Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam

Chính sách
Đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước, cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, lớn mạnh về chất lượng, mở rộng về phạm vi địa bàn, lĩnh vực và quy mô hoạt động, trưởng thành về bản lĩnh thị trường và nâng cao về vị thế trong nền kinh tế quốc gia, từng bước vươn xa, khẳng định tầm vóc và sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
aa

Những phát triển về lượng và chất của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam

Đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước, cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, lớn mạnh về chất lượng, mở rộng về phạm vi địa bàn, lĩnh vực và quy mô hoạt động, trưởng thành về bản lĩnh thị trường và nâng cao về vị thế trong nền kinh tế quốc gia, từng bước vươn xa, khẳng định tầm vóc và sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2020, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 42% GDP, 30% thu ngân sách Nhà nước, 53% tổng vốn đầu tư của nền kinh tế Việt Nam và chiếm 83,3% vị trí việc làm xã hội, tức khoảng 45,2 triệu người.

Cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện có khoảng hơn 800 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động; dù đa số doanh nghiệp là vừa và nhỏ, song số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đạt tổng tài sản đến hàng trăm nghìn tỷ đồng và sử dụng hàng chục nghìn lao động. Khu vực tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn, sâu hơn vào hầu hết lĩnh vực của nền kinh tế, từ công nghiệp chế tạo cho đến du lịch, dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã hướng tới đột phá trong sản xuất công nghiệp và công nghệ với những dự án đầy tham vọng với hy vọng vươn ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, xuất hiện một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp của tư nhân có quy mô, tiềm lực tài chính lớn và quản trị, công nghệ hiện đại, đi tiên phong trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như sản xuất ô tô, hàng không, công nghệ thông tin, viễn thông, dịch vụ, bất động sản, nông nghiệp...; nhiều doanh nghiệp tư nhân như Vingroup, Masan, Vietjet, Techcombank, Thế giới di động, Novaland, Hòa Phát... đang có giá trị vốn hóa khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, chiếm 44% tổng giá trị của 29 doanh nghiệp lớn nhất trên sàn chứng khoán có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD. Trong danh sách 200 công ty có doanh thu trên 1 tỷ USD tốt nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương do Forbes Asia 2019 công bố, có 07 doanh nghiệp của Việt Nam. Theo Tạp chí Forbes (Mỹ), tính đến ngày 24/12/2021, Việt Nam có 06 tỷ phú (tổng cộng họ đang nắm giữ tổng tài sản khoảng 19,5 tỷ USD) nằm trong bảng xếp hạng tỷ phú USD của thế giới.

Đặc biệt, bản lĩnh và tầm nhìn kinh doanh của doanh nhân Việt Nam ngày càng được khẳng định, nói như ông Nguyễn Việt Quang, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Vingroup (thành lập năm 1993, là tập đoàn đa ngành tư nhân có vốn hóa lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, khoảng 17 tỷ USD), những gì các doanh nghiệp nước ngoài làm được thì người Việt chúng ta cũng sẽ làm được; nhiều doanh nhân cũng tự tin cho rằng doanh nhân Việt không hề thua kém các doanh nhân nước ngoài nếu trong cùng môi trường đầu tư như nhau. Bên cạnh đó, tính tiên phong của doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam cũng được khẳng định trong cả những lĩnh vực công nghệ thời thượng nhất.

Trong năm 2021, dù cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn lớn bởi đại dịch Covid-19, song theo Tổng cục Thống kê, cả nước bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; hơn nữa, dịch bệnh Covid-19 đã và đang tạo áp lực và cả động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ và bùng nổ kinh tế số ở Việt Nam cả về tốc độ và phạm vi, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tìm những hướng đi mới và hoạt động hiệu quả hơn… Các chỉ số xếp hạng trong nhiều lĩnh vực thuộc ngành Thông tin và Truyền thông đều được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Năm 2021, Việt Nam có 64.000 doanh nghiệp công nghệ số, tăng 5.600 doanh nghiệp so với năm 2020 và so với chỉ có 45.600 doanh nghiệp công nghệ số năm 2019. Nhiều doanh nghiệp công nghệ số đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm công nghệ 4.0... Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố 34 nền tảng số Make in Viet Nam. Các doanh nghiệp công nghệ số như VNPT, Viettel, CMC, FPT… có tiềm lực, có đóng góp lớn trong phát triển chính phủ số, kinh tế số với việc xây dựng các nền tảng số quốc gia. Các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam hiện nay không chỉ gia công, lắp ráp cho nước ngoài mà với tinh thần Make in Viet Nam, các doanh nghiệp đã vươn lên, sản xuất và làm chủ những sản phẩm, nền tảng công nghệ chuyển đổi số trong nước. Doanh thu ngành Thông tin và Truyền thông năm 2021 đạt 3.462.170 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2020 và cơ bản hoàn thành 100% kế hoạch đặt ra. Công nghiệp ICT, với doanh thu năm 2021 đạt hơn 136 tỷ USD, tăng hơn 11,4 tỷ USD so với năm 2020. Trong đó, doanh thu của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 18,779 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng doanh thu. Bên cạnh đó, giá trị của Việt Nam tạo ra trong doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 15% (hơn 17,6 tỷ USD). Giá trị Việt Nam trong tổng doanh thu công nghiệp ICT khoảng 33,568 tỷ USD (chiếm 24,65%).

Năm 2021, bất chấp dịch bệnh nặng nề, lần đầu tiên Việt Nam lọt vào Top 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%; khu vực kinh tế trong nước đạt 88,71 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 247,54 tỷ USD, tăng 21,1%, chiếm 73,6%.

Đặc biệt, đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước của Việt Nam năm 2021 đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 59,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành và tăng 7,2% so với năm trước, trong khi vốn khu vực Nhà nước giảm 2,9% và chiếm 24,7%; còn khu vực FDI giảm 1,1% và chỉ chiếm 15,8%.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam cũng ngày càng thấm nhuần tinh thần yêu nước, cộng đồng, tuân thủ pháp luật và tăng cường trách nhiệm xã hội; đóng góp ngày càng tích cực vào các hoạt động thiện nguyện và hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội… Một triết lý sống và truyền thống quý báu của doanh nhân Việt Nam là tư tưởng “Lá lành đùm lá rách”; gần như 100% các doanh nhân Việt Nam đều làm từ thiện và có kế hoạch từ thiện hằng năm; tỷ lệ doanh nghiệp làm từ thiện ở Việt Nam đứng hàng đầu thế giới. Chỉ riêng đợt dịch Covid-19, các doanh nghiệp Việt Nam đã đóng góp cho từ thiện khoảng 3 tỷ USD, trong đó có những doanh nghiệp đóng góp hàng trăm triệu USD. Một tinh thần, một trách nhiệm rất Việt Nam!

Những thành công và trưởng thành cả về lượng và chất của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân là rất to lớn và không phải là ngẫu nhiên. Đó là kết quả tổng hợp và thước đo hiệu quả khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường đồng bộ cùng một quá trình phấn đấu lâu dài, không ngừng nghỉ của Đảng, Chính phủ và Nhà nước, cũng như toàn thể cộng đồng doanh nghiệp tư nhân và doanh nhân Việt Nam.

Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đạt khoảng 55% GDP (năm 2025); 60 - 65% GDP (năm 2030) và 65 - 70% GDP (năm 2040).

Năm 2022 và thời gian tới, kinh tế tư nhân trong nước là động lực mạnh mẽ nhất, giúp phát triển và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Điều này phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Nhận diện và xử lý hành vi bôi nhọ, xuyên tạc, xúc phạm uy tín các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam

Cùng với việc tôn vinh các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam, thì một vấn đề nóng đang đặt ra là cần đề cao cảnh giác, tăng cường phê phán các quan điểm và hành vi cố tình xuyên tạc và bôi nhọ, xúc phạm uy tín các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong đời sống kinh tế - xã hội quốc gia và quốc tế.

Trong số các hành vi đó, có lẽ phổ biến hơn cả là hiện tượng dùng mạng xã hội để đăng thông tin xuyên tạc, bôi nhọ uy tín, thương hiệu của doanh nhân và doanh nghiệp trên thương trường. Với sự phát triển mạnh và tốc độ lan truyền như vũ bão của mạng xã hội hiện nay, việc tung tin thất thiệt, thông tin chưa được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí cố ý bôi nhọ, xúc phạm đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nhiều doanh nhân, doanh nghiệp.

Qua quan sát, có thể nhận thấy, có nhiều thành phần và động cơ tham gia vào các hoạt động cố tình bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu đội ngũ doanh nhân và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Trước hết, đó là các lực lượng chống đối Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong và ngoài nước. Những người này thường sử dụng các thông tin một chiều, thiếu chính xác rồi nâng cấp và quy chụp cho hệ thống doanh nhân Việt Nam là thành công chủ yếu nhờ hối lộ, móc ngoặc, ăn cắp của nhà nước, của dân…

Thứ hai, sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến sự thù địch và cản phá nhau giữa các đối thủ là các doanh nhân và doanh nghiệp, người nhà và người thân của họ cũng là một nguồn bổ sung vào danh mục các hành vi và lực lượng tham gia nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam… Thường là sau khi không đạt được nguyện vọng trong cạnh tranh, giành giật hợp đồng và thị trường thì “bên thua cuộc” sẽ triển khai kịch bản hạ bệ “kẻ thắng cuộc” thông qua hình thức viết đơn, thư, bài hoặc tung thông tin lên mạng xã hội để bôi nhọ đối thủ và nói xấu chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, một bộ phận khác bao gồm những người thiếu ý thức chính trị, thiếu thông tin và tinh thần xây dựng, manh động, cực đoan, thường vì lý do và lợi ích cá nhân, hễ thấy một thông tin tiêu cực cá biệt nào liên quan tới doanh nhân, doanh nghiệp và chính quyền, đất nước là lên mạng xã hội kích động, trách móc doanh nhân, doanh nghiệp và hệ thống chính quyền… để thể hiện cái tôi và câu view, like, ăn tiền quảng cáo cho trang cá nhân.

Thậm chí, một số cư dân mạng nấp sau bàn phím và nghĩ rằng mạng xã hội không bộc lộ rõ danh tính cá nhân, lại mang nặng tâm lý đám đông, bầy đàn, hễ thấy thông tin mới, giật gân, không rõ đầu đuôi tranh luận thế nào, người trong cuộc với câu chuyện ai sai, ai đúng… nhưng sẵn sàng trở thành “quan tòa tự phong” hay “anh hùng bàn phím” thể hiện thái độ và sự phản đối gay gắt bằng nhiều ngôn từ, hành vi cực đoan, kể cả lập nhóm tẩy chay, ghép hình “dìm hàng”, spam tin nhắn hàng loạt với nội dung đe dọa. Họ có thể thóa mạ bất kỳ ai để thỏa mãn cơn nóng giận nhất thời và bức xúc cá nhân về một chuyện hoàn toàn khác, bất chấp hình ảnh người Việt xấu xí, đố kỵ đã, đang và sẽ in hằn trong tâm thức cộng đồng quốc tế và bị kẻ xấu, kẻ thù địch lấy làm hả hê và lợi dụng để tạo hình ảnh xấu về dân tộc Việt Nam.

Hành vi cố ý đưa thông tin không đúng sự thật và bôi nhọ về doanh nhân và doanh nghiệp trên mạng xã hội có tính chất kết nối, truyền thông tin rộng rãi trên khắp thế giới, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vu khống theo Điều 122 Bộ luật Hình sự, theo đó “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Ngoài ra, cá nhân và doanh nghiệp bị đưa tin sai sự thật có quyền yêu cầu người đưa thông tin chấm dứt hành vi đăng tin sai sự thật, yêu cầu xin lỗi, cải chính thông tin, bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Bên cạnh đó, hành vi đưa thông tin sai sự thật về doanh nhân và doanh nghiệp còn vi phạm Nghị định số 174/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Doanh nhân và doanh nghiệp bị đưa thông tin sai sự thật có thể trình báo với cơ quan Công an để tiến hành điều tra, xác minh sự việc và nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, cũng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người đăng thông tin sai sự thật chấm dứt hành vi đăng tin sai sự thật, bồi thường thiệt hại, cải chính thông tin. Theo Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT ngày 19/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, doanh nhân và doanh nghiệp bị đưa thông tin sai sự thật còn có quyền yêu cầu đơn vị chủ quản các mạng xã hội loại bỏ thông tin sai phạm.

Khi lập trang web giả mạo, bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín doanh nhân và doanh nghiệp mà dùng những lời lẽ thô tục, mang tính chất lăng mạ, miệt thị, hăm dọa giết người thì hành vi này có thể bị xem xét xử lý nghiêm khắc hơn về dấu hiệu của tội Đe dọa giết người theo quy định của Điều 103 Bộ luật Hình sự.

Tấn công, bắt nạt, thông tin giả (fake news) trên mạng xã hội nói chung, các hành vi nói xấu, xuyên tạc và bôi nhọ doanh nhân và doanh nghiệp Việt nói riêng… có xu hướng phát triển song song với sự lớn mạnh của Internet. Không chỉ có ở Việt Nam, bất cứ quốc gia nào cũng xảy ra hành vi kém văn minh này. Thực tế cũng cho thấy, trước sự bùng nổ của cộng đồng mạng với quy mô rất lớn, lực lượng tuyên giáo, thanh tra và an ninh mạng chưa có đủ nhân lực, phương tiện và công nghệ để xử lý, triệt phá tận gốc. Hơn nữa, nhiều trang mạng, máy chủ của các blogger được đặt ở nước ngoài nên khó kiểm soát và khó can thiệp.

Trong bối cảnh đó, cần coi trọng công tác giáo dục tư tưởng và đề cao trách nhiệm công dân trong các chương trình giáo dục đào tạo và tuyên truyền báo chí, truyền thông xã hội. Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 khuyến khích sử dụng họ tên thật của cá nhân, tên hiệu thật của cơ quan tổ chức; đồng thời, khuyến khích chỉ chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy; không đăng tải thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, không sử dụng ngôn ngữ phản cảm, quảng cáo trái phép... Mặc dù Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành chỉ được xem là văn bản hướng dẫn, điều chỉnh hành vi để công dân tránh ngưỡng vi phạm pháp luật, nhưng đây là sự hướng dẫn tốt để tăng tính trách nhiệm trong mỗi nút like, bình luận hay chia sẻ, từ đó giúp xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh khi tương tác trên mạng xã hội…

Phát triển và bảo vệ hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân là đòi hỏi cấp thiết từ cuộc sống và cũng là quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước; đồng thời, phải xuất phát từ thực tiễn đặc thù, các nguyên tắc của cơ chế kinh tế thị trường, cũng như các cam kết và thông lệ quốc tế trong xu hướng mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế.

Điều quan trọng không phải là ban cho kinh tế tư nhân những đặc quyền, đặc lợi, mà là tạo môi trường bảo đảm khu vực doanh nghiệp tư nhân thực sự bình đẳng, công bằng với các khu vực doanh nghiệp khác, kể cả trong đấu thầu. Nhà nước cần có nhiều đột phá mới, táo bạo, tháo gỡ, giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập, bức xúc đang tồn tại hoặc sẽ phát sinh trong thực tiễn. Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo pháp luật, bình đẳng, cùng có lợi; coi trọng định hướng, hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát đối với kinh tế tư nhân bằng chính sách, thông tin thị trường và khuyến khích quá trình tái cơ cấu kinh tế. Chính phủ cần có một thể chế chính sách tốt, thu hút doanh nghiệp làm ăn, kinh doanh; khích lệ doanh nghiệp tận dụng những thế mạnh của đất nước để phát triển kinh tế; cổ vũ tinh thần dám nghĩ dám làm, lập nghiệp, xây dựng văn hóa doanh nhân trên cả nước. Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ vốn, giảm tối đa mức nắm giữ cổ phần nhà nước.

Đồng thời, cần thực sự đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia, sàng lọc, kiểm soát và trừng trị những kẻ nhũng nhiễu, vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm đối với kinh tế tư nhân; kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò, năng lực, trách nhiệm của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp trong bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người lao động, tạo sự đồng thuận, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh trên cơ sở pháp luật và truyền thống dân tộc; giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc và trách nhiệm xã hội, bản lĩnh kinh doanh cho doanh nhân và người lao động; xây dựng một số thương hiệu chủ lực quốc gia và địa phương…

Trước mắt, cần tập trung giải quyết các khó khăn của khu vực kinh tế tư nhân về nợ đọng, nợ xấu, mặt bằng sản xuất kinh doanh, nguồn vốn, năng lực khoa học - công nghệ và về thị trường...; tổ chức các đường dây nóng, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc định kỳ và không định kỳ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nhân, doanh nghiệp; mở rộng, phát triển đồng bộ và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là cung cấp thông tin thị trường, như thông tin về chất lượng, giá cả và cung - cầu, cũng như triển vọng sản phẩm; thông tin về đối tác, cơ hội và kinh nghiệm kinh doanh; thông tin về môi trường đầu tư (các quy định pháp lý, thủ tục xuất - nhập khẩu; các yêu cầu và giấy chứng nhận về vệ sinh an toàn, chất lượng sản phẩm; các đặc điểm văn hóa, thị hiếu tiêu dùng; hệ thống phân phối hàng;...) và các dịch vụ xúc tiến thương mại (hội chợ, triển lãm, quảng cáo và tham quan thị trường, môi giới và tiếp xúc với các đối tác tiềm năng...).

Song song đó, khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ tư pháp, nhất là về đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn kế toán, thuế, thủ tục xuất - nhập khẩu; các dịch vụ tài chính - ngân hàng, nổi bật là dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm và bảo lãnh tín dụng (kể cả bảo lãnh tín dụng quốc tế, thế chấp bằng tài sản ở trong nước của các doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam); xây dựng và triển khai hiệu quả những chương trình giáo dục, đào tạo riêng, thích hợp nhằm bồi dưỡng kiến thức của các giám đốc doanh nghiệp cũng như người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân...

Về phía doanh nhân và doanh nghiệp cũng cần có sự chủ động tự điều chỉnh, bám sát và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh thị trường và quản trị rủi ro; vừa tuân thủ luật pháp, vừa chủ động phản biện, nêu rõ các khó khăn, vướng mắc và cụ thể hóa yêu cầu, kiến nghị, góp phần hoàn thiện luật pháp kinh doanh, tìm kiếm các biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho kinh tế tư nhân... đưa đất nước phát triển theo đúng tinh thần kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa. Một nền kinh tế tư nhân mạnh là nền kinh tế có khu vực kinh tế tư nhân mạnh. Công cuộc đổi mới toàn diện và những đột phá táo bạo, đúng đắn về thể chế kinh tế tư nhân sẽ là một bảo đảm cho triển vọng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ hằng tháng và hằng năm của Tổng cục Thống kê.
2.https://dantri.com.vn/phap-luat/bat-doi-tuong-boi-nho-doanh-nhan-nghe-sy-noi-tieng-tren-facebook-1434847718.htm
3. https://congly.vn/boi-nho-doanh-nghiep-tren-mang-xa-hoi-la-vi-pham-phap-luat-103748.html
4. https://tuoitre.vn/nguoi-viet-kem-van-minh-tren-mang-20200223220019317.htm



TS. Nguyễn Minh Phong -
ThS. Nghiêm Anh Thư


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng