung bình này.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kết quả kiểm định sự khác biệt của các biến nhân khẩu học

- Giới tính

Kết quả kiểm định Levene cho ra giá trị Sig. = 0,004 < 0,05, điều này chứng tỏ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phương sai giữa hai nhóm lao động nam và lao động nữ. Bước tiếp theo, chúng ta xem xét kết quả tại kiểm định Welch:

Sig. = 0,007 < 0,05, kết luận rằng có sự khác biệt về hành vi quản lí nợ theo giới tính, đồng thời chấp nhận giả thuyết H4c. Ngoài ra, khi xét giá trị trung bình, tác giả nhận thấy rằng những người lao động nữ có hành vi quản lí nợ tốt hơn. (Bảng 2)


Bảng 2: Kết quả phân tích

sự khác biệt theo yếu tố giới tính


Test of Homogeneity of Variances

(Kiểm định khác biệt phương sai)

Robust Tests of Equality of Means

(Kiểm định khác biệt trung bình)

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS22


Giải thích về kết quả này: Chúng ta có thể nhận thấy, tại Việt Nam, phụ nữ thường là người đảm nhận công việc nội trợ, quản lí chi tiêu của gia đình…, trong khi đó, thu nhập của lao động phổ thông theo những con số thống kê mô tả chỉ xoay quanh mức thu nhập trung bình của nền kinh tế. Bởi vậy, để có thể đảm bảo chi tiêu cho rất nhiều nhu cầu phát sinh hằng ngày, đòi hỏi những người phụ nữ cần biết vun vén, tính toán chi tiêu sao cho hợp lí, biết vay mượn và hoàn trả khi cần thiết, điều này đã tạo nên sự khác biệt trong hành vi quản lí nợ so với nam giới - những người được cho là vụng về hơn trong việc gói ghém chi tiêu, khiến cho họ vay nợ nhiều hơn và thiếu tính toán hơn.

- Độ tuổi

Bảng 3: Kết quả phân tích sự khác biệt theo yếu tố độ tuổi


Test of Homogeneity of Variances (Kiểm định khác biệt phương sai)

Kiểm định Levene với yếu tố độ tuổi cho ra kết quả Sig. = 0,495 > 0,05, hay nói cách khác là phương sai giữa những người lao động có độ tuổi khác nhau là giống nhau. Tiếp theo, ta xét kết quả của kiểm định ANOVA:

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS22


Giá trị Sig. của kiểm định ANOVA = 0,085 > 0,05, tác giả kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quản lí nợ giữa những người lao động ở các độ tuổi khác nhau. Thông qua kết quả này, tác giả chưa tìm thấy được sự khác biệt trong hành vi quản lí nợ giữa người lao động thuộc các độ tuổi, từ đây, giả thuyết H4b: Tuổi tác ảnh hưởng đến hành vi quản lí nợ của người lao động phổ thông bị bác bỏ. (Bảng 3)

Kết luận này đưa ra có phần trái chiều so với một số kết quả nghiên cứu trước đây. Tác giả cho rằng, một phần vì sự chênh lệch khá lớn giữa các nhóm tuổi đã ảnh hưởng đến quá trình kiểm định giả thuyết; ngoài ra, khi xem xét giá trị trung bình, tác giả nhận thấy những người thuộc nhóm từ 15 tuổi đến dưới 30 tuổi có hành vi quản lí nợ gần ngang bằng với nhóm trên 45 tuổi (3,7132 so với 3,7593), nhóm lao động thuộc độ tuổi từ 30 tuổi đến dưới 45 tuổi có trung bình thấp nhất (3,4533), điều này cho thấy việc quản lí nợ tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuổi tác dường như không đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sự khác biệt giữa hành vi này ở những cá nhân khác nhau.

- Thu nhập

Bảng 4: Kết quả phân tích sự khác biệt theo yếu tố thu nhập


Test of Homogeneity of Variances (Kiểm định khác biệt phương sai)

Kết quả kiểm định Levene cho thấy Sig. = 0,413 > 0,05, chứng tỏ không có sự khác biệt về phương sai giữa những người có thu nhập khác nhau. Nhóm tác giả xem xét tiếp kết quả ở kiểm định ANOVA:

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS22


Sig. = 0,009 < 0,05, do đó nhóm tác giả kết luận: Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về hành vi quản lí nợ giữa người có thu nhập thấp và thu nhập cao, đồng thời chấp nhận giả thuyết H4a: Thu nhập có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông. (Bảng 4)

Nhóm tác giả cho rằng, thu nhập của người lao động thấp đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều nhu cầu cần thiết chưa được đáp ứng, do vậy mà khả năng họ phải vay nợ để chi tiêu, trang trải cuộc sống ngày càng lớn, từ đây, họ phải quản lí nhiều khoản nợ hơn. Thu nhập càng cao thì quản lí nợ càng tốt, bởi họ không phải đối mặt với quá nhiều nợ nần, đồng thời, thu nhập hằng tháng dư dả cũng khiến cho người lao động dễ dàng lên kế hoạch trả nợ, tiếp đó là thoát nợ và không tiếp tục vướng vào những khoản nợ khác, trong khi những người có thu nhập thấp đôi khi phải vay món nợ này để trả cho món nợ kia, nợ mới gối nợ cũ, cuối cùng họ bị vướng trong vòng luẩn quẩn khó mà dứt ra được.

- Sử dụng dịch vụ ngân hàng

Bảng 5: Kết quản phân tích

sự khác biệt theo yếu tố sử dụng

dịch vụ ngân hàng


Robust Tests of Equality of Means

(Kiểm định khác biệt trung bình)

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS22


Giá trị P-value = 0,017 của kiểm định Levene cho giá trị nhỏ hơn 0,05 cho thấy có sự khác biệt về phương sai giữa những người có và những người không sử dụng dịch vụ ngân hàng, tiếp theo, tác giả sử dụng kết quả ở bảng kiểm định Welch.

Giá trị Sig. = 0,000 < 0,05, như vậy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong hành vi quản lí nợ của những người có và người không sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Ngoài ra, với kết quả này, giả thuyết H5 cũng đã được kiểm định và chấp nhận. (Bảng 5)

Các dịch vụ ngân hàng đang ngày càng phủ sóng tốt hơn tới nhiều đối tượng trong xã hội, một trong số đó là nhóm lao động phổ thông. Với các ứng dụng tài chính, người lao động hoàn toàn có thể dễ dàng theo dõi chi tiêu - thu nhập của mình theo từng ngày, tháng, năm…, từ đó góp phần định hướng cho các cá nhân điều chỉnh hành vi tài chính của mình cho phù hợp hơn; với những khách hàng vay tiền qua các dịch vụ này, họ cũng có được lộ trình trả nợ rõ ràng, do đó mà tạo nhiều thuận lợi hơn trong việc quản lí các khoản nợ. Kết quả từ kiểm định cho thấy, những người sử dụng dịch vụ ngân hàng quản lí nợ tốt hơn những người không sử dụng dịch vụ ngân hàng là một minh chứng rõ ràng cho sự khác biệt này.

4.2. Đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi quản lí nợ

Sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, kết quả kiểm định của mô hình như sau: (Bảng 6)

Bảng 6: Kết quả kiểm định thang đo các nhân tố

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS22 và AMOS20


Bảng 7: Mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình ảnh hưởng

của dân trí tài chính đến quản lí nợ của người lao động phổ thông Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Thông qua đánh giá các tiêu chí đo lường sự phù hợp của mô hình sau khi thực hiện các bước phân tích trước đó cho thấy mô hình hoàn toàn phù hợp với thực tế. Xem xét các giá trị P-value của các biến độc lập, có hai biến: Kiến thức tài chính và Thái độ tài chính có P-value = 0,000, như vậy giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến này với biến phụ thuộc đã được kiểm định, hay nói cách khác, chúng ta chấp nhận các giả thuyết H1 và H3 đã đề xuất trước đó.

Hành vi tài chính có P-value = 0,086 > 0,05, do đó bác bỏ giả thuyết H2: Hành vi tài chính có ảnh hưởng đến quản lí nợ của người lao động phổ thông. Kết quả nghiên cứu này có phần khác biệt so với nhiều nghiên cứu trước đây, khi mà hầu hết các tác giả đều nhận thấy, hành vi tài chính có ảnh hưởng tích cực đến các hành vi quản lí tài chính cá nhân (Bảng 7). Tuy nhiên, theo tác giả, xét riêng hành vi quản lí nợ thì kết quả này có thể giải thích như sau: Đôi khi những khoản nợ phát sinh rất bất ngờ, người lao động phổ thông khó có thể xoay sở kịp. Ví dụ, khi cần vay tiền gấp để chữa trị bệnh; vay tiền để khắc phục những hậu quả của thiên tai, dịch bệnh… tại những nguồn không chính thống khiến cho số tiền lãi tăng đột biến; điều này khiến cho cả những người có hành vi tài chính tốt cũng khó mà lường trước và kiểm soát được. Có lẽ, hành vi tài chính tốt khiến cho quản lí nợ tốt hơn chỉ đúng với những khoản nợ đã nằm trong kế hoạch. Với những người lao động phổ thông có thu nhập thấp, không ổn định, tuy nhiên, họ lại phải đáp ứng rất nhiều nhu cầu của cuộc sống khiến việc phát sinh những khoản vay bất thường cũng dễ xảy ra hơn. Điều này phần nào khiến cho yếu tố hành vi tài chính không thể hiện mối liên hệ đến hành vi quản lí nợ trong phạm vi mẫu nghiên cứu hiện tại.

5. Một số đề xuất, khuyến nghị

5.1. Đối với các tổ chức tín dụng và các cơ quan quản lí nhà nước

Các ngân hàng cần quan tâm tạo ra những dịch vụ gần gũi hơn với người lao động phổ thông, giúp họ dễ thực hiện giao dịch, dễ dàng thao tác để quản lí thu - chi của bản thân.

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong phối hợp với các đơn vị cung cấp giải pháp tài chính. Đôi khi do những rào cản về thủ tục và những quan điểm khác nhau mà không phải đơn vị hay chi nhánh nào cũng sẵn sàng hợp tác, khiến cho không ít người lao động chưa thể tiếp cận với các dịch vụ tài chính phù hợp.

Hình 2: Kết quả phân tích SEM của mô hình

Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS 22 và AMOS 20


Các ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong những chính sách, chương trình hỗ trợ người lao động của Chính phủ. Chính phủ đã thể hiện sự quan tâm của mình đến đời sống của người lao động Việt Nam thông qua một loạt các chương trình, chính sách hỗ trợ. Bên cạnh đó, để những chương trình này phát huy hiệu quả, đồng thời giúp người lao động có an toàn tài chính trong dài hạn, thiết nghĩ các cơ quan quản lí cần mạnh tay hơn nữa với các hình thức tín dụng đen, các kênh đầu tư ảo, các hình thức mời chào cho vay nặng lãi vẫn đang hoành hành tại nhiều địa phương, nhất là những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa… Vấn đề tuyên truyền cần đẩy mạnh đến các lao động phổ thông, nhất là trong bối cảnh nhiều người lao động rút bảo hiểm xã hội một lần như hiện tại.

5.2. Đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động và bản thân người lao động

Doanh nghiệp cần tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu của người lao động, từ đó chủ động phối hợp với các đơn vị khác để cung cấp những lớp đào tạo ngắn hạn, những buổi chia sẻ, hoạt động tập thể… tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên có cơ hội tích lũy kinh nghiệm và kiến thức về dân trí tài chính.

Doanh nghiệp cũng có thể thay đổi trong phương thức chi trả lương như chi trả lương linh hoạt, trả lương nhiều lần trong tháng thay vì trả lương theo kì cố định. Cách này giúp thỏa mãn phần nào nhu cầu chi tiêu cấp bách của người lao động, giúp họ hạn chế phải vay nợ và vướng vào những hình thức tín dụng không chính thống trên thị trường.

Người lao động cần chủ động tiếp cận với các dịch vụ tài chính - ngân hàng. Phần lớn người lao động chỉ coi tài khoản ngân hàng như một phương tiện để nhận lương mà ít khi để ý đến những vấn đề liên quan khác như gói dịch vụ, các tiện ích khác trong app ngân hàng. Điều này chủ yếu đến từ tâm lí “ngại”: Ngại khi tìm hiểu, ngại phải giao dịch, ngại tốn thời gian. Bởi vậy, để nâng cao hiểu biết, bản thân người lao động phải là những người chủ động tiếp cận và sử dụng nhiều hơn các tiện ích tài chính, từ đó, họ sẽ tự trang bị cho mình thêm rất nhiều hiểu biết cơ bản trong lĩnh vực này.

Việc trang bị kiến thức tài chính rất cần thiết cho tất cả mọi người, thậm chí, càng là người lớn tuổi, thiếu đi sự nhạy bén trong học hỏi, tiếp thu và sử dụng công nghệ, thì họ lại càng cần sớm có những hiểu biết về tài chính để sử dụng tiền thông minh, hiệu quả và tránh những rủi ro đáng tiếc.

Cần có thái độ nghiêm túc về việc quản lí tiền, rèn luyện kỉ luật trong chi tiêu: Người lao động cần xây dựng được cho bản thân khả năng kiểm soát hành vi, lập kế hoạch chi tiêu đều đặn. Với sự phổ biến của các ứng dụng tài chính, họ hoàn toàn có thể tận dụng những tiện ích đi kèm để quản lí tiền hiệu quả hơn. Sử dụng những ứng dụng giúp họ có thể loại bỏ bớt được những tác động của cảm xúc cũng như thói quen trong mỗi lần đưa ra quyết định.

Cần nâng cao ý thức hoàn trả các khoản vay: Trong số 652 người tham gia khảo sát, có tới 38,65% từng có khoản nợ trên 2 triệu đồng trong vòng 6 tháng gần thời gian khảo sát. Đây là một tỉ lệ tương đối cao, cũng thể hiện rất rõ thực tế rằng họ thường xuyên phải vay mượn để đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu. Bởi vậy, việc nâng cao ý thức với các khoản vay nợ này là cần thiết và là cách để họ thể hiện trách nhiệm với các hành vi chi tiêu của mình. Ý thức trả nợ tốt dần dần sẽ định hướng thói quen chi tiêu, người lao động sẽ biết cách cân đối mức sống sao cho phù hợp, dù là với mức thu nhập cao hay thấp, họ đều biết cách tiết chế hợp lí và tối ưu nhất.

6. Kết luận

Nghiên cứu đã đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến hành vi quản lí nợ bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM - Structural Equation Modeling), đưa ra được các bằng chứng về các yếu tố: Kiến thức tài chính, Thái độ tài chính, Thu nhập, Giới tính, Sử dụng dịch vụ ngân hàng có tác động lên hành vi quản lí nợ, đồng thời các nhân tố: Hành vi tài chính và Tuổi tác không có tác động gì tới biến phụ thuộc này. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị đối với cá nhân và các tổ chức cụ thể.

Nhóm tác giả cũng thừa nhận một số hạn chế trong nghiên cứu này. Thứ nhất, do không đánh giá tình hình hiện tại về dân trí tài chính, nên một lượng lớn phiếu khảo sát chọn đáp án “Tôi không biết” đã được loại bỏ. Nhóm tác giả sẽ công bố vấn đề này tại những nghiên cứu tiếp theo. Thứ hai, quá trình khảo sát thực tiễn cũng nhận được nhiều nhân tố có thể tác động đến quản lí nợ của lao động phổ thông, gồm các nhân tố nhân khẩu học khác (số người phụ thuộc, ngành nghề, khu vực sinh sống…), hoặc các nhân tố trong các mô hình khác (Theory of planned behavior (TPB)), Unified Theory of Acceptance and Use Technology (UTAUT2)…). Thời gian tới, nhóm tác giả sẽ tiếp tục phát triển nghiên cứu theo hướng này.

Tài liệu tham khảo:

1. Abdullah, Nuraini, Sabri Mohamad Fazli, and Afida Mastura Muhammad Arif 2019. “The Relationship between Attitude towards Money, Financial Literacy and Debt Management with Young Worker’s Financial Well-being.” Pertanika Journal of Social Sciences & Humanities 27.1.

2. Ameliawati, M., & Setiyani, R. (2018), “The influence of financial attitude, financial socialization, and financial experience to financial management behavior with financial literacy as the mediation variable”, KnE Social Sciences, pages 811-832.

3. Beverly, S. G. and E. K. Burkhalter (2005). “Improving the financial literacy and practices of youths.” Children & Schools 27(2): page 121.

4. Huston, S.J. (2010). Measuring financial literacy. The Journal of Consumer Affairs, 44(2), page 296.

5. Humaira, I., & Sagoro, E. M. (2018), “Pengaruh pengetahuan keuangan, sikap keuangan, dan kepribadian terhadap perilaku manajemen keuangan pada pelaku UMKM sentra kerajinan batik KABUPATEN BANTUL”, Nominal: Barometer Riset Akuntansi dan Manajemen, Vol. 7 No. 1, pages 96-110.

6. ILO (2022), Tóm tắt nghiên cứu: Giới và thị trường lao động ở Việt Nam

7. Jayaraman, J. and S. Jambunathan (2018). “Financial literacy among high school students: Evidence from India.” Citizenship, Social and Economics Education 17(3): pages 168-187.

8. Ksendzova, M., Donnelly, G. E., & Howell, R. T. (2017). A brief money management scale and its associations with personality, financial health, and hypothetical debt repayment. Journal of Financial Counseling and Planning, 28(1), 62-75. https://doi. org/10.1891/1052-3073.28.1.62

9. Limbu, Y. B. and S. Sato (2019). “Credit card literacy and financial well-being of college students: A moderated mediation model of self-efficacy and credit card number.” International Journal of Bank Marketing.

10. Mandell, L. (2008). “The financial literacy of young American adults.” The Jumpstart Coalition for Personal Financial Literacy.

11. NYAMUTE, WINNIE, and JK Monyoncho Maina 2011. “Effect of financial literacy on personal financial management practices.” .

12. Nidar, S. R. and S. Bestari (2012). “Personal financial literacy among university students (case study at Padjadjaran University students, Bandung, Indonesia).” World Journal of Social Sciences 2(4): pages 162-171.

13. OECD (2013). OECD/info toolkit to measure financial literacy and financial inclusion: Guidance, core questionnaire and supplementary questions.

14. OECD (2015), OECD/INFE Toolkit for Measuring Financial Literacy and Financial Inclusion, OECD Publishing.

15. O’Neill, B., Xiao, J. J. (2006). Financial fitness quiz findings: Strengths, weaknesses, and disconnects. Journal of Extension, 44(1). Retrieved November 18, 2007, from http://www.joe.org.

16. OECD (2015), OECD/INFE Toolkit for Measuring Financial Literacy and Financial Inclusion, OECD Publishing.

17. OECD. (2018). OECD/INFE toolkit financial literacy and financial inclusion. Paris, France: OECD Publishing.

18. Parrotta, J. L., & Johnson, P. J. (1998). The Impact Of Financial Attitudes And Knowledge On Financial Management And Satisfaction Of Recently Married Inpiduals. Journal of Financial Counseling and Planning, 9(2), pages 59-75.

19. Remund, D. L. “Financial literacy explicated: The case for a clearer definition in an increasingly complex economy”. Journal of Consumer Affairs, 44(2), pages 276-295. (2010).

20. Stone, Dan, Ben Wier, and Stephanie Bryant. “Reducing Materialism through Financial Literacy”. CPA Journal, 78 (2): pages 12-14. (2008).

21. Yamauchi, Kent T., and Donald J. Templer. “The development of a money attitude scale.” Journal of personality assessment 46.5 (1982): pages 522-528.

22. Yu, Kar-Ming, et al. “Gender differences in financial literacy among Hong Kong workers.” Educational Gerontology 41.4 (2015): pages 315-326.

23. Khúc Thế Anh, Bùi Kiên Trung, Nguyễn Minh Phương (2022), “Tác động của dân trí tài chính đến quản lí chi tiêu của sinh viên Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 306, pages 31 - 40.

24. Tổng cục Thống kê (2022), Thông cáo báo chí tình hình lao động và việc làm quý I năm 2022.


TS. Khúc Thế Anh, TS. Phùng Thanh Quang, Hoàng Diệu Linh

Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng