Triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu sau đại dịch Covid-19

Quốc tế
Kinh tế thế giới năm 2021 khép lại với xu hướng phục hồi kể từ khi chịu tác động nghiêm trọng và nặng nề của đại dịch Covid-19. Tuy vậy, đà phục hồi có sự phân hóa rõ ràng giữa các nền kinh tế. Nhiều tổ chức kinh tế dự báo xu hướng phục hồi này vẫn tiếp diễn trong năm 2022, nhưng nhiều khả năng tốc độ sẽ chậm lại khi hiệu ứng của các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, kích cầu giảm sút và các nước vừa phải kiểm soát dịch bệnh, vừa phải thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng.
aa

Kinh tế thế giới năm 2021 khép lại với xu hướng phục hồi kể từ khi chịu tác động nghiêm trọng và nặng nề của đại dịch Covid-19. Tuy vậy, đà phục hồi có sự phân hóa rõ ràng giữa các nền kinh tế. Nhiều tổ chức kinh tế dự báo xu hướng phục hồi này vẫn tiếp diễn trong năm 2022, nhưng nhiều khả năng tốc độ sẽ chậm lại khi hiệu ứng của các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, kích cầu giảm sút và các nước vừa phải kiểm soát dịch bệnh, vừa phải thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng.

Quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu hiện nay

Kể từ quý III/2020 đến nay, kinh tế toàn cầu từng bước thoát ra khỏi giai đoạn suy thoái và bắt đầu xu hướng dần phục hồi trở lại. Tuy nhiên, quá trình phục hồi này có sự khác biệt so với những lần phục hồi sau các cuộc khủng hoảng, suy thoái theo chu kỳ trước đây.

Thứ nhất, sau khi tăng trưởng GDP sụt giảm mạnh -3,1% trong năm 2020 do tác động của đại dịch Covid-19, đà phục hồi của kinh tế toàn cầu diễn ra khá nhanh ngay sau đó khiến chu kỳ suy thoái kinh tế có dấu hiệu được rút ngắn hơn so với các khủng hoảng trước đây. Ngay từ quý III/2020, kinh tế thế giới đã bước đầu dần phục hồi. Bước sang năm 2021, đà phục hồi tiếp tục được củng cố và dẫn dắt trong 6 tháng đầu năm bởi các nền kinh tế phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo quý của Mỹ, châu Âu, Trung Quốc đều cho thấy mức độ tăng trưởng cao trong quý II/2021, trong đó Trung Quốc là quốc gia phục hồi nhanh nhất so với các nước khác do kinh nghiệm kiểm soát dịch bệnh trước đó cũng như đẩy nhanh việc triển khai tiêm phòng vắc-xin trên diện rộng (Đồ thị 1). Trái lại, các nền kinh tế mới nổi có mức độ phục hồi chậm hơn do chịu sự tác động của biến thể Delta cũng như việc tiếp cận các nguồn vắc-xin còn hạn chế.

Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng GDP một số nước lớn (%y/y)


Nguồn: Tradingeconomics.com

Kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát, hầu hết các nền kinh tế đều tập trung mọi nguồn lực để phòng, chống dịch (thực hiện các biện pháp mạnh như đóng cửa, hạn chế đi lại, giãn cách xã hội… đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, sản xuất vắc-xin ngừa Covid-19), đồng thời triển khai nhiều gói kích thích kinh tế quy mô lớn, hướng vào nền kinh tế nội địa. Qua đó, các chính sách tiền tệ và tài khóa cho thấy đã phát huy hiệu quả, giúp các nền kinh tế nhanh chóng vượt qua khủng hoảng, khôi phục nền kinh tế.

Trên lĩnh vực sản xuất, Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tại hầu hết các nền kinh tế lớn đã đạt mức cao nhất nhiều năm. PMI sản xuất tại Mỹ sau khi giảm xuống mức thấp kỷ lục vào tháng 5/2020 (41,5 điểm) đã nhanh chóng phục hồi lên mức cao nhất trong nhiều năm vào tháng 4/2021 (64,7 điểm). Tại châu Âu, PMI sản xuất sau khi giảm xuống mức thấp 33,3 điểm trong tháng 5/2020 đã nhanh chóng phục hồi lại mức 63,3 điểm vào tháng 4/2021. Xu hướng này cũng diễn ra tương tự tại các nền kinh tế khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... Tuy vậy, mức độ phục hồi của các nền kinh tế phát triển có sự tăng tốc mạnh mẽ hơn các nền kinh tế mới nổi (Đồ thị 2).

Đồ thị 2: PMI toàn cầu


Nguồn: AMRO Group Economics

Trên góc độ thương mại toàn cầu, giá trị thương mại toàn cầu cũng nhanh chóng phục hồi, thậm chí đã cao hơn mức trước khủng hoảng Covid-19. Sự phục hồi của thương mại toàn cầu chủ yếu nhờ các mặt hàng liên quan đến dịch bệnh, hàng hóa tiêu dùng lâu bền và các trang thiết bị y tế. Thương mại toàn cầu cũng tăng nhanh trong bối cảnh nhu cầu sản xuất và tiêu dùng phục hồi. Trong quý I/2021, giá trị thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu đã tăng khoảng 4% so với quý IV/2020 và tăng 10% so với cùng kỳ năm 2020. Đáng chú ý, giá trị này đã cao hơn mức trước khủng hoảng Covid-19, tương đương mức tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2019. Do tăng trưởng kinh tế có phần chậm lại trong nửa cuối năm 2021 nên thương mại toàn cầu cũng có xu hướng chậm dần. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chỉ số thương mại hàng hóa trong tháng 11/2021 đã giảm xuống còn 99,5 điểm, gần mức điểm cơ sở 100, sau khi ghi nhận mức kỷ lục 110,4 điểm vào tháng 8/2021. Tháng 10/2021, WTO dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu trong năm 2021 là 10,8% (tăng 2,8% so với dự báo công bố tháng 3/2021) nhờ sự gia tăng trở lại của các hoạt động kinh tế trong nửa đầu năm 2021. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 10/2021 dự báo thương mại toàn cầu năm 2021 tăng 9,7% so với mức giảm -8,2% trong năm 2020 (Đồ thị 3).

Đồ thị 3: Thương mại toàn cầu năm 2021 (%)


Thứ hai, các thị trường chủ chốt (thị trường tài chính, chứng khoán...) chỉ suy giảm trong thời gian ngắn đã phục hồi ngay sau đó, thậm chí nhiều thị trường chứng khoán trên toàn cầu đã tăng cao hơn mức trước đại dịch Covid-19. Chỉ số chứng khoán Nasdaq Composite, S&P 500 và Down Jones đều tăng hơn 10% so với cuối năm 2020. Xu hướng thị trường chứng khoán tại Mỹ cũng đã tác động đến hầu hết các thị trường chứng khoán tại châu Âu và châu Á; chỉ số Nikkei 225 (Nhật Bản) và chỉ số KOSPI (Hàn Quốc) cũng tăng khá so với cuối năm 2020.

Thứ ba, quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu giai đoạn hiện nay gắn liền với chuyển đổi mô hình kinh tế, dịch chuyển chuỗi cung ứng. Trong nửa đầu năm 2021, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu phục hồi mạnh, trong đó, các nền kinh tế phát triển ghi nhận mức tăng lớn nhất với FDI ước tính đạt 424 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2020. Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) tháng 10/2021 dự báo FDI toàn cầu năm 2021 ước đạt 852 tỷ USD (FDI toàn cầu năm 2019 đạt 1.500 tỷ USD; năm 2020 giảm xuống còn 859 tỷ USD). Bên cạnh đó, các nước đẩy nhanh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực thi chính sách cải cách, chuyển đổi nền kinh tế sang các lĩnh vực kinh tế số, công nghệ cao... từ đó tạo thêm dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế.

Thứ tư, kinh tế thế giới phục hồi song không đồng đều và có sự phân hóa giữa các khu vực; nhóm các nước phát triển trở thành động lực tăng trưởng chính của toàn cầu (Mỹ, châu Âu, Trung Quốc) khi có lợi thế về vắc-xin, do đó mức độ bao phủ tiêm chủng vắc-xin được đẩy mạnh. Điều này cũng đã được đề cập tại điểm thứ nhất ở trên đây. Trong số các nền kinh tế lớn, kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu chậm lại trong nửa cuối năm 2021 khi Chính phủ siết chặt các quy định đối với thị trường bất động sản khiến hoạt động trong ngành này sụt giảm (đóng góp khoảng 20% tăng trưởng kinh tế); và tình trạng thiếu điện kéo dài trên diện rộng. Trong khi đó, nhóm các nước đang phát triển có sự phục hồi chậm hơn do chưa tự chủ được nguồn cung vắc-xin Covid-19, buộc phải áp dụng trở lại một số biện pháp mạnh để vừa phòng, chống dịch vừa phục hồi sản xuất.

Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 dự kiến tiếp tục xu hướng phục hồi khi các nước đẩy mạnh thích ứng, sống chung với dịch bệnh và triển khai các chương trình, kế hoạch phục hồi kinh tế sau đại dịch. Tuy nhiên, đà tăng trưởng của kinh tế thế giới nhiều khả năng sẽ chậm lại trong năm 2022 khi hiệu ứng của các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng, kích cầu giảm sút và các nước vừa phải phòng, chống dịch, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Biến thể Delta xuất hiện trong bối cảnh tỷ lệ tiêm chủng diễn ra chậm trong nửa đầu năm 2021, các vấn đề chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với sự chậm lại của kinh tế Trung Quốc đã làm dấy lên lo ngại về tăng trưởng toàn cầu chậm hơn và lạm phát cao hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu bắt đầu “sống chung với Covid-19” thì xu hướng phục hồi dự kiến có thể sẽ tiếp tục được tiếp diễn, đặc biệt khi tỷ lệ bao phủ vắc-xin gia tăng. Xu hướng các nước chuyển sang chính sách “sống chung với dịch bệnh” và dần mở cửa lại nền kinh tế sẽ tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế thế giới (WEO) công bố ngày 12/10/2021, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 đạt 4,9%, trong đó, Mỹ tăng 5,2%; châu Âu tăng 4,3%; Nhật Bản tăng 3,2%; Trung Quốc tăng 5,6%; thương mại toàn cầu sau khi phục hồi ước đạt 9,7% trong năm 2021, dự kiến tiếp tục tăng 6,7% năm 2022. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia đã và đang đẩy mạnh triển khai các chương trình, kế hoạch phục hồi kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, nhiều nước ưu tiên khôi phục hoạt động sản xuất, cung ứng trước tình trạng chênh lệch cung - cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất nhằm tạo môi trường kinh doanh có sức bật cho khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi tăng trưởng (Đồ thị 4 và Đồ thị 5).

Đồ thị 4: Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 (%)


Nguồn: IMF - World Economic Outlook (October 2021)

Đồ thị 5: Thương mại toàn cầu dự kiến tiếp tục cải thiện




Nguồn: WTO

Mặc dù kinh tế toàn cầu dự kiến tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng rủi ro gia tăng đáng kể có thể làm chững lại đà phục hồi vốn đang bấp bênh và khá mong manh.

Thứ nhất, không ai có thể chắc chắn khi nào đại dịch Covid-19 được kiểm soát triệt để, đặc biệt là nguy cơ những biến thể mới có thể xuất hiện làm tái bùng phát dịch bệnh ngay cả ở những nước phát triển đã phổ cập vắc-xin, từ đó ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu.

Thứ hai, điều kiện tài chính toàn cầu dự kiến sẽ thắt chặt hơn. Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc gia, buộc các ngân hàng trung ương, các chính phủ giảm quy mô kích thích kinh tế và kích hoạt “bình thường hóa lãi suất”. Việc thắt chặt chính sách quá nhanh có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp, tác động tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trong số các nền kinh tế lớn, lạm phát là một vấn đề tương đối nóng ở Mỹ và Anh và được dự báo có mức tăng lạm phát lớn nhất trong năm 2022, chủ yếu do gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài. Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định rằng, lạm phát tăng trong năm 2021 chủ yếu do nhiều nước tái khởi động lại nền kinh tế, cộng hưởng với hiệu ứng cơ sở (base effect) của năm 2020, nên tỷ lệ lạm phát tăng mạnh. Tiếp đó là trong thời gian dịch Covid-19 diễn ra, chính phủ các nước đã tung ra các gói kích thích kinh tế với tổng giá trị rất lớn để kích cầu. Tuy vậy, cũng không thể chủ quan với áp lực lạm phát trong thời gian tới.

Khi dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát triệt để, tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng chưa có dấu hiệu cải thiện, đẩy chi phí hàng hóa và dịch vụ lên cao, kinh tế phục hồi bấp bênh khiến nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại môi trường lạm phát cao và tăng trưởng kinh tế thấp có thể khiến kinh tế toàn cầu quay trở lại thập niên lạm phát đình trệ. IMF cảnh báo sự chênh lệch nguy hiểm về triển vọng kinh tế do sự mất cân bằng lớn nguồn cung

vắc-xin Covid-19, khi có gần 60% dân số tại các nước phát triển đã được tiêm chủng, tỷ lệ này tại nền kinh tế mới nổi là 36%, trong khi tại các nước có thu nhập thấp mới chỉ có 4%, dẫn đến tăng trưởng thấp hơn trong thời gian dài, nghèo đói gia tăng và nguy cơ lạm phát tăng vọt. Cũng đồng quan điểm này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa phát đi những tín hiệu hồi phục mạnh mẽ, nguy cơ xảy ra tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) là có. Đây là hiện tượng kinh tế tăng trưởng thấp trong khi tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp đều cao.

Thứ ba, quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra không đồng đều. Như đã đề cập ở trên, các nền kinh tế phát triển hiện nay đang là động lực chính của sự phục hồi. Điều này làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các nước, đẩy các nước có thu nhập thấp vào nguy cơ tụt hậu xa hơn cũng như sự phụ thuộc lớn hơn vào các nước phát triển.

Thứ tư, căng thẳng chính trị giữa các nước lớn có thể cản trở đà phục hồi kinh tế toàn cầu. Cạnh tranh Mỹ và Trung Quốc trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, công nghệ, tài chính và đầu tư, cùng với các lệnh trừng phạt vẫn đang tiếp diễn. Theo Economist Intelligence Unit - EIU (Anh), điều này có thể dẫn đến sự chia rẽ giữa các nền kinh tế ủng hộ Trung Quốc và ủng hộ Mỹ. Từ đó, gián tiếp làm gia tăng sự không chắc chắn trong thương mại và đầu tư toàn cầu.

ThS. Nguyễn Thị Thúy Linh (NHNN)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng