Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao vượt xa mục tiêu đề ra, mở đường cho nông nghiệp xanh

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng cho tái cơ cấu ngành lúa gạo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tín dụng nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò “đòn bẩy” then chốt, góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Với định hướng chính sách linh hoạt và dòng vốn ưu tiên, ngành Ngân hàng đã tích cực đồng hành, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Lúa gạo không chỉ là một ngành hàng quan trọng trong nông nghiệp mà còn là trụ cột đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định sinh kế cho hàng triệu nông dân, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, yêu cầu sản xuất xanh và bền vững trở thành xu thế tất yếu, ngày 27/11/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030” (Quyết định số 1490/QĐ-TTg) - gọi tắt là Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đây là Đề án có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trong sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, tạo ra những bước đi vững chắc, mang tính đột phá cho ngành lúa gạo Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của xu thế quốc tế mới, qua đó khẳng định và giữ vững vị thế của thương hiệu gạo của nước ta trên thị trường quốc tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho người nông dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của Đề án, NHNN đã triển khai các giải pháp nhằm định hướng và khơi thông dòng vốn tín dụng kịp thời, đồng bộ và bền vững. Đặc biệt, tín dụng nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp, duy trì chuỗi cung ứng nông sản, thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói chung và ngành lúa, gạo nói riêng, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả Đề án.

1. NHNN ban hành, triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL

Ngay từ trước khi có Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao và cho tới nay, toàn ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp tín dụng để góp phần thúc đẩy phát triển ngành lúa gạo vùng ĐBSCL, thông qua các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; hội nghị chuyên đề về tín dụng đối với ngành nông sản chủ lực và lúa gạo vùng ĐBSCL; văn bản chỉ đạo1 tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung cho vay, mở rộng hạn mức tín dụng, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cho vay... để đáp ứng vốn từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, thu mua, tiêu thụ nông sản và lúa gạo, qua đó tạo điều kiện thuận lợi tối đa trong quan hệ tín dụng cho cho hộ dân, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo. Các giải pháp này đã góp phần thúc đẩy đầu tư tín dụng đối với ngành lúa gạo.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, dư nợ ngành lúa gạo tăng bình quân 14,8%2 - cao hơn mức tăng trung bình 13,02% của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với ngành lúa gạo đạt trên 257 nghìn tỉ đồng, trong đó dư nợ tại vùng ĐBSCL chiếm khoảng 49%.

Riêng đối với nhiệm vụ được giao tại Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, NHNN đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương vùng ĐBSCL và đơn vị liên quan xây dựng Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL (viết tắt là Chương trình cho vay liên kết). Theo đó, Chương trình cho vay liên kết được thực hiện theo 2 giai đoạn, tương ứng với 2 giai đoạn triển khai Đề án theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg, gồm: Giai đoạn thí điểm (2024 - 2025) do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng chủ lực cho vay; và Giai đoạn mở rộng (2026 - 2030) tại các TCTD. Nguồn lực cho vay bằng nguồn vốn tự huy động của TCTD để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, trung, dài hạn của tất cả các khâu (sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ) trong liên kết lúa gạo; các TCTD chủ động cân đối nguồn vốn, tiết giảm chi phí để xem xét áp dụng lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 01%/năm. Ngoài ưu đãi lãi suất theo Chương trình cho vay liên kết, các chủ thể tham gia Đề án còn được hưởng các chính sách ưu đãi theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Ngay sau khi Chương trình cho vay liên kết được ban hành, vào tháng 11/2024 NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, Agribank tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình cho vay liên kết nhằm thông tin rộng rãi về Chương trình để các chủ thể tham gia Đề án kịp thời nắm bắt và sớm tiếp cận chính sách; đồng thời, tổ chức đoàn khảo sát tại một số mô hình liên kết tiêu biểu của vùng ĐBSCL để nắm bắt thực tế triển khai. Trong công tác chỉ đạo, điều hành, NHNN đã có nhiều văn bản3 chỉ đạo các ngân hàng đẩy mạnh triển khai Chương trình cho vay liên kết, sẵn sàng nguồn lực để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể tham gia Đề án. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã có các văn bản4 gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị phối hợp, cung cấp thông tin, tháo gỡ các vấn đề phát sinh liên quan đến vùng chuyên canh, danh sách doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia Đề án, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình cho vay.

2. Kết quả đạt được sau 2 năm triển khai

Sau 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao đã ghi nhận những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả bước đầu triển khai thực hiện Đề án cho thấy hiệu quả rõ rệt, diện tích chuyên canh lúa chất lượng cao thực hiện đã đạt 354.839 héc-ta so với mục tiêu 180.000 héc-ta của giai đoạn đầu, tương đương 197% kế hoạch đề ra.

Toàn bộ 354.839 héc-ta tham gia Đề án đều áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Việc sử dụng giống lúa chất lượng cao được áp dụng trên 100% diện tích. Lượng giống gieo sạ được giảm từ 30 - 50%, lượng phân đạm giảm khoảng 30% và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2 - 3 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20%. Ngoài ra, toàn bộ diện tích tham gia Đề án đều áp dụng ít nhất một tiêu chí trong quy trình canh tác bền vững như thực hành "1 phải - 5 giảm" (“1 phải” là phải sử dụng giống lúa có chứng nhận chất lượng; "5 giảm" là giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch), hoặc rút nước ruộng ít nhất một lần trong vụ sản xuất. Song song với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn cũng được mở rộng. Đến nay, 7.493 héc-ta đã được chứng nhận VietGAP, 246 héc-ta đạt chứng nhận hữu cơ và 5.659 héc-ta đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.

Những thay đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống.

Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon (tỉnh Tây Ninh) Trương Hữu Trí cho biết: Kết quả thực tế cho thấy thực hiện mô hình 1 triệu héc-ta của Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gon đạt hiệu quả vượt trội so với phương thức canh tác truyền thống. Chi phí giống giảm hơn 1,16 triệu đồng/héc-ta; chi phí phân bón và thuốc giảm gần 3 triệu đồng/héc-ta; tổng chi phí đầu tư giảm khoảng 4,62 triệu đồng/héc-ta. Năng suất ước đạt 8,5 tấn/héc-ta, cao hơn khoảng 1 tấn/héc-ta so với ruộng đối chứng. Lợi nhuận ước tính đạt khoảng 32,77 triệu đồng/héc-ta, tăng hơn 10,5 triệu đồng/héc-ta so với phương thức canh tác truyền thống.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, nông dân trong tỉnh tham gia Đề án thời gian qua cho thấy đã giảm chi phí đầu vào 4,1 triệu đồng/héc-ta, tăng lợi nhuận hơn 9,3 triệu đồng/héc-ta so với canh tác truyền thống.

Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ cho biết, đến năm 2025, Thành phố đã triển khai Đề án trên hơn 104.000 héc-ta và đặt mục tiêu đạt gần 171.000 héc-ta vào năm 2030 với 171 tổ hợp tác và hợp tác xã tham gia.

Về phía ngành Ngân hàng, việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nêu trên đã đạt nhiều kết quả tích cực, kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp danh sách vùng chuyên canh và chủ thể tham gia Đề án đến cuối năm 2025 - thời điểm kết thúc giai đoạn cho vay thí điểm (trong vòng 7 tháng), doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt khoảng 3.200 tỉ đồng. Bên cạnh việc triển khai Chương trình, các ngân hàng đã và đang triển khai cho vay đối với khách hàng sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ, tiêu thụ lúa gạo tại vùng ĐBSCL với doanh số giải ngân lũy kế năm 2025 đạt khoảng 352 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 52% tổng doanh số giải ngân đối với lĩnh vực lúa gạo trên toàn quốc.

3. Một số kiến nghị với các bộ, ngành, địa phương

Để tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thúc đẩy Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, giai đoạn mở rộng cho vay 2026 - 2030, ngành Ngân hàng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương trong hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Một số kiến nghị cụ thể như sau:

(i) Bộ Nông nghiệp và Môi trường

- Tiếp tục phối hợp với NHNN và các địa phương để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, tạo thuận lợi cho các đối tượng tham gia Chương trình cho vay liên kết.

- Định kỳ hằng năm phối hợp với các địa phương rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đáp ứng điều kiện tham gia Đề án và gửi về NHNN sao gửi cho các ngân hàng để có cơ sở cho vay đúng đối tượng; đồng thời, bổ sung thông tin khách hàng (mã số thuế, đại diện pháp lý, số điện thoại liên hệ, diện tích, địa chỉ vùng chuyên canh tham gia thực hiện Đề án…) trong danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã để thuận tiện cho các TCTD trong việc tiếp cận và thẩm định khách hàng.

- Tiếp tục phối hợp với địa phương công bố bản đồ, chỉ giới địa lý cụ thể của vùng chuyên canh sản xuất lúa, làm cơ sở xác định vị trí chuyên canh theo Đề án.

(ii) Ủy ban nhân dân 12 tỉnh, thành phố

- Định kỳ hằng năm rà soát, cập nhật danh sách doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã đủ điều kiện tham gia Đề án trên địa bàn và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp chung.

- Tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn xác định cụ thể diện tích, vị trí cũng như bản đồ các vùng chuyên canh gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố chung.

(iii) Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Tiếp tục hướng dẫn, tuyên truyền về Chương trình cho vay liên kết để các thành viên nắm bắt, tiếp cận chính sách thuận lợi.

(iv) Các hộ dân, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia Đề án

- Chủ động phối hợp cung cấp đầy đủ, minh bạch thông tin về tình hình tài chính, hoạt động, xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh... để các ngân hàng thương mại có cơ sở thẩm định, quyết định cho vay.

- Thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong thỏa thuận liên kết giữa các bên; thỏa thuận cho vay ký kết với các TCTD cho vay.

4. Định hướng cho giai đoạn tiếp theo

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, ngành lúa gạo vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định việc làm, sinh kế và an sinh xã hội.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tiếp tục chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng; tổ chức triển khai hiệu quả Nghị định số 156/2025/NĐ-CP và các chương trình tín dụng đặc thù trong lĩnh vực nông nghiệp.

Song song với đó, NHNN tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi của Đề án.

1 Trong 2 năm 2024 - 2025, NHNN đã ban hành 5 văn bản chỉ đạo liên quan đến tín dụng cho ngành lúa gạo.

2 Năm 2021 tăng 12,94%; 2022 tăng 14,34%; 2023 tăng 24,09%; 2024 tăng 6,09%; năm 2025 tăng 16,47%.

3 Trong năm 2025, NHNN có 5 văn bản gửi TCTD về hướng dẫn, tổ chức triển khai Chương trình cho vay.

4 Trong năm 2025, NHNN có 2 văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị cung cấp thông tin về dự kiến nhu cầu vốn tín dụng của chủ thể tham gia Đề án; tổng hợp, công bố chung vùng chuyên canh, các liên kết và chủ thể tham gia liên kết để các TCTD cân đối nguồn vốn tín dụng, xem xét, quyết định cho vay; phối hợp xử lý các kiến nghị của các ngân hàng thương mại nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai Chương trình.

ThS. Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Xem thêm
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN ngày 30/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính, đảm bảo mọi hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều phải phục vụ mục tiêu hàng đầu là bảo vệ an toàn vốn và tuân thủ giới hạn đầu tư theo Luật Các TCTD.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành