Phát triển Mobile-Money tại Việt Nam

Kinh tế - xã hội
Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng...
aa

Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng...

Tóm tắt:

Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng. Đây là loại hình dịch vụ đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam, với hơn 154 triệu thuê bao di động và mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn quốc, phát triển Mobile-Money sẽ cung cấp cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng, người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo - nơi chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng một kênh giao dịch, phương tiện thanh toán nhanh chóng và thuận tiện, hỗ trợ phổ cập thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money, tuy nhiên, để phát triển dịch vụ này trong thời gian tới cần thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, đồng bộ môi trường pháp lý có liên quan, hoàn thiện quy trình giao dịch của các đơn vị cung cấp dịch vụ và tăng cường công tác quản lý nhà nước.

Từ khoá: Mobile-Money; Mobile-Money tại Việt Nam; Phát triển Mobile-Money.



1. Đặt vấn đề

Mobile-Money là một sản phẩm của công nghệ tài chính (Fintech) đã phát triển mạnh tại các nước châu Âu và đang mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Mobile-Money hay tiền di động, là dịch vụ định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động, cho phép sử dụng tài khoản viễn thông để thực hiện các giao dịch chuyển tiền và thanh toán mà không cần có tài khoản ngân hàng. Về cơ bản, dịch vụ Mobile-Money cung cấp cho khách hàng một tài khoản gắn liền với thuê bao di động, với tài khoản này, khách hàng được phép sử dụng để chuyển tiền, thanh toán dịch vụ, hàng hóa. Theo Hiệp hội Thông tin di động thế giới (Global System for Mobile Communications - GSMA), năm 2019, Mobile-Money tạo dựng một cột mốc quan trọng, đó là số tài khoản đăng ký sử dụng lần đầu vượt mốc 1 tỷ, tăng 134 triệu tài khoản so với cuối năm 2018. Số lượng giao dịch bình quân trong cả năm 2019 của dịch vụ Mobile-Money đạt 37,1 tỷ giao dịch, tổng giá trị giao dịch đạt 690,1 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2018. Theo các tổ chức nghiên cứu thị trường, quy mô dự kiến của thị trường Mobile-Money có thể đạt 12 tỷ USD vào năm 2024, với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 28,7%. Báo cáo Fintech và Ngân hàng số 2025 do công ty Fintech toàn cầu Backbase và Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDC) phối hợp thực hiện mới đây cũng cho thấy, có khoảng 63% khách hàng sẵn sàng chuyển sang sử dụng các dịch vụ ngân hàng số của các tổ chức tín dụng trong 5 năm tới. Tại Việt Nam, ngày 09/3/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 316/QĐ-TTg về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Quyết định số 316/QĐ-TTg). Quyết định số 316/QĐ-TTg đã mở ra nhiều cơ hội cho dịch vụ Mobile-Money phát triển tại Việt Nam, quốc gia với trên 154 triệu thuê bao di động nhưng có đến 30% người trưởng thành chưa có tài khoản ngân hàng. Mặc dù tiềm năng là rất lớn, nhưng đây là hình thức dịch vụ tài chính còn khá mới mẻ với chính đối tượng khách hàng mà dịch vụ này hướng tới phục vụ. Trên cơ sở tổng hợp những vấn đề chung về dịch vụ Mobile-Money, bài viết sẽ phân tích tiềm năng, lợi ích cũng như những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát triển loại hình dịch vụ tài chính này tại Việt Nam trong thời gian tới.

2. Tổng quan về Mobile-Money

Mobile-Money là dịch vụ sử dụng định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động của nhà mạng cung cấp dịch vụ. Bản chất của Mobile-Money là chuyển đổi hình thức của tiền mặt sang tiền trong tài khoản theo tỷ lệ 1:1, khách hàng nộp tiền mặt để nhận được một khoản tiền trong tài khoản Mobile-Money có giá trị tương đương. Tài khoản Mobile-Money gắn liền với SIM (Subscriber Identity Module - Mô-đun nhận dạng người dùng) thuê bao của thiết bị di động nhưng tách biệt với tài khoản viễn thông. Tuy nhiên, không phải cứ có SIM là có thể sử dụng Mobile-Money, để sử dụng dịch vụ Mobile-Money, SIM thuê bao phải thuộc nhà mạng được phép cung cấp dịch vụ Mobile-Money và người dùng phải đăng ký và được nhà mạng chấp thuận cho phép mới có thể sử dụng dịch vụ Mobile-Money. Dịch vụ Mobile-Money giúp người dùng thực hiện chức năng chuyển tiền di động và thanh toán di động. Trong đó, với dịch vụ chuyển tiền di động, khách hàng có thể sử dụng tài khoản Mobile-Money định danh thông qua thuê bao điện thoại di động để chuyển tiền thông qua nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Với thanh toán di động, khách hàng thanh toán cho các sản phẩm và dịch vụ được thực hiện thông qua việc sử dụng tài khoản Mobile-Money.

Khác với ví điện tử, một tài khoản điện tử thường được tích hợp trong ứng dụng (Application - App) của điện thoại thông minh (Smart phone) hoặc các thiết bị di động tương ứng, giúp người dùng thanh toán tại các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này. Để sử dụng ví điện tử, người dùng cần có tài khoản ngân hàng (liên kết với ví điện tử) để chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng qua ví điện tử và điện thoại thông minh hoặc các thiết bị di động tương ứng khác có kết nối Internet để cài đặt ứng dụng ví điện tử. Với Mobile-Money, người dùng chỉ cần tài khoản di động đã định danh thông qua thuê bao di động là có thể nạp tiền, chuyển tiền, thanh toán một cách nhanh chóng và thuận tiện. Mobile-Money là tài khoản điện tử được mở dựa trên thuê bao di động, dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ, nhưng không yêu cầu người sử dụng phải có tài khoản ngân hàng và điện thoại thông minh mà chỉ cần có thuê bao điện thoại di động và một điện thoại di dộng phổ thông. Dịch vụ Mobile-Money cũng khác so với Mobile Payment, Mobile-Money là một dạng tiền điện tử còn Mobile Payment là một phương thức thanh toán. Mobile Payment đề cập đến các giao dịch thanh toán được thực hiện qua thiết bị di động nói chung bao gồm ứng dụng Mobile Banking của ngân hàng, ví điện tử và có thể là Mobile-Money.

Người dùng có thể sử dụng Mobile-Money để thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này; chuyển tiền giữa 2 tài khoản Mobile-Money, giữa tài khoản Mobile-Money với tài khoản ngân hàng và ví điện tử. Thậm chí, tại những vùng không có Internet hoặc với người dùng điện thoại phổ thông, họ cũng có thể sử dụng tài khoản Mobile-Money của mình để thanh toán thông qua tin nhắn SMS (Short Message Services) của dịch vụ viễn thông.

3. Dịch vụ Mobile-Money tại Việt Nam

Theo Quyết định số 316/QĐ-TTg, mỗi khách hàng chỉ được mở một tài khoản Mobile-Money tại một nhà mạng. Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng phải có SIM được đăng ký, các thông tin phải được đơn vị cung cấp dịch vụ di động xác thực theo quy định về đăng ký thuê bao di động và SIM đó phải hoạt động liên tục tối thiểu trong vòng 3 tháng. Khi đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile-Money, khách hàng có thể nạp hay rút tiền từ tài khoản Mobile-Money tại các điểm giao dịch của nhà mạng, sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này; chuyển tiền sang tài khoản Mobile-Money của người khác trong cùng một nhà mạng hay chuyển tiền sang tài khoản thanh toán tại ngân hàng và ví điện tử do nhà mạng cung cấp. Tuy nhiên, không như tiền trong tài khoản ngân hàng, tiền trong tài khoản Mobile-Money sẽ không được nhà mạng trả lãi, người sử dụng cũng không được cho thuê, mượn, trao đổi, tặng, cho hoặc mua, bán tài khoản Mobile-Money.

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dân cư sử dụng điện thoại di động cao, theo Báo cáo Việt Nam Digital 2021, Việt Nam hiện có trên 154 triệu thuê bao với dân số hơn 98 triệu người, độ phủ của viễn thông lên tới gần 100% khu vực dân cư. Đây là điều kiện tiềm năng để phát triển dịch vụ Mobile-Money. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng viễn thông của Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật cho sự phát triển của dịch vụ Mobile-Money. Để tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money, các đơn vị viễn thông sẽ cung ứng dịch vụ cho phép chủ tài khoản Mobile-Money nạp tiền mặt vào tài khoản tại các điểm giao dịch, nạp tiền từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng hoặc từ ví điện tử; rút tiền mặt; thanh toán hàng hóa, dịch vụ; chuyển tiền… theo quy định.

Ngày 18/11/2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 1818/QĐ-NHNN và Quyết định số 1820/QĐ-NHNN về việc chấp thuận triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ giá trị nhỏ cho 02 nhà mạng lớn là Mobifone và VNPT.

Với số lượng điểm giao dịch rộng khắp của các nhà mạng di động, Mobile-Money sẽ cung cấp cho dân cư khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có mạng lưới hệ thống ngân hàng, cũng như cho đối tượng chưa hoặc không có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng, thuận tiện. Việc nạp và rút tiền từ tài khoản Mobile-Money tại các điểm giao dịch của nhà mạng cũng nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện như nạp tiền vào tài khoản viễn thông. Do không yêu cầu phải có tài khoản ngân hàng, phát triển dịch vụ Mobile-Money sẽ góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính cho mọi đối tượng khách hàng. Bên cạnh đó, Mobile-Money mở ra cơ hội cho các nhà mạng khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng, tăng doanh thu và đa dạng hóa dịch vụ cung cấp, tiến tới, hoàn thiện hệ sinh thái kinh doanh.

4. Những vấn đề đặt ra cho phát triển Mobile-Money

Có thể nói rằng, dịch vụ Mobile-Money có rất nhiều tiềm năng phát triển tại Việt Nam, tuy nhiên, để phát triển Mobile-Money, một số vấn đề đặt ra cần giải quyết:

Thứ nhất, thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt. Mặc dù mật độ thuê bao di động cao, nhưng trên 99% các giao dịch có giá trị dưới 100.000 đồng vẫn được thanh toán bằng tiền mặt, phát triển Mobile-Money là một giải pháp mạnh mẽ để thay đổi tình trạng này. Tuy nhiên, để hình thành thói quen thanh toán mới, cần đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính để người dân thấy rõ lợi ích khi sử dụng dịch vụ Mobile-Money trên cả khía cạnh lợi ích tài chính và tính thuận tiện trong sử dụng. Đặc biệt, đây là một giải pháp tiềm năng đối với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, không thể tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng.

Thứ hai, hoàn thiện và đồng bộ môi trường pháp lý cho hoạt động của Mobile-Money. Mobile-Money là dịch vụ mới, do vậy, các quy định pháp lý còn chưa đầy đủ và đồng bộ, có thể tiềm ẩn những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, các bộ, ngành phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp luật trong quá trình thực hiện. Trong đó, các quy định pháp luật về bảo mật, an toàn thông tin, dữ liệu, cơ sở dữ liệu định danh khách hàng dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên được ưu tiên xây dựng, nhằm hạn chế các rủi ro về bảo mật thông tin.

Thứ ba, hoàn thiện quy trình giao dịch, thanh toán. Dịch vụ Mobile-Money liên quan đến các giao dịch tài chính - lĩnh vực mới đối với các nhà mạng, chính vì vậy, để các giao dịch tài chính thực hiện thuận lợi, an toàn và hiệu quả, các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ cần hoàn thiện hệ thống xử lý giao dịch, trung tâm thanh toán, quy trình, kịch bản ứng phó để kiểm soát, hạn chế các rủi ro có thể làm gián đoạn hoặc ngừng giao dịch; hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và quy trình quản lý rủi ro hoạt động, nhất là các rủi ro về bảo mật thông tin.

Thứ tư, sự phối, kết hợp trong công tác quản lý nhà nước. Mobile-Money là dịch vụ mới liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam như tiền tệ, thanh toán; mạng truyền thông; cơ sở dữ liệu định danh khách hàng, do đó, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Nhà nước; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Công an trong quá trình thí điểm triển khai.

5. Kết luận

Mobile-Money là dịch vụ thanh toán bằng tài khoản viễn thông cho khách hàng sử dụng dịch vụ di động mà không cần tài khoản ngân hàng hay điện thoại thông minh. Phát triển Mobile-Money sẽ cung cấp thêm kênh giao dịch, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng và tiện lợi cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng hay không có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Với Mobile-Money,

người tiêu dùng có thêm một công cụ thanh toán đơn giản, tiện lợi; các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật của mình, có thêm dư địa cho phát triển phù hợp với xu hướng chuyển đổi số; Nhà nước có thêm một công cụ thanh toán rộng khắp, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế số. Nhưng trên hết, Mobile-Money góp phần hiện thực hóa khát vọng trong quá trình phát triển là “khi công nghệ tiến lên phía trước, không ai bị bỏ lại phía sau”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ.

2. Báo cáo Fintech và Ngân hàng số 2025 do Backbase và IDC phối hợp thực hiện, https://www.backbase.com/fintech-and-digital-banking-2025/

3. GSMA (2019), State of the Inductry Report on Mobile Money 2019.

4. Lê Thanh Tâm, Nguyễn Thị Thu Trang (2019), Phát triển dịch vụ Mobile-Money: cơ hội và thách thức tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11/2019.

5. We Are Social và Hootsuite (2021), Báo cáo Việt Nam DIGITAL 2021, http://digimarkvn.com/bao-cao-viet-nam-digital-2021-do-we-are-social-va-hootsuite-thong-ke/

6. World Bank Group (2019), Vietnam Development Report 2019.


TS. Nguyễn Thế Bính (Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng