Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Nhà Lãnh đạo cách mạng tài ba - Tổng Công trình sư của thời kỳ đổi mới

Kinh tế - xã hội
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Võ Văn Kiệt - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ về cố Thủ tướng, một chiến sỹ cách mạng kiên trung, nhà lãnh đạo vì nước, vì dân, bản lĩnh, năng động, quyết đoán, dành trọn cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam cả trong thời chiến tranh khói lửa cũng như trong hòa bình. Trên hành trình dài cùng đất nước, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có những cống hiến vô cùng to lớn, sáng tạo trong thời kỳ đổi mới, góp phần quan trọng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định và vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.
aa

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Võ Văn Kiệt - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ về cố Thủ tướng, một chiến sỹ cách mạng kiên trung, nhà lãnh đạo vì nước, vì dân, bản lĩnh, năng động, quyết đoán, dành trọn cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam cả trong thời chiến tranh khói lửa cũng như trong hòa bình. Trên hành trình dài cùng đất nước, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có những cống hiến vô cùng to lớn, sáng tạo trong thời kỳ đổi mới, góp phần quan trọng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định và vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Người cộng sản kiên trung, trọn một đời vì sự nghiệp cách mạng



Chân dung Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Nguồn ảnh: Internet)

Đồng chí Võ Văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, Chín Dũng, sinh ngày 23/11/1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long - một vùng đất giàu truyền thống cách mạng.

Với tinh thần yêu nước, Phan Văn Hòa đã sớm hình thành tư tưởng hướng về cách mạng. Năm 1938, khi mới 16 tuổi, đồng chí Phan Văn Hòa đã tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào Thanh niên phản đế. Đến tháng 11/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó làm Bí thư Chi bộ, Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm và tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Vĩnh Long.

Những năm 1941 - 1945, đồng chí Võ Văn Kiệt hoạt động ở vùng U Minh, Kiên Giang, tham gia Tỉnh ủy Rạch Giá, chỉ đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở thị xã Rạch Giá và các huyện, giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Năm 1950, đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu là Phó Bí thư, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu. Đến năm 1955, đồng chí Võ Văn Kiệt là Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư Liên tỉnh ủy Hậu Giang, sát cánh cùng đồng chí Lê Duẩn xây dựng Đề cương cách mạng miền Nam - cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó Đảng ta nghiên cứu cho ra đời Nghị quyết 15, thổi bùng lên phong trào Đồng khởi, làm phá sản Chiến tranh đặc biệt của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quan trọng của cách mạng miền Nam Việt Nam.

Năm 1960, khi được điều động về Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Võ Văn Kiệt đã kiến nghị Xứ ủy sáp nhập Sài Gòn - Chợ Lớn với Gia Định hình thành địa bàn chiến lược, tạo nên thế trận mới, gắn nội thị với ven đô, gắn Sài Gòn với vùng nông thôn rộng lớn miền Đông Nam Bộ. Với 10 năm làm Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, đồng chí Võ Văn Kiệt đã bám sát địa bàn, dành nhiều thời gian ở Củ Chi, nhiều lần ra vào nội thành, chỉ đạo sát sao việc xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang ngay trong nội thành, phát triển các lực lượng cốt cán, tổ chức các phong trào đấu tranh của các giới đồng bào…

Năm 1971, đồng chí Võ Văn Kiệt được điều động về làm Bí thư Khu ủy Khu 9 (Tây Nam Bộ). Đây là giai đoạn địch đánh phá ác liệt kết hợp bao vây, phong tỏa kinh tế, gây khó khăn lớn cho quân và dân ta ở khu căn cứ địa. Mỹ - ngụy tiến hành “bình định cấp tốc” lấn đất, gom dân, đóng thêm đồn bốt ở vùng U Minh thượng, U Minh hạ với chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”. Trước tình hình đó, Đồng chí đã kiên quyết chỉ đạo “Mệnh lệnh tối cao lúc này là phải giữ đất, giữ dân… nếu không chống địch lấn chiếm, để mất đất, mất dân lúc này là mất tất cả”.

Từ năm 1973 đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân công giữ nhiều chức vụ quan trọng như Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên trong Đảng ủy đặc biệt của chiến dịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Văn Kiệt là người có năng lực “thiên phú” về hoạt động thực tiễn, có phương pháp vận động, tuyên truyền, cảm hóa, thu phục lòng người. Ở bất kỳ hoàn cảnh nào, trên bất cứ cương vị nào, đồng chí Võ Văn Kiệt luôn nêu cao tấm gương sáng về tinh thần chủ động cách mạng tiến công, kiên cường bám dân, bám đất ở những địa bàn xung yếu và ác liệt nhất, gây dựng và phát triển phong trào cách mạng. Cùng với các đồng chí trong Đảng ủy đặc biệt của chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt đã lãnh đạo quân và dân ta đánh thắng mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù xâm lược, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta làm nên chiến thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày 30/4/1975, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân công làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, rồi Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí đã cùng lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra những quyết sách hết sức năng động, phù hợp với tình hình thực tiễn, từng bước tháo gỡ khó khăn, góp phần quan trọng đưa Thành phố dần đi vào ổn định, phát triển vững chắc, trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước. Thời kỳ đó, đồng chí Võ Văn Kiệt được người dân Thành phố Hồ Chí Minh gọi với cái tên bình dị và thân thương “Chủ tịch gạo” vì đã giải quyết được vấn đề thiếu lương thực nghiêm trọng của Thành phố lúc bấy giờ, hay “Bí thư xé rào” bởi những quyết sách mà Đồng chí đưa ra không rập khuôn, giáo điều, luôn tìm tòi, sáng tạo trong cách làm, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất để tạo nên những chuyển biến trong đời sống kinh tế, xã hội, nhanh chóng thoát khỏi trì trệ của cơ chế không còn phù hợp.

Tháng 3/1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị; tháng 4/1982, đồng chí được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (tháng 8/1991), đồng chí Võ Văn Kiệt được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX (tháng 10/1992) đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó cũng là thời điểm Việt Nam đang thực hiện bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Những năm trước đổi mới, kinh tế nước ta thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, hàng hóa được phân phối theo tem phiếu; việc người dân tự do mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển hàng hóa từ địa phương này sang địa phương khác bị hạn chế... Nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Lạm phát bị đẩy lên tốc độ phi mã ở mức ba con số trong nhiều năm, đỉnh cao là 774,7% năm 1986; nông dân và doanh nghiệp thiếu động lực sản xuất; Việt Nam phải nhập khẩu bo bo để chống đói… Trước tình hình đó, từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm thoát khỏi tình trạng trì trệ của kinh tế - xã hội, tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để.

Trên cương vị Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng chí Võ Văn Kiệt đã quyết định thành lập Tổ Tư vấn kinh tế, tập hợp trí tuệ của những chuyên gia ở miền Bắc, chuyên gia người Việt đang công tác tại các nước Nhật Bản, Mỹ và cả chuyên gia từng làm việc trong chính quyền Sài Gòn cũ để thảo luận về các vấn đề của nền kinh tế. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lắng nghe ý kiến của các thành viên, nêu vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ cũng như đặt hàng về những vấn đề cần góp ý kiến; nghiên cứu, tìm tòi, phân tích để có những quyết định xuất phát từ thực tiễn đất nước, tránh những biểu hiện rập khuôn, giáo điều. Đặc biệt, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ủng hộ quyền tự do kinh doanh của người dân theo pháp luật; ủng hộ thu hút đầu tư nước ngoài; cương quyết “cởi trói” cho doanh nghiệp từ việc xóa bỏ các rào cản “ngăn sông cấm chợ” đối với hàng hóa trao đổi từ các tỉnh lên thành phố, đến việc kết nối kinh doanh với “thị trường tư bản chủ nghĩa”, tự do hóa xuất, nhập khẩu, xóa bỏ độc quyền nhà nước về xuất, nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ với thị trường tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới; thúc đẩy quá trình phát huy lực lượng doanh nhân trong nước, giải quyết những rào cản hạn chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dân doanh.

Dưới sự quản lý, điều hành của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nền kinh tế đất nước đã dần thoát khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái, vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội; kinh tế nông nghiệp khởi sắc, sản lượng lương thực tăng nhanh, tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990; kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao, ổn định, GDP trung bình đạt 8,2%/năm.

Với tư chất thông minh, bản lĩnh, nghị lực phi thường và tầm nhìn chiến lược, Thủ tướng Võ Văn Kiệt luôn nuôi ý chí và khát vọng đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, trở nên giàu mạnh, “mọi chủ trương, việc làm đều vì đất nước phồn thịnh, mọi tầng lớp nhân dân được sung sướng”. Trong 06 năm giữ trọng trách cao nhất của Chính phủ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có những quyết định táo bạo, là “tổng công trình sư” của nhiều dự án mang tầm vóc thế kỷ thời kỳ đổi mới; là nhà thi công tài ba với những công trình tiêu biểu mang đậm dấu ấn của vị Thủ tướng tài ba Võ Văn Kiệt.

Năm 1988, khi đang là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Võ Văn Kiệt đã chủ trương thực hiện chương trình 10 năm đầu tư khai phá vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, cải tạo vùng đất bị nhiễm phèn, mặn trở thành vùng đất màu mỡ, trù phú, phát triển về nông nghiệp, thủy sản, người dân có nước ngọt để dùng; xây dựng hệ thống công trình kiểm soát lũ tràn và sử dụng nước lũ vào việc cải tạo vùng đất bắc Hà Tiên. Chương trình khai phá Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã nâng số lượng lúa hàng hóa lên rất nhiều, góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Vùng đất phèn trước đây có tràm mọc lơ thơ nay trở thành là đồng lúa phì nhiêu, những cánh đồng mẫu lớn. Cùng với đó là hiệu quả của hệ thống trục chính về thủy lợi và giao thông trong chương trình “Sống chung với lũ”, đã giúp cho trên 10 triệu người dân đồng bằng sông Cửu Long có cuộc sống ổn định mỗi mùa nước nổi, đời sống người dân vùng lũ bớt khó khăn hơn, chất lượng môi trường tăng lên đáng kể.



Thủ tướng Võ Văn Kiệt cùng các cán bộ, công nhân trên công trường đường dây 500 kV Bắc - Nam
khi còn đương nhiệm (Nguồn ảnh: Internet)

Năm 1992, với cương vị là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật hệ thống truyền tải điện 500 kV Bắc - Nam. Đây là hệ thống tải điện với đường dây siêu cao áp 500 kV đầu tiên ở Việt Nam, chuyển tải năng lượng từ nhà máy Thủy điện Hòa Bình vào miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam. Công trình được khởi công xây dựng vào đúng ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam (30/4/1992), “mở con đường sáng dọc Trường Sơn đưa điện miền Bắc vào miền Nam thành công". Trong quá trình hai năm thi công, “Thủ tướng điện” đã liên tục có mặt trực tiếp tại công trường, tại những vị trí thi công hiểm trở, động viên cán bộ, nhân viên, công nhân đang ngày đêm gấp rút làm việc quên mình dưới thời tiết khắc nghiệt nắng mưa thất thường, đảm bảo tiến độ, chất lượng để sớm đem nguồn năng lượng điện phục vụ phát triển sản xuất và sinh hoạt của người dân. Hệ thống tải điện 500kV Bắc - Nam đã được đưa vào sử dụng đúng như dự kiến với mọi chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đều đạt và vượt yêu cầu của luận chứng ban đầu, đã giải quyết cơ bản tình trạng thiếu điện trầm trọng và triền miên ở miền Trung và miền Nam trước đây. Hơn thế, dự toán công trình là 5.700 tỷ đồng, nhưng quyết toán chỉ có 5.200 tỷ đồng, chỉ sau ba năm vận hành đã thu hồi vốn. Từ hiệu quả của đường dây 500 kV, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã quyết định cho xây dựng thủy điện Yaly cùng nhiều thủy điện, nhiệt điện khác và các nhà máy điện chạy khí đồng hành công suất lớn.

Công trình truyền tải điện 500 kV là xương sống của lưới điện quốc gia, giúp Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiện được cơ bản chương trình điện khí hóa toàn quốc; trở thành một trong những biểu tượng của thời kỳ đổi mới.

Trong lĩnh vực dầu khí, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã quyết đoán đưa ra quyết định đầy tranh cãi khi chọn Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của nước ta, bởi Dung Quất khi đó chỉ là một bãi đất trống, chưa có cơ sở hạ tầng, đường xá, giao thông không thuận tiện, lại xa các giếng dầu. Nhưng với nhãn quan chiến lược sáng suốt, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã kiên quyết giữ quan điểm: “Phải xây dựng Nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, trước hết là để đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước và tạo đà phát triển kinh tế cho tỉnh Quảng Ngãi và cả một khu vực miền Trung”.

Từ khi đi vào hoạt động đến nay, Nhà máy lọc dầu Dung Quất không chỉ luôn vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả, đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên mà còn trở thành “hạt nhân” thu hút nhiều dự án lớn đến với tỉnh Quảng Ngãi, tác động tích cực trong việc hình thành trung tâm công nghiệp nặng đầu tiên của Việt Nam tại Khu Kinh tế Dung Quất, góp phần rất có ý nghĩa cho khu vực kinh tế miền Trung và cả nước trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong lĩnh vực giao thông, công trình đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài mang đậm dấu ấn Võ Văn Kiệt. Con đường kết nối sân bay Nội Bài với nội đô mở ra cửa ngõ giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng không chỉ của Thủ đô mà của cả nước. Ngoài ra, quyết định mở con đường cao tốc Láng - Hòa Lạc đầy bất ngờ và táo bạo của Thủ tưởng Võ Văn Kiệt có ý nghĩa chiến lược và vai trò rất quan trọng với sự phát triển mạnh mẽ của cả khu vực phía tây Thủ đô Hà Nội; huyết mạch nối Thủ đô Hà Nội với các trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học ở khu vực Hòa Lạc. Đường Láng - Hòa Lạc nằm ở vị trí đầu mối, nối đường Hồ Chí Minh qua địa bàn Thủ đô Hà Nội kết nối giao thương với các tỉnh phía Bắc.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt còn là đại tác giả của đường Hồ Chí Minh, con đường nối hai thế kỷ, với câu nói: "Đường mòn Trường Sơn năm xưa đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc thì đường Hồ Chí Minh ngày nay không chỉ là con đường của thời đại công nghiệp hóa, làm cho dân giàu nước mạnh, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ quốc gia, mà còn là sự liên hệ máu thịt giữa hai miền Nam - Bắc". Ngày 24/9/1997, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký "Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể xa lộ Bắc - Nam". Từ Quyết định này, tháng 8/1998, chủ trương xây dựng công trình đã được Bộ Chính trị khóa VIII thông qua và chính thức đặt tên cho công trình là đường Hồ Chí Minh, nối Thủ đô Hà Nội với Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục kéo dài từ Pắc Pó, Cao Bằng đến Đất Mũi, Cà Mau.

Đặc biệt, đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc Tổ chuyên gia thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng, từ ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại; thành lập thanh tra, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thành lập thị trường liên ngân hàng, áp dụng biện pháp lãi suất để điều tiết tín dụng và thay cho khối lượng tiền tệ duy ý chí trước đây. Từ kết quả thực tiễn, Đồng chí đã chỉ đạo Tổ cải cách tập trung xây dựng Dự thảo Pháp lệnh Ngân hàng và Pháp lệnh Các hợp tác xã tín dụng, sau đó là xây dựng Luật Ngân hàng và Luật Hợp tác xã tín dụng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vận hành theo quy luật thị trường1.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo của nước nhà. Năm 1993, Thủ tướng đã ký Nghị định thành lập Đại học Quốc gia, chủ trương xã hội hóa giáo dục. Sự ra đời của hai trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đánh dấu mốc đổi mới sâu sắc trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại học. Lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện loại trường đại học đa lĩnh vực có quyền tự chủ cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Trên bình diện hội nhập quốc tế, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có đóng góp to lớn trong phá bỏ thế bao vây, cấm vận, chủ động hội nhập toàn cầu, nhất là trong thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ thiết lập cải thiện mối quan hệ với các nước ASEAN, Nhật Bản, EU..., tăng cường hợp tác với các nước Tây Bắc Âu…; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và đi vào kỷ nguyên hội nhập và phát triển; trở thành đối tác chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới, được bạn bè quốc tế tin cậy và đánh giá cao. Hãng tin NHK của Nhật Bản đã đánh giá: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt là nhà chính trị lỗi lạc, nhà ngoại giao đại tài và là một kiến trúc sư ưu tú của tiến trình đổi mới Việt Nam phát triển theo kinh tế thị trường”.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo thực tiễn, có tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị, sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo và linh hoạt, sâu sát thực tiễn, luôn trăn trở và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng, lãnh đạo đã ra đi mãi mãi vào ngày 11/6/2008, nhưng những gì mà cố Thủ tướng để lại cho đất nước và nhân dân Việt Nam là vô giá. Thế hệ con cháu chúng ta luôn tự hào, trân trọng và biết ơn, ghi nhớ những công lao to lớn, những nỗ lực phi thường, sự nhiệt huyết, quả cảm, năng động, quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nhận khuyết điểm… của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa Việt Nam từng bước đổi mới, hội nhập với tất cả các nước trên thế giới, khẳng định được vị thế, là tiền đề quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực như ngày hôm nay.

1 https://tuyengiao.vn/nghien-cuu/ly-luan/dau-an-vo-van-kiet-trong-cong-cuoc-doi-moi-141952

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Văn Kiệt (2012). Một nhân cách lớn; Nhà lãnh đạo tài năng; Suốt đời vì nước vì dân. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
2. Trần Minh Trưởng, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Văn Hải (2015). Võ Văn Kiệt - Tiểu sử. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Nguyễn Chiến Thắng (2017). Chất ngọc Võ Văn Kiệt. Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Vũ, Vân Phong (2013). Thủ tướng Võ Văn Kiệt tầm nhìn chiến lược của một nhà lãnh đạo xuất sắc. NXb Thanh niên, Hà Nội.
5. Phan Huy Lê... [et. al] (2008). Dấu ấn Võ Văn Kiệt. Nxb. Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Võ Văn Kiệt ( 2006). Đổi mới, bản lĩnh và sáng tạo. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
7. Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long (2012). Đồng chí Võ Văn Kiệt với cách mạng Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
8. Nguyễn Vũ, Vân Phong (2013). Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong tình cảm nhân dân và bạn bè quốc tế. Nxb Thanh niên, Hà Nội.
9. Tô Huy Rứa,...[et. al]. (2012). Võ Văn Kiệt - Một nhân cách lớn, nhà lãnh đạo tài năng, suốt đời vì nước vì dân: Hồi ký. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10. Nguyễn Vũ, Vân Phong (2013) Thủ tướng Võ Văn Kiệt với sự nghiệp đổi mới. Nxb Thanh niên, Hà Nội
11. https://tuyengiao.vn/nghien-cuu/ly-luan/dau-an-vo-van-kiet-trong-cong-cuoc-doi-moi-141952
12. Các bài viết trên một số website.


Mai Lâm (Hà Nội)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng