Phát triển Mobile-Money tại Việt Nam

Kinh tế - xã hội
Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng...
aa

Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng...

Tóm tắt:

Mobile-Money là một hình thức thanh toán trực tuyến thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động để cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán mà không cần tài khoản ngân hàng. Đây là loại hình dịch vụ đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam, với hơn 154 triệu thuê bao di động và mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn quốc, phát triển Mobile-Money sẽ cung cấp cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng, người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo - nơi chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng một kênh giao dịch, phương tiện thanh toán nhanh chóng và thuận tiện, hỗ trợ phổ cập thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money, tuy nhiên, để phát triển dịch vụ này trong thời gian tới cần thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, đồng bộ môi trường pháp lý có liên quan, hoàn thiện quy trình giao dịch của các đơn vị cung cấp dịch vụ và tăng cường công tác quản lý nhà nước.

Từ khoá: Mobile-Money; Mobile-Money tại Việt Nam; Phát triển Mobile-Money.



1. Đặt vấn đề

Mobile-Money là một sản phẩm của công nghệ tài chính (Fintech) đã phát triển mạnh tại các nước châu Âu và đang mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Mobile-Money hay tiền di động, là dịch vụ định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động, cho phép sử dụng tài khoản viễn thông để thực hiện các giao dịch chuyển tiền và thanh toán mà không cần có tài khoản ngân hàng. Về cơ bản, dịch vụ Mobile-Money cung cấp cho khách hàng một tài khoản gắn liền với thuê bao di động, với tài khoản này, khách hàng được phép sử dụng để chuyển tiền, thanh toán dịch vụ, hàng hóa. Theo Hiệp hội Thông tin di động thế giới (Global System for Mobile Communications - GSMA), năm 2019, Mobile-Money tạo dựng một cột mốc quan trọng, đó là số tài khoản đăng ký sử dụng lần đầu vượt mốc 1 tỷ, tăng 134 triệu tài khoản so với cuối năm 2018. Số lượng giao dịch bình quân trong cả năm 2019 của dịch vụ Mobile-Money đạt 37,1 tỷ giao dịch, tổng giá trị giao dịch đạt 690,1 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2018. Theo các tổ chức nghiên cứu thị trường, quy mô dự kiến của thị trường Mobile-Money có thể đạt 12 tỷ USD vào năm 2024, với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 28,7%. Báo cáo Fintech và Ngân hàng số 2025 do công ty Fintech toàn cầu Backbase và Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDC) phối hợp thực hiện mới đây cũng cho thấy, có khoảng 63% khách hàng sẵn sàng chuyển sang sử dụng các dịch vụ ngân hàng số của các tổ chức tín dụng trong 5 năm tới. Tại Việt Nam, ngày 09/3/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 316/QĐ-TTg về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Quyết định số 316/QĐ-TTg). Quyết định số 316/QĐ-TTg đã mở ra nhiều cơ hội cho dịch vụ Mobile-Money phát triển tại Việt Nam, quốc gia với trên 154 triệu thuê bao di động nhưng có đến 30% người trưởng thành chưa có tài khoản ngân hàng. Mặc dù tiềm năng là rất lớn, nhưng đây là hình thức dịch vụ tài chính còn khá mới mẻ với chính đối tượng khách hàng mà dịch vụ này hướng tới phục vụ. Trên cơ sở tổng hợp những vấn đề chung về dịch vụ Mobile-Money, bài viết sẽ phân tích tiềm năng, lợi ích cũng như những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát triển loại hình dịch vụ tài chính này tại Việt Nam trong thời gian tới.

2. Tổng quan về Mobile-Money

Mobile-Money là dịch vụ sử dụng định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động của nhà mạng cung cấp dịch vụ. Bản chất của Mobile-Money là chuyển đổi hình thức của tiền mặt sang tiền trong tài khoản theo tỷ lệ 1:1, khách hàng nộp tiền mặt để nhận được một khoản tiền trong tài khoản Mobile-Money có giá trị tương đương. Tài khoản Mobile-Money gắn liền với SIM (Subscriber Identity Module - Mô-đun nhận dạng người dùng) thuê bao của thiết bị di động nhưng tách biệt với tài khoản viễn thông. Tuy nhiên, không phải cứ có SIM là có thể sử dụng Mobile-Money, để sử dụng dịch vụ Mobile-Money, SIM thuê bao phải thuộc nhà mạng được phép cung cấp dịch vụ Mobile-Money và người dùng phải đăng ký và được nhà mạng chấp thuận cho phép mới có thể sử dụng dịch vụ Mobile-Money. Dịch vụ Mobile-Money giúp người dùng thực hiện chức năng chuyển tiền di động và thanh toán di động. Trong đó, với dịch vụ chuyển tiền di động, khách hàng có thể sử dụng tài khoản Mobile-Money định danh thông qua thuê bao điện thoại di động để chuyển tiền thông qua nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Với thanh toán di động, khách hàng thanh toán cho các sản phẩm và dịch vụ được thực hiện thông qua việc sử dụng tài khoản Mobile-Money.

Khác với ví điện tử, một tài khoản điện tử thường được tích hợp trong ứng dụng (Application - App) của điện thoại thông minh (Smart phone) hoặc các thiết bị di động tương ứng, giúp người dùng thanh toán tại các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này. Để sử dụng ví điện tử, người dùng cần có tài khoản ngân hàng (liên kết với ví điện tử) để chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng qua ví điện tử và điện thoại thông minh hoặc các thiết bị di động tương ứng khác có kết nối Internet để cài đặt ứng dụng ví điện tử. Với Mobile-Money, người dùng chỉ cần tài khoản di động đã định danh thông qua thuê bao di động là có thể nạp tiền, chuyển tiền, thanh toán một cách nhanh chóng và thuận tiện. Mobile-Money là tài khoản điện tử được mở dựa trên thuê bao di động, dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ, nhưng không yêu cầu người sử dụng phải có tài khoản ngân hàng và điện thoại thông minh mà chỉ cần có thuê bao điện thoại di động và một điện thoại di dộng phổ thông. Dịch vụ Mobile-Money cũng khác so với Mobile Payment, Mobile-Money là một dạng tiền điện tử còn Mobile Payment là một phương thức thanh toán. Mobile Payment đề cập đến các giao dịch thanh toán được thực hiện qua thiết bị di động nói chung bao gồm ứng dụng Mobile Banking của ngân hàng, ví điện tử và có thể là Mobile-Money.

Người dùng có thể sử dụng Mobile-Money để thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này; chuyển tiền giữa 2 tài khoản Mobile-Money, giữa tài khoản Mobile-Money với tài khoản ngân hàng và ví điện tử. Thậm chí, tại những vùng không có Internet hoặc với người dùng điện thoại phổ thông, họ cũng có thể sử dụng tài khoản Mobile-Money của mình để thanh toán thông qua tin nhắn SMS (Short Message Services) của dịch vụ viễn thông.

3. Dịch vụ Mobile-Money tại Việt Nam

Theo Quyết định số 316/QĐ-TTg, mỗi khách hàng chỉ được mở một tài khoản Mobile-Money tại một nhà mạng. Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng phải có SIM được đăng ký, các thông tin phải được đơn vị cung cấp dịch vụ di động xác thực theo quy định về đăng ký thuê bao di động và SIM đó phải hoạt động liên tục tối thiểu trong vòng 3 tháng. Khi đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile-Money, khách hàng có thể nạp hay rút tiền từ tài khoản Mobile-Money tại các điểm giao dịch của nhà mạng, sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận hình thức thanh toán này; chuyển tiền sang tài khoản Mobile-Money của người khác trong cùng một nhà mạng hay chuyển tiền sang tài khoản thanh toán tại ngân hàng và ví điện tử do nhà mạng cung cấp. Tuy nhiên, không như tiền trong tài khoản ngân hàng, tiền trong tài khoản Mobile-Money sẽ không được nhà mạng trả lãi, người sử dụng cũng không được cho thuê, mượn, trao đổi, tặng, cho hoặc mua, bán tài khoản Mobile-Money.

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dân cư sử dụng điện thoại di động cao, theo Báo cáo Việt Nam Digital 2021, Việt Nam hiện có trên 154 triệu thuê bao với dân số hơn 98 triệu người, độ phủ của viễn thông lên tới gần 100% khu vực dân cư. Đây là điều kiện tiềm năng để phát triển dịch vụ Mobile-Money. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng viễn thông của Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật cho sự phát triển của dịch vụ Mobile-Money. Để tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money, các đơn vị viễn thông sẽ cung ứng dịch vụ cho phép chủ tài khoản Mobile-Money nạp tiền mặt vào tài khoản tại các điểm giao dịch, nạp tiền từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng hoặc từ ví điện tử; rút tiền mặt; thanh toán hàng hóa, dịch vụ; chuyển tiền… theo quy định.

Ngày 18/11/2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 1818/QĐ-NHNN và Quyết định số 1820/QĐ-NHNN về việc chấp thuận triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ giá trị nhỏ cho 02 nhà mạng lớn là Mobifone và VNPT.

Với số lượng điểm giao dịch rộng khắp của các nhà mạng di động, Mobile-Money sẽ cung cấp cho dân cư khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có mạng lưới hệ thống ngân hàng, cũng như cho đối tượng chưa hoặc không có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng, thuận tiện. Việc nạp và rút tiền từ tài khoản Mobile-Money tại các điểm giao dịch của nhà mạng cũng nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện như nạp tiền vào tài khoản viễn thông. Do không yêu cầu phải có tài khoản ngân hàng, phát triển dịch vụ Mobile-Money sẽ góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính cho mọi đối tượng khách hàng. Bên cạnh đó, Mobile-Money mở ra cơ hội cho các nhà mạng khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng, tăng doanh thu và đa dạng hóa dịch vụ cung cấp, tiến tới, hoàn thiện hệ sinh thái kinh doanh.

4. Những vấn đề đặt ra cho phát triển Mobile-Money

Có thể nói rằng, dịch vụ Mobile-Money có rất nhiều tiềm năng phát triển tại Việt Nam, tuy nhiên, để phát triển Mobile-Money, một số vấn đề đặt ra cần giải quyết:

Thứ nhất, thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt. Mặc dù mật độ thuê bao di động cao, nhưng trên 99% các giao dịch có giá trị dưới 100.000 đồng vẫn được thanh toán bằng tiền mặt, phát triển Mobile-Money là một giải pháp mạnh mẽ để thay đổi tình trạng này. Tuy nhiên, để hình thành thói quen thanh toán mới, cần đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính để người dân thấy rõ lợi ích khi sử dụng dịch vụ Mobile-Money trên cả khía cạnh lợi ích tài chính và tính thuận tiện trong sử dụng. Đặc biệt, đây là một giải pháp tiềm năng đối với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, không thể tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng.

Thứ hai, hoàn thiện và đồng bộ môi trường pháp lý cho hoạt động của Mobile-Money. Mobile-Money là dịch vụ mới, do vậy, các quy định pháp lý còn chưa đầy đủ và đồng bộ, có thể tiềm ẩn những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, các bộ, ngành phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp luật trong quá trình thực hiện. Trong đó, các quy định pháp luật về bảo mật, an toàn thông tin, dữ liệu, cơ sở dữ liệu định danh khách hàng dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên được ưu tiên xây dựng, nhằm hạn chế các rủi ro về bảo mật thông tin.

Thứ ba, hoàn thiện quy trình giao dịch, thanh toán. Dịch vụ Mobile-Money liên quan đến các giao dịch tài chính - lĩnh vực mới đối với các nhà mạng, chính vì vậy, để các giao dịch tài chính thực hiện thuận lợi, an toàn và hiệu quả, các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ cần hoàn thiện hệ thống xử lý giao dịch, trung tâm thanh toán, quy trình, kịch bản ứng phó để kiểm soát, hạn chế các rủi ro có thể làm gián đoạn hoặc ngừng giao dịch; hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và quy trình quản lý rủi ro hoạt động, nhất là các rủi ro về bảo mật thông tin.

Thứ tư, sự phối, kết hợp trong công tác quản lý nhà nước. Mobile-Money là dịch vụ mới liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam như tiền tệ, thanh toán; mạng truyền thông; cơ sở dữ liệu định danh khách hàng, do đó, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Nhà nước; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Công an trong quá trình thí điểm triển khai.

5. Kết luận

Mobile-Money là dịch vụ thanh toán bằng tài khoản viễn thông cho khách hàng sử dụng dịch vụ di động mà không cần tài khoản ngân hàng hay điện thoại thông minh. Phát triển Mobile-Money sẽ cung cấp thêm kênh giao dịch, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng và tiện lợi cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng hay không có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Với Mobile-Money,

người tiêu dùng có thêm một công cụ thanh toán đơn giản, tiện lợi; các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật của mình, có thêm dư địa cho phát triển phù hợp với xu hướng chuyển đổi số; Nhà nước có thêm một công cụ thanh toán rộng khắp, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế số. Nhưng trên hết, Mobile-Money góp phần hiện thực hóa khát vọng trong quá trình phát triển là “khi công nghệ tiến lên phía trước, không ai bị bỏ lại phía sau”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ.

2. Báo cáo Fintech và Ngân hàng số 2025 do Backbase và IDC phối hợp thực hiện, https://www.backbase.com/fintech-and-digital-banking-2025/

3. GSMA (2019), State of the Inductry Report on Mobile Money 2019.

4. Lê Thanh Tâm, Nguyễn Thị Thu Trang (2019), Phát triển dịch vụ Mobile-Money: cơ hội và thách thức tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11/2019.

5. We Are Social và Hootsuite (2021), Báo cáo Việt Nam DIGITAL 2021, http://digimarkvn.com/bao-cao-viet-nam-digital-2021-do-we-are-social-va-hootsuite-thong-ke/

6. World Bank Group (2019), Vietnam Development Report 2019.


TS. Nguyễn Thế Bính (Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành