Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao vượt xa mục tiêu đề ra, mở đường cho nông nghiệp xanh

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng cho tái cơ cấu ngành lúa gạo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tín dụng nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò “đòn bẩy” then chốt, góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Với định hướng chính sách linh hoạt và dòng vốn ưu tiên, ngành Ngân hàng đã tích cực đồng hành, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Lúa gạo không chỉ là một ngành hàng quan trọng trong nông nghiệp mà còn là trụ cột đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định sinh kế cho hàng triệu nông dân, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, yêu cầu sản xuất xanh và bền vững trở thành xu thế tất yếu, ngày 27/11/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030” (Quyết định số 1490/QĐ-TTg) - gọi tắt là Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đây là Đề án có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trong sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, tạo ra những bước đi vững chắc, mang tính đột phá cho ngành lúa gạo Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của xu thế quốc tế mới, qua đó khẳng định và giữ vững vị thế của thương hiệu gạo của nước ta trên thị trường quốc tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho người nông dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của Đề án, NHNN đã triển khai các giải pháp nhằm định hướng và khơi thông dòng vốn tín dụng kịp thời, đồng bộ và bền vững. Đặc biệt, tín dụng nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp, duy trì chuỗi cung ứng nông sản, thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói chung và ngành lúa, gạo nói riêng, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả Đề án.

1. NHNN ban hành, triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL

Ngay từ trước khi có Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao và cho tới nay, toàn ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp tín dụng để góp phần thúc đẩy phát triển ngành lúa gạo vùng ĐBSCL, thông qua các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; hội nghị chuyên đề về tín dụng đối với ngành nông sản chủ lực và lúa gạo vùng ĐBSCL; văn bản chỉ đạo1 tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung cho vay, mở rộng hạn mức tín dụng, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cho vay... để đáp ứng vốn từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, thu mua, tiêu thụ nông sản và lúa gạo, qua đó tạo điều kiện thuận lợi tối đa trong quan hệ tín dụng cho cho hộ dân, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo. Các giải pháp này đã góp phần thúc đẩy đầu tư tín dụng đối với ngành lúa gạo.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, dư nợ ngành lúa gạo tăng bình quân 14,8%2 - cao hơn mức tăng trung bình 13,02% của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với ngành lúa gạo đạt trên 257 nghìn tỉ đồng, trong đó dư nợ tại vùng ĐBSCL chiếm khoảng 49%.

Riêng đối với nhiệm vụ được giao tại Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, NHNN đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương vùng ĐBSCL và đơn vị liên quan xây dựng Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL (viết tắt là Chương trình cho vay liên kết). Theo đó, Chương trình cho vay liên kết được thực hiện theo 2 giai đoạn, tương ứng với 2 giai đoạn triển khai Đề án theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg, gồm: Giai đoạn thí điểm (2024 - 2025) do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng chủ lực cho vay; và Giai đoạn mở rộng (2026 - 2030) tại các TCTD. Nguồn lực cho vay bằng nguồn vốn tự huy động của TCTD để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, trung, dài hạn của tất cả các khâu (sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ) trong liên kết lúa gạo; các TCTD chủ động cân đối nguồn vốn, tiết giảm chi phí để xem xét áp dụng lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 01%/năm. Ngoài ưu đãi lãi suất theo Chương trình cho vay liên kết, các chủ thể tham gia Đề án còn được hưởng các chính sách ưu đãi theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Ngay sau khi Chương trình cho vay liên kết được ban hành, vào tháng 11/2024 NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, Agribank tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình cho vay liên kết nhằm thông tin rộng rãi về Chương trình để các chủ thể tham gia Đề án kịp thời nắm bắt và sớm tiếp cận chính sách; đồng thời, tổ chức đoàn khảo sát tại một số mô hình liên kết tiêu biểu của vùng ĐBSCL để nắm bắt thực tế triển khai. Trong công tác chỉ đạo, điều hành, NHNN đã có nhiều văn bản3 chỉ đạo các ngân hàng đẩy mạnh triển khai Chương trình cho vay liên kết, sẵn sàng nguồn lực để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể tham gia Đề án. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã có các văn bản4 gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị phối hợp, cung cấp thông tin, tháo gỡ các vấn đề phát sinh liên quan đến vùng chuyên canh, danh sách doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia Đề án, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình cho vay.

2. Kết quả đạt được sau 2 năm triển khai

Sau 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao đã ghi nhận những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả bước đầu triển khai thực hiện Đề án cho thấy hiệu quả rõ rệt, diện tích chuyên canh lúa chất lượng cao thực hiện đã đạt 354.839 héc-ta so với mục tiêu 180.000 héc-ta của giai đoạn đầu, tương đương 197% kế hoạch đề ra.

Toàn bộ 354.839 héc-ta tham gia Đề án đều áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Việc sử dụng giống lúa chất lượng cao được áp dụng trên 100% diện tích. Lượng giống gieo sạ được giảm từ 30 - 50%, lượng phân đạm giảm khoảng 30% và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2 - 3 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20%. Ngoài ra, toàn bộ diện tích tham gia Đề án đều áp dụng ít nhất một tiêu chí trong quy trình canh tác bền vững như thực hành "1 phải - 5 giảm" (“1 phải” là phải sử dụng giống lúa có chứng nhận chất lượng; "5 giảm" là giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch), hoặc rút nước ruộng ít nhất một lần trong vụ sản xuất. Song song với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn cũng được mở rộng. Đến nay, 7.493 héc-ta đã được chứng nhận VietGAP, 246 héc-ta đạt chứng nhận hữu cơ và 5.659 héc-ta đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.

Những thay đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống.

Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon (tỉnh Tây Ninh) Trương Hữu Trí cho biết: Kết quả thực tế cho thấy thực hiện mô hình 1 triệu héc-ta của Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon đạt hiệu quả vượt trội so với phương thức canh tác truyền thống. Chi phí giống giảm hơn 1,16 triệu đồng/héc-ta; chi phí phân bón và thuốc giảm gần 3 triệu đồng/héc-ta; tổng chi phí đầu tư giảm khoảng 4,62 triệu đồng/héc-ta. Năng suất ước đạt 8,5 tấn/héc-ta, cao hơn khoảng 1 tấn/héc-ta so với ruộng đối chứng. Lợi nhuận ước tính đạt khoảng 32,77 triệu đồng/héc-ta, tăng hơn 10,5 triệu đồng/héc-ta so với phương thức canh tác truyền thống.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, nông dân trong tỉnh tham gia Đề án thời gian qua cho thấy đã giảm chi phí đầu vào 4,1 triệu đồng/héc-ta, tăng lợi nhuận hơn 9,3 triệu đồng/héc-ta so với canh tác truyền thống.

Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ cho biết, đến năm 2025, Thành phố đã triển khai Đề án trên hơn 104.000 héc-ta và đặt mục tiêu đạt gần 171.000 héc-ta vào năm 2030 với 171 tổ hợp tác và hợp tác xã tham gia.

Về phía ngành Ngân hàng, việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nêu trên đã đạt nhiều kết quả tích cực, kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp danh sách vùng chuyên canh và chủ thể tham gia Đề án đến cuối năm 2025 - thời điểm kết thúc giai đoạn cho vay thí điểm (trong vòng 7 tháng), doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt khoảng 3.200 tỉ đồng. Bên cạnh việc triển khai Chương trình, các ngân hàng đã và đang triển khai cho vay đối với khách hàng sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ, tiêu thụ lúa gạo tại vùng ĐBSCL với doanh số giải ngân lũy kế năm 2025 đạt khoảng 352 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 52% tổng doanh số giải ngân đối với lĩnh vực lúa gạo trên toàn quốc.

3. Một số kiến nghị với các bộ, ngành, địa phương

Để tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, giai đoạn mở rộng cho vay 2026 - 2030, ngành Ngân hàng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương trong hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Một số kiến nghị cụ thể như sau:

(i) Bộ Nông nghiệp và Môi trường

- Tiếp tục phối hợp với NHNN và các địa phương để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, tạo thuận lợi cho các đối tượng tham gia Chương trình cho vay liên kết.

- Định kỳ hằng năm phối hợp với các địa phương rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đáp ứng điều kiện tham gia Đề án và gửi về NHNN sao gửi cho các ngân hàng để có cơ sở cho vay đúng đối tượng; đồng thời, bổ sung thông tin khách hàng (mã số thuế, đại diện pháp lý, số điện thoại liên hệ, diện tích, địa chỉ vùng chuyên canh tham gia thực hiện Đề án…) trong danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã để thuận tiện cho các TCTD trong việc tiếp cận và thẩm định khách hàng.

- Tiếp tục phối hợp với địa phương công bố bản đồ, chỉ giới địa lý cụ thể của vùng chuyên canh sản xuất lúa, làm cơ sở xác định vị trí chuyên canh theo Đề án.

(ii) Ủy ban nhân dân 12 tỉnh, thành phố

- Định kỳ hằng năm rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đủ điều kiện tham gia Đề án trên địa bàn và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp chung.

- Tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn xác định cụ thể diện tích, vị trí cũng như bản đồ các vùng chuyên canh gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố chung.

(iii) Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Tiếp tục hướng dẫn, tuyên truyền về Chương trình cho vay liên kết để các thành viên nắm bắt, tiếp cận chính sách thuận lợi.

(iv) Các hộ dân, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia Đề án

- Chủ động phối hợp cung cấp đầy đủ, minh bạch thông tin về tình hình tài chính, hoạt động, xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh... để các ngân hàng thương mại có cơ sở thẩm định, quyết định cho vay.

- Thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong thỏa thuận liên kết giữa các bên; thỏa thuận cho vay ký kết với các TCTD cho vay.

4. Định hướng cho giai đoạn tiếp theo

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, ngành lúa gạo vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định việc làm, sinh kế và an sinh xã hội.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tiếp tục chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng; tổ chức triển khai hiệu quả Nghị định số 156/2025/NĐ-CP và các chương trình tín dụng đặc thù trong lĩnh vực nông nghiệp.

Song song với đó, NHNN tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi của Đề án.

1 Trong 2 năm 2024 - 2025, NHNN đã ban hành 5 văn bản chỉ đạo liên quan đến tín dụng cho ngành lúa gạo.

2 Năm 2021 tăng 12,94%; 2022 tăng 14,34%; 2023 tăng 24,09%; 2024 tăng 6,09%; năm 2025 tăng 16,47%.

3 Trong năm 2025, NHNN có 5 văn bản gửi TCTD về hướng dẫn, tổ chức triển khai Chương trình cho vay.

4 Trong năm 2025, NHNN có 2 văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị cung cấp thông tin về dự kiến nhu cầu vốn tín dụng của chủ thể tham gia Đề án; tổng hợp, công bố chung vùng chuyên canh, các liên kết và chủ thể tham gia liên kết để các TCTD cân đối nguồn vốn tín dụng, xem xét, quyết định cho vay; phối hợp xử lý các kiến nghị của các ngân hàng thương mại nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình.

ThS. Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối