Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao vượt xa mục tiêu đề ra, mở đường cho nông nghiệp xanh

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng cho tái cơ cấu ngành lúa gạo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tín dụng nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò “đòn bẩy” then chốt, góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Với định hướng chính sách linh hoạt và dòng vốn ưu tiên, ngành Ngân hàng đã tích cực đồng hành, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Lúa gạo không chỉ là một ngành hàng quan trọng trong nông nghiệp mà còn là trụ cột đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định sinh kế cho hàng triệu nông dân, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, yêu cầu sản xuất xanh và bền vững trở thành xu thế tất yếu, ngày 27/11/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030” (Quyết định số 1490/QĐ-TTg) - gọi tắt là Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đây là Đề án có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trong sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, tạo ra những bước đi vững chắc, mang tính đột phá cho ngành lúa gạo Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của xu thế quốc tế mới, qua đó khẳng định và giữ vững vị thế của thương hiệu gạo của nước ta trên thị trường quốc tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho người nông dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của Đề án, NHNN đã triển khai các giải pháp nhằm định hướng và khơi thông dòng vốn tín dụng kịp thời, đồng bộ và bền vững. Đặc biệt, tín dụng nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp, duy trì chuỗi cung ứng nông sản, thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói chung và ngành lúa, gạo nói riêng, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả Đề án.

1. NHNN ban hành, triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL

Ngay từ trước khi có Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao và cho tới nay, toàn ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp tín dụng để góp phần thúc đẩy phát triển ngành lúa gạo vùng ĐBSCL, thông qua các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; hội nghị chuyên đề về tín dụng đối với ngành nông sản chủ lực và lúa gạo vùng ĐBSCL; văn bản chỉ đạo1 tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung cho vay, mở rộng hạn mức tín dụng, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cho vay... để đáp ứng vốn từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, thu mua, tiêu thụ nông sản và lúa gạo, qua đó tạo điều kiện thuận lợi tối đa trong quan hệ tín dụng cho cho hộ dân, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo. Các giải pháp này đã góp phần thúc đẩy đầu tư tín dụng đối với ngành lúa gạo.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, dư nợ ngành lúa gạo tăng bình quân 14,8%2 - cao hơn mức tăng trung bình 13,02% của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với ngành lúa gạo đạt trên 257 nghìn tỉ đồng, trong đó dư nợ tại vùng ĐBSCL chiếm khoảng 49%.

Riêng đối với nhiệm vụ được giao tại Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, NHNN đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương vùng ĐBSCL và đơn vị liên quan xây dựng Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL (viết tắt là Chương trình cho vay liên kết). Theo đó, Chương trình cho vay liên kết được thực hiện theo 2 giai đoạn, tương ứng với 2 giai đoạn triển khai Đề án theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg, gồm: Giai đoạn thí điểm (2024 - 2025) do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng chủ lực cho vay; và Giai đoạn mở rộng (2026 - 2030) tại các TCTD. Nguồn lực cho vay bằng nguồn vốn tự huy động của TCTD để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, trung, dài hạn của tất cả các khâu (sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ) trong liên kết lúa gạo; các TCTD chủ động cân đối nguồn vốn, tiết giảm chi phí để xem xét áp dụng lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 01%/năm. Ngoài ưu đãi lãi suất theo Chương trình cho vay liên kết, các chủ thể tham gia Đề án còn được hưởng các chính sách ưu đãi theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Ngay sau khi Chương trình cho vay liên kết được ban hành, vào tháng 11/2024 NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, Agribank tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình cho vay liên kết nhằm thông tin rộng rãi về Chương trình để các chủ thể tham gia Đề án kịp thời nắm bắt và sớm tiếp cận chính sách; đồng thời, tổ chức đoàn khảo sát tại một số mô hình liên kết tiêu biểu của vùng ĐBSCL để nắm bắt thực tế triển khai. Trong công tác chỉ đạo, điều hành, NHNN đã có nhiều văn bản3 chỉ đạo các ngân hàng đẩy mạnh triển khai Chương trình cho vay liên kết, sẵn sàng nguồn lực để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể tham gia Đề án. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã có các văn bản4 gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị phối hợp, cung cấp thông tin, tháo gỡ các vấn đề phát sinh liên quan đến vùng chuyên canh, danh sách doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia Đề án, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình cho vay.

2. Kết quả đạt được sau 2 năm triển khai

Sau 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao đã ghi nhận những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả bước đầu triển khai thực hiện Đề án cho thấy hiệu quả rõ rệt, diện tích chuyên canh lúa chất lượng cao thực hiện đã đạt 354.839 héc-ta so với mục tiêu 180.000 héc-ta của giai đoạn đầu, tương đương 197% kế hoạch đề ra.

Toàn bộ 354.839 héc-ta tham gia Đề án đều áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Việc sử dụng giống lúa chất lượng cao được áp dụng trên 100% diện tích. Lượng giống gieo sạ được giảm từ 30 - 50%, lượng phân đạm giảm khoảng 30% và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2 - 3 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20%. Ngoài ra, toàn bộ diện tích tham gia Đề án đều áp dụng ít nhất một tiêu chí trong quy trình canh tác bền vững như thực hành "1 phải - 5 giảm" (“1 phải” là phải sử dụng giống lúa có chứng nhận chất lượng; "5 giảm" là giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch), hoặc rút nước ruộng ít nhất một lần trong vụ sản xuất. Song song với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn cũng được mở rộng. Đến nay, 7.493 héc-ta đã được chứng nhận VietGAP, 246 héc-ta đạt chứng nhận hữu cơ và 5.659 héc-ta đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.

Những thay đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống.

Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon (tỉnh Tây Ninh) Trương Hữu Trí cho biết: Kết quả thực tế cho thấy thực hiện mô hình 1 triệu héc-ta của Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon đạt hiệu quả vượt trội so với phương thức canh tác truyền thống. Chi phí giống giảm hơn 1,16 triệu đồng/héc-ta; chi phí phân bón và thuốc giảm gần 3 triệu đồng/héc-ta; tổng chi phí đầu tư giảm khoảng 4,62 triệu đồng/héc-ta. Năng suất ước đạt 8,5 tấn/héc-ta, cao hơn khoảng 1 tấn/héc-ta so với ruộng đối chứng. Lợi nhuận ước tính đạt khoảng 32,77 triệu đồng/héc-ta, tăng hơn 10,5 triệu đồng/héc-ta so với phương thức canh tác truyền thống.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, nông dân trong tỉnh tham gia Đề án thời gian qua cho thấy đã giảm chi phí đầu vào 4,1 triệu đồng/héc-ta, tăng lợi nhuận hơn 9,3 triệu đồng/héc-ta so với canh tác truyền thống.

Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ cho biết, đến năm 2025, Thành phố đã triển khai Đề án trên hơn 104.000 héc-ta và đặt mục tiêu đạt gần 171.000 héc-ta vào năm 2030 với 171 tổ hợp tác và hợp tác xã tham gia.

Về phía ngành Ngân hàng, việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nêu trên đã đạt nhiều kết quả tích cực, kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp danh sách vùng chuyên canh và chủ thể tham gia Đề án đến cuối năm 2025 - thời điểm kết thúc giai đoạn cho vay thí điểm (trong vòng 7 tháng), doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt khoảng 3.200 tỉ đồng. Bên cạnh việc triển khai Chương trình, các ngân hàng đã và đang triển khai cho vay đối với khách hàng sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ, tiêu thụ lúa gạo tại vùng ĐBSCL với doanh số giải ngân lũy kế năm 2025 đạt khoảng 352 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 52% tổng doanh số giải ngân đối với lĩnh vực lúa gạo trên toàn quốc.

3. Một số kiến nghị với các bộ, ngành, địa phương

Để tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, giai đoạn mở rộng cho vay 2026 - 2030, ngành Ngân hàng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương trong hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Một số kiến nghị cụ thể như sau:

(i) Bộ Nông nghiệp và Môi trường

- Tiếp tục phối hợp với NHNN và các địa phương để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, tạo thuận lợi cho các đối tượng tham gia Chương trình cho vay liên kết.

- Định kỳ hằng năm phối hợp với các địa phương rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đáp ứng điều kiện tham gia Đề án và gửi về NHNN sao gửi cho các ngân hàng để có cơ sở cho vay đúng đối tượng; đồng thời, bổ sung thông tin khách hàng (mã số thuế, đại diện pháp lý, số điện thoại liên hệ, diện tích, địa chỉ vùng chuyên canh tham gia thực hiện Đề án…) trong danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã để thuận tiện cho các TCTD trong việc tiếp cận và thẩm định khách hàng.

- Tiếp tục phối hợp với địa phương công bố bản đồ, chỉ giới địa lý cụ thể của vùng chuyên canh sản xuất lúa, làm cơ sở xác định vị trí chuyên canh theo Đề án.

(ii) Ủy ban nhân dân 12 tỉnh, thành phố

- Định kỳ hằng năm rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đủ điều kiện tham gia Đề án trên địa bàn và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp chung.

- Tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn xác định cụ thể diện tích, vị trí cũng như bản đồ các vùng chuyên canh gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố chung.

(iii) Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Tiếp tục hướng dẫn, tuyên truyền về Chương trình cho vay liên kết để các thành viên nắm bắt, tiếp cận chính sách thuận lợi.

(iv) Các hộ dân, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia Đề án

- Chủ động phối hợp cung cấp đầy đủ, minh bạch thông tin về tình hình tài chính, hoạt động, xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh... để các ngân hàng thương mại có cơ sở thẩm định, quyết định cho vay.

- Thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong thỏa thuận liên kết giữa các bên; thỏa thuận cho vay ký kết với các TCTD cho vay.

4. Định hướng cho giai đoạn tiếp theo

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, ngành lúa gạo vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định việc làm, sinh kế và an sinh xã hội.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tiếp tục chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng; tổ chức triển khai hiệu quả Nghị định số 156/2025/NĐ-CP và các chương trình tín dụng đặc thù trong lĩnh vực nông nghiệp.

Song song với đó, NHNN tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi của Đề án.

1 Trong 2 năm 2024 - 2025, NHNN đã ban hành 5 văn bản chỉ đạo liên quan đến tín dụng cho ngành lúa gạo.

2 Năm 2021 tăng 12,94%; 2022 tăng 14,34%; 2023 tăng 24,09%; 2024 tăng 6,09%; năm 2025 tăng 16,47%.

3 Trong năm 2025, NHNN có 5 văn bản gửi TCTD về hướng dẫn, tổ chức triển khai Chương trình cho vay.

4 Trong năm 2025, NHNN có 2 văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị cung cấp thông tin về dự kiến nhu cầu vốn tín dụng của chủ thể tham gia Đề án; tổng hợp, công bố chung vùng chuyên canh, các liên kết và chủ thể tham gia liên kết để các TCTD cân đối nguồn vốn tín dụng, xem xét, quyết định cho vay; phối hợp xử lý các kiến nghị của các ngân hàng thương mại nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình.

ThS. Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Tin bài khác

Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số

Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát

Hướng tới kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2026), chiều 16/6, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải Báo chí Quốc gia qua các năm.
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Bài viết tổng quan hoạt động ngân hàng tại các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), nhấn mạnh bốn khía cạnh: Mô hình tổ chức, khung pháp lý Basel III, tác động kinh tế và đổi mới công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp lý, thu hút đầu tư tài chính nước ngoài, tăng quản lý rủi ro và phát triển hệ sinh thái công nghệ tài chính (Fintech) cho Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng