Yếu tố tạo động lực làm việc cho nhân viên các ngân hàng thương mại

Chính sách
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất đem lại thành công cho doanh nghiệp. Thậm chí, theo các chuyên gia, kể cả khi chúng ta đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phụ thuộc khá nhiều vào má...
aa

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất đem lại thành công cho doanh nghiệp. Thậm chí, theo các chuyên gia, kể cả khi chúng ta đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phụ thuộc khá nhiều vào máy móc thì vai trò quyết định của con người vẫn không thể phủ nhận.

Trong hệ thống ngân hàng, vai trò quyết định của con người vẫn không thể phủ nhận.

Trong lĩnh vực ngân hàng, nguồn nhân lực quyết định đến sự ổn định và phát triển của ngân hàng và an toàn của hệ thống ngân hàng. Việc tạo động lực làm việc cho người lao động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chủ trương mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm qua của Việt Nam đã giúp nâng cao sức cạnh tranh cho hệ thống ngân hàng. Tính đến đầu năm 2018, hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam gồm 01 ngân hàng 100% vốn Nhà nước, 03 ngân hàng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 03 ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần mua bắt buộc; 28 NHTM cổ phần; 02 ngân hàng thuộc khối ngân hàng chính sách; 01 Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam; 09 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 02 ngân hàng liên doanh; 49 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 47 Văn phòng đại diện… (Bảng 1).

Yếu tố tạo động lực làm việc cho nhân viên các ngân hàng thương mại - Ảnh 1

Bên cạnh đó, chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thời gian qua đã đạt được những tiến bộ, trong đó phải kể đến trạng thái tài chính của các NHTM được cải thiện đáng kể. Cụ thể, bình quân lợi nhuận ròng/tổng tài sản toàn ngành đã tăng từ 0,6% trong năm 2015 lên xấp xỉ 1% trong năm 2018; lợi nhuận ròng trên vốn tự có tăng từ 6% năm 2015 lên gần 14% cuối năm 2018.

Đây là lần đầu tiên sau 10 năm, khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam đạt được mức độ bình quân của các ngân hàng trong khu vực Đông Nam Á. Trong năm 2018, nhiều NHTM đã đẩy nhanh tiến trình tăng vốn tự có để đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn của Basel II (tỷ lệ này đạt khoảng 4%)...

Tiến trình hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân hàng đã tạo nền tảng quan trọng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn nước ngoài lớn vào nền kinh tế nói chung và ngành dịch vụ tài chính nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng nâng cao tính thanh khoản và tiếp cận các nguồn vốn có chi phí thấp trên thế giới. Việc gia tăng cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam không chỉ giúp thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, kiến thức, năng lực điều hành mà còn phát triển được nguồn nhân lực ngân hàng đủ mạnh cả về chất lượng và số lượng, đảm bảo cho quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Các yếu tố tạo động lực cho nhân viên ngân hàng

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, các yếu tố tạo động lực cho nhân viên các NHTM được thể hiện ở các nội dung sau:

- Chính sách lương, thưởng: Chính sách này đóng vai trò quan trọng để tái sản xuất sức lao động tại các doanh nghiệp (DN) nói chung và các NHTM nói riêng. Tiền lương chỉ trở thành động lực thúc đẩy người lao động khi: Chính sách tiền lương hợp lý; Mức chi trả tiền lương được hình thành có cơ sở khoa học; Cơ cấu tiền lương tương xứng và hình thức trả lương phù hợp.

Trong những năm qua, các NHTM luôn quan tâm đến chính sách lương, thưởng nhằm tạo khuyến khích và động lực làm việc cho cán bộ, nhân viên. Thậm chí, chính sách lương, thưởng trong các dịp lễ, Tết cho cán bộ, nhân viên luôn là vấn đề, thu hút được sự quan tâm không chỉ của người lao động mà toàn xã hội. Đánh giá chung cho thấy, chính sách lương, thưởng, phúc lợi tại các NHTM hiện nay phù hợp với mặt bằng chung của xã hội, thậm chí cao hơn so với các ngành nghề, lĩnh vực khác. Các NHTM luôn nỗ lực trong việc nâng cao thu nhập cho người lao động.

Yếu tố tạo động lực làm việc cho nhân viên các ngân hàng thương mại - Ảnh 2

Chẳng hạn, năm 2018, thu nhập bình quân tháng của nhân viên Vietcombank cao nhất hệ thống ngân hàng với 37 triệu đồng/người/tháng, tiếp sau là BIDV với 29 triệu đồng/người/tháng... Các ngân hàng TCB, MBB, VIB, TPB cũng đạt thu nhập bình quân 25-30 triệu đồng/người/tháng… Như vậy, nhờ kết quả tích cực trong hoạt động kinh doanh, các NHTM đã có chính sách lương thưởng tốt nhằm động viên, khuyến khích sự đóng góp nhiều hơn nữa của cán bộ, nhân viên.

- Tính chất công việc: Đây là một thành tố quan trọng động viên nhân viên. Hackman và Oldham cho rằng, công việc có những đặc trưng thiết yếu và tồn tại một động lực nội tại, từ đó người lao động sẽ được kích thích tăng năng suất làm việc tùy theo bản thân mỗi công việc. Với việc áp dụng các kinh nghiệm quản trị trên thế giới, các ngân hàng đã có sự phân định công việc rõ ràng ở các phòng ban, cơ bản thiết kế mô tả công việc cho từng phòng ban, vị trí… Bên cạnh đó, hiện nay, tại các phòng ban, cơ bản những người trẻ, có kiến thức, được đào tạo bài bản trong và ngoài nước, dễ tiếp thu những kiến thức mới, chịu được áp lực cao, ưa thích những công việc nhiều thách thức và thú vị…

- Môi trường làm việc: là nơi mà người lao động gắn bó trong suốt thời gian làm việc, nơi diễn ra quá trình thực hiện công việc của người lao động, bao gồm: Điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến.

Khảo sát tại các NHTM cho thấy, về điều kiện làm việc, các ngân hàng đã chú trọng tạo môi trường làm việc thân thiện, gắn kết; Chú trọng đầu tư, hiện đại hóa hệ thống phần mềm, trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng để tác động tích cực đến động lực làm việc và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Đặc biệt, trước xu thế bùng nổ của Fintech và Cách mạng công nghiệp 4.0, các ngân hàng đã quan tâm đầu tư hạ tầng công nghệ, qua đó hỗ trợ cho cán bộ, nhân viên quản lý, triển khai công việc hiệu quả, chuyên nghiệp hơn.

Trong khi đó, về cơ hội thăng tiến, các NHTM có chính sách đề bạt, thăng tiến và tạo điều kiện công bằng cho tất cả các nhân viên trong việc thăng tiến. Thực tế cho thấy hiện nay, nhiều cán bộ chủ chốt cấp cao tại các NHTM có tuổi đời khá trẻ, được tạo cơ hội đào tạo, thử thách và bổ nhiệm lên các chức vụ mới.

- Đánh giá thành tích: Là quá trình đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên theo những mục tiêu đã đặt ra trong một thời điểm. Hoạt động này nhằm cải tiến khả năng thực hiện công việc của người lao động và giúp lãnh đạo DN đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn như đào tạo và phát triển, thù lao, thăng tiến… Thông thường việc đánh giá thành tích bao gồm việc xác định: Mục tiêu đánh giá; tiêu chí đánh giá; phương pháp đánh giá; đối tượng thực hiện đánh giá; thời gian và kinh phí đánh giá.

- Công tác đào tạo: Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa rất lớn đối với các DN nói chung và NHTM nói riêng. Thông qua việc tổ chức các khóa đào tạo sẽ làm tăng kết quả thực hiện công việc của nhân viên, giúp họ nâng cao kỹ năng và kiến thức mới. Để đào tạo đạt kết quả cao, các NHTM cần phải: Xác định khả năng trình độ hiện có của người lao động, thực hiện phân tích công việc để biết được yêu cầu công việc, xác định được chiến lược phát triển của ngân hàng, mục tiêu, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngân hàng. Thời gian qua, các NHTM thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo cho nhân viên mới, các khóa đào tạo nghiệp vụ; Tạo điều kiện thuận lợi cho toàn bộ nhân viên tham gia học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức…

- Các hoạt động tinh thần: Yếu tố tinh thần được xem là động lực thúc đẩy người lao động, góp phần thúc đẩy tinh thần làm việc cho người lao động làm việc với tất cả lòng nhiệt tình. Thực tế cho thấy, công việc tại NHTM thường chịu áp lực rất lớn, do vậy việc luôn tổ chức các hoạt động tinh thần có thể góp phần thúc đẩy khả năng cống hiến, làm việc của người lao động. Thời gian qua, các NHTM luôn chú trọng đến các hoạt động tinh thần, nhằm tạo sự hứng khởi, vui tươi để các cán bộ, nhân viên cống hiến nhiều hơn cho ngân hàng. Các hoạt động teambuilding được tổ chức thường xuyên nhằm tạo sự kết nối trong các nhân viên...

Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao động lực làm việc của nhân viên các NHTM, các ngân hàng cần tiếp tục chú trọng triển khai một số giải pháp sau:

Một là, xây dựng chế độ lương, thưởng cạnh tranh, tương xứng với mức độ cống hiến của từng người. Thực tế cho thấy, chế độ lương, thưởng hợp lý và cạnh tranh, đảm bảo cuộc sống và công bằng sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ nhằm đóng góp một cách tối đa cho hoạt động của ngân hàng.

Hai là, tạo cơ hội thăng tiến, phát triển nghề nghiệp cho nhân viên. Cùng với quá trình giao việc, cần thường xuyên kiểm tra, giám sát, theo dõi hiệu quả làm việc của các vị trí quản lý và có những đánh giá kịp thời. Việc tạo cơ hội thăng tiến, phát triển nghề nghiệp hoặc luân chuyển vị trí đối với người lao động, đặc biệt là người trẻ có năng lực sẽ góp phần lan tỏa sức trẻ, sự sáng tạo, chuyên nghiệp trong công tác điều hành, quản lý cũng như kinh doanh tại các NHTM, góp phần làm mới công việc, tạo điều kiện cho nhân viên nắm bắt các kiến thức mới...

Ba là, xây dựng chương trình đào tạo, nâng cao trình độ nhân viên: Ngân hàng có thể cử nhân viên đi học các lớp học nghiệp vụ trong và ngoài nước nhằm nâng cao thông qua việc hợp với các cơ sở đào tạo để mở các lớp hoặc mời chuyên gia đến giảng dạy trực tiếp tại hội sở, chi nhánh. Sau quá trình đào tạo, ngân hàng cần tạo điều kiện để mọi nhân viên có cơ hội ứng dụng những gì mình được học vào thực tế công việc hàng ngày.

Bốn là, đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc: Hiệu quả công việc phụ thuộc khá nhiều việc cơ sở vật chất, điều kiện làm việc tốt hay không. Thực tế, hiện nay, các NHTM luôn chú trọng đến việc đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc tốt nhất để phục vụ công việc cho cán bộ, nhân viên. Tuy nhiên, đòi hỏi từ thực tiễn cần phải có chính sách nâng cấp, xây dựng các phòng giao dịch cho phù hợp với quy mô nhân sự, khối lượng công việc cho từng thời điểm phù hợp.

Năm là, tiếp tục quan tâm đến đời sống tinh thần: Luôn quan tâm đến đời sống tinh thần của cán bộ, nhân viên bởi ngân hàng là lĩnh vực có rất nhiều áp lực. Tổ chức du lịch, tham quan, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên, là cơ sở tạo động lực hữu hiệu đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên đơn vị. Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua giữa các phòng ban, kích thích sự ganh đua tích cực giữa các cá nhân người lao động, giữa các nhóm và tập thể…

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Kim Dung (2009), Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Thống kê, TP. Hà Nội;
2. Lê Thế Giới (2011), Giáo trình quản trị học, NXB Tài chính;
3. Huỳnh Thị Sỹ Liên (2015), Tạo động lực thúc đẩy người lao động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Á, chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ;
4. Nguyễn Sỹ Hưng (2016), Tạo động lực thúc đẩy nhân viên làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum, Luận văn Thạc sỹ.

ThS. Tăng Đình Sơn

Nguồn: http://tapchitaichinh.vn


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng