Nhận diện thủ đoạn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng xã hội và một số giải pháp phòng, chống

Công nghệ & ngân hàng số
Tại Việt Nam, tính đến đầu năm 2024, dân số đạt gần 100 triệu người nhưng có tới 72,70 triệu người sử dụng mạng xã hội, tương đương với 73,3% tổng dân số.
aa

Tóm tắt: Bài viết khái quát một số vấn đề chung về tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng xã hội. Đồng thời, chỉ ra những biểu hiện giúp nhận diện chính xác các thủ đoạn phạm tội của chúng cùng những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phòng, ngừa, xử lý các hành vi phạm tội; từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với đối tượng tội phạm này.

Từ khóa: Thủ đoạn phạm tội, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, mạng xã hội.

IDENTIFYING THE TRICKS OF FRAUD AND PROPERTY APPROPRIATION ON SOCIAL NETWORKS
AND SOME PREVENTION SOLUTIONS


Abstract: This article summarizes some common issues related to fraud and property appropriation on social networks. Simultaneonsly, the article points out the symptoms that help accurately identify the criminal tricks usurping on social networks, along with the difficulties and obstacles in the process of prevention and handling criminal behariors; thereby, proposing solutions to improve the effectiveness of preventing and fighting against fraud and property appropriation on social networks and proposing recommendations for criminal prevention in general.

Keywords: Criminal tricks, property appropriation fraud, social networks.

1. Một số vấn đề chung


1.1. Khái niệm mạng xã hội và các hình thức mạng xã hội

Tại Việt Nam, tính đến đầu năm 2024, dân số đạt gần 100 triệu người nhưng có tới 72,70 triệu người sử dụng mạng xã hội, tương đương với 73,3% tổng dân số. Các ứng dụng điển hình như Facebook có tới khoảng 72,7 triệu người dùng, YouTube có khoảng 63 triệu người dùng, Instagram có 10,9 triệu người dùng, TikTok có khoảng 67,72 triệu người dùng. Dữ liệu này cho thấy Việt Nam có tổng số người dùng Internet và mạng xã hội đáng kể, con số này tăng liên tục qua các năm1. Theo quy định của pháp luật, tại Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng đã đưa ra khái niệm mạng xã hội: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”. Như vậy, khái niệm mạng xã hội theo quy định trên đã liệt kê các hình thức dịch vụ sử dụng mạng xã hội. Tuy nhiên, việc xác định để được coi là mạng xã hội phải có đầy đủ các thành tố trên hay không còn phụ thuộc vào việc tạo lập và sử dụng trên thực tế. Ngoài ra, với quy định bao quát “các hình thức dịch vụ tương tự khác” cho thấy nhà làm luật đã lường trước rằng ngoại diên khái niệm mạng xã hội còn được hiểu rất rộng, thực tế còn có thể xuất hiện các trường hợp khác tương tự như mạng xã hội.

Nhắc đến mạng xã hội, chúng ta thường hiểu là các dịch vụ trực tuyến tương tác xã hội như Facebook, Zalo, Lotus, Twitter... Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng “mạng xã hội bao gồm tất cả các trang thông tin điện tử được xây dựng theo hình thức một website và phát hành dựa trên nền tảng Internet, có nghĩa chúng cũng là các yếu tố cấu thành nên một chỉnh thể xã hội trên mạng”2... Quan điểm trên hiểu mạng xã hội theo nghĩa rộng, có thể coi đây là hình thức dịch vụ tương tự khác như đã phân tích ở trên, trong đó bao gồm cả các trang báo điện tử, tạp chí điện tử hay các trang thông tin điện tử khác do có đặc điểm chung là xây dựng theo hình thức website và phát hành dựa trên nền tảng Internet, được liên kết với nhau. Dưới góc độ quy định pháp luật và quan điểm nghiên cứu về mạng xã hội đã đưa ra, nhóm tác giả nhận thấy phạm trù mạng xã hội cần được hiểu theo nghĩa rộng mới thực sự đầy đủ và toàn diện.

1.2. Về tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản và thực trạng thủ đoạn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng xã hội

Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “thủ đoạn là cách làm khôn khéo, thường là xảo trá, chỉ cốt sao cho đạt được mục đích của riêng mình”3. Từ đó có thể hiểu, thủ đoạn phạm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng xã hội là hành vi, cách làm khôn khéo, xảo trá, gian dối của người thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp từ chủ thể khác của các đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản được thực hiện trên nền tảng không gian mạng.

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, để phòng ngừa, xử lý nghiêm loại tội phạm này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nói chung. Thực tiễn thống kê trong năm 2023, cơ quan chức năng đã phát hiện “gần 16.000 phản ánh lừa đảo trực tuyến; tổng số tiền người dân bị lừa đảo trên mạng khoảng 8.000 - 10.000 tỉ đồng, tăng gấp rưỡi so với năm 2022. Trong đó, có 91% thông tin liên quan lĩnh vực tài chính và 73% người dùng thiết bị di động, mạng xã hội... liên tục nhận tin nhắn, cuộc gọi lừa đảo”4. Tình hình tội phạm trên không gian mạng ngày càng diễn ra rất phức tạp, công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng của các cơ quan nhà nước trong thời gian qua gặp không ít những khó khăn, vướng mắc bởi thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, hiện đại.

2. Các thủ đoạn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng xã hội hiện nay

Từ thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, qua việc tổng hợp, nghiên cứu các hình thức, thủ đoạn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thực hiện tinh vi trên nền tảng không gian mạng xã hội với giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng lớn trong giai đoạn hiện nay, có thể nhận thấy các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội sử dụng một số thủ đoạn phổ biến:

Thứ nhất, lợi dụng mạng xã hội để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

Thủ đoạn này được các đối tượng sử dụng thông dụng nhất trong giai đoạn hiện nay, với những biểu hiện như sau: (1) Sau khi tìm hiểu thông tin của người bị hại, đối tượng lập tài khoản Zalo, Facebook, Instagram... để tên và hình ảnh đại diện của người bị hại và sử dụng một tài khoản ngân hàng nhằm mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thông qua việc vay tiền, nạp thẻ điện thoại... từ bạn bè, người thân của người bị hại. Do tin tưởng vào thông tin, hình ảnh cá nhân, tài khoản trùng khớp với người bị hại nên bạn bè, người thân của người bị hại đã nhanh chóng chuyển tiền cho kẻ mạo danh mà không một chút do dự. Khi bị phát hiện, đối tượng ngay lập tức chặn, xóa hoặc đổi tên tài khoản; (2) Các đối tượng lập tài khoản mạng xã hội để giới thiệu mình là thương nhân, quân nhân, kỹ sư... có quốc tịch nước ngoài như Mỹ, Đức, Anh... đến và làm việc tại Việt Nam, để tạo lòng tin, các đối tượng để ảnh đại diện, ảnh nền, đăng ảnh và chia sẻ một số bài viết, video liên quan đến công việc, đời sống trước đó tại nước mà các đối tượng đã giới thiệu mang quốc tịch hoặc đã sinh sống, làm việc nhằm làm quen, kết bạn và nói chuyện cùng các người dùng ở Việt Nam. Bị hại của thủ đoạn này thường là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trung niên. Qua một thời gian, các đối tượng ngỏ ý tặng quà có giá trị cao hay gửi tiền với số lượng lớn để cảm ơn bị hại, hứa hẹn kết hôn, bảo lãnh nhập quốc tịch, đi nước ngoài... Để nhận được quà hay tiền, các đối tượng giới thiệu trang website để bị hại điền thông tin, số tài khoản, sau đó gửi hình ảnh biên lai, giấy báo chuyển đồ, tiền đến bị hại nhằm củng cố lòng tin... Sau một thời gian, dựa trên những thông tin đã khai thác từ bị hại, các đối tượng lợi dụng lòng tin, giả danh cán bộ hải quan, thuế vụ, an ninh... gọi điện thông báo tiền, hàng bị tạm giữ do số lượng ngoại tệ lớn yêu cầu bị hại đóng phí để nhận hàng hoặc nộp phạt, nộp tiền xác thực để nhận về số tiền trên. Do lo sợ nên bị hại chuyển số tiền lớn mà không biết mình đã bị lừa đảo.

Thứ hai, các đối tượng giả danh cán bộ cơ quan tư pháp

Lợi dụng tâm lý chung trong nhân dân lo sợ khi làm việc với cơ quan tư pháp, các đối tượng giả danh cán bộ cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân... gọi điện thoại di động, gửi mail hoặc thông qua gọi thoại mạng VoIP (Voice over Internet Protocol, tức là truyền giọng nói từ điện thoại thông qua kết nối Internet để thực hiện các cuộc gọi5), “dẫn dắt” nguyên nhân, quá trình giải quyết vụ việc nạn nhân đang bị điều tra do có liên quan đến đường dây rửa tiền, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, thực hiện hành vi phạm tội khác... rồi yêu cầu bị hại chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do các đối tượng cung cấp để bảo đảm điều tra hoặc nhằm phong tỏa để xác minh nguồn tiền trong tài khoản ngân hàng, thậm chí yêu cầu nạn nhân cung cấp user và password của Internet Banking để đăng nhập và chuyển tiền sang tài khoản khác nhằm chiếm đoạt.

Thứ ba, các đối tượng giả mạo là nhân viên ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

Đối tượng sẽ trao đổi, mời người bị hại cung cấp thông tin cá nhân như sổ hộ khẩu, căn cước công dân... để hỗ trợ vay vốn, giới thiệu các gói vay hay tiền gửi ưu đãi. Để tạo niềm tin với người bị hại, đối tượng giả mạo văn bản xác nhận có chữ ký lãnh đạo ngân hàng gửi cho người bị hại để chứng minh bị hại đã được giải ngân khoản vay, đủ điều kiện để nhận ưu đãi từ ngân hàng và yêu cầu bị hại nộp trước một khoản tiền để làm thủ tục, hứa sẽ được hoàn lại cùng với số tiền được giải ngân. Sau khi nhận được tiền, đối tượng cắt đứt mọi thông tin liên lạc với người bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Đối tượng gọi điện xác nhận thông tin từ bị hại để hỗ trợ vay với lãi suất thấp. Sau khi đầy đủ thông tin, đối tượng thông báo người bị hại không đủ điều kiện vay vốn do có nợ xấu. Để được vay tiền, các đối tượng yêu cầu bị hại đóng trước một khoản tiền để xóa nợ xấu. Sau khi nhận được tiền, đối tượng sẽ cắt đứt toàn bộ liên lạc với người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản.

Đối tượng giả danh cán bộ ngân hàng hỗ trợ bị hại rút tiền mặt từ thẻ tín dụng, yêu cầu người bị hại cung cấp thông tin thẻ, đồng thời thông báo người bị hại sẽ nhận được một dãy mã số gửi đến số điện thoại (bản chất đây là mã OTP của giao dịch từ thẻ tín dụng). Nếu người bị hại cung cấp mã số này, đối tượng sẽ chiếm đoạt tiền qua các giao dịch thanh toán mua sắm online, ví điện tử hoặc trực tiếp từ Internet Banking.

Gửi tin nhắn thương hiệu (SMS Brand name) của ngân hàng mà người dùng sử dụng nhằm thông báo chế độ, chính sách mới của ngân hàng để người dùng tự click vào tìm hiểu hoặc liên lạc lại sau đó các đối tượng “dẫn dắt” bằng các thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt tài sản.

Thứ tư, đối tượng lợi dụng các trang mua sắm trực tuyến hoặc quảng cáo trên mạng xã hội (Telegram, Facebook, Zalo, Twitter, Instagram)... để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

Thông qua những kênh này, đối tượng bán các mặt hàng thông dụng, hoặc mặt hàng thiết yếu với số lượng lớn, giá rẻ hơn giá thị trường... yêu cầu bị hại nhanh chóng đặt hàng và chuyển tiền đặt cọc trước để xác nhận mua hàng và/hoặc thanh toán theo hình thức Ship Cod6 (Cash On Delivery). Sau một thời gian, người bán lấy lý do không còn hàng, hàng bị chặn ở biên giới... số tiền đặt cọc đã dùng để đặt hàng nên không còn tiền hoàn trả, khi nào có sẽ hoàn trả; hoặc giao hàng không đúng mẫu mã, chủng loại, chất lượng, trốn tránh người mua bằng cách khóa sim, chặn điện thoại, khóa mạng xã hội...; hoặc giới thiệu việc làm trên các trang thương mại điện tử (Shopee, Lazada...) để hưởng phần trăm hoa hồng, đối tượng sẽ chia công việc thành các “gói nhiệm vụ” có giá trị từ thấp đến cao, bị hại bắt đầu từ nhiệm vụ thấp sau khi hoàn thành “nhiệm vụ” sẽ được các đối tượng chuyển trả ngay cả tiền gốc và tiền hoa hồng để tạo lòng tin, tiếp đó khi thực hiện nhiệm vụ cao hơn, bị hại được yêu cầu chuyển một khoản tiền lớn, sau khi nhận được tiền các đối tượng lấy lý do thao tác chưa chính xác nên phải chuyển tiếp để nhận lại tiền, cần phải chuyển tiền để thực hiện nhiệm vụ tiếp mới nhận lại được tiền...

Thứ năm, kết hợp tinh vi nhiều thủ đoạn phạm tội khác nhau

Các đối tượng đóng giả nhân viên công ty giao nhận hàng (shipper) hoặc nhân viên ngân hàng gọi điện đến bị hại thông báo có món đồ từ một công ty hoặc ngân hàng gửi do trúng thưởng (bên cạnh việc gọi điện thông báo, các đối tượng kết hợp nhắn tin, gửi hình ảnh để tạo lòng tin) và yêu cầu bị hại chuyển tiền để nhận hàng; hoặc đóng giả shipper thông báo đến bị hại có món đồ đang được vận chuyển đến nhưng bị công an tạm giữ để điều tra sau đó các đối tượng sẽ kết nối với một đối tượng khác giả danh cán bộ công an để trao đổi, đe dọa và yêu cầu nạn nhân chuyển tiền vào các số tài khoản mà đối tượng cung cấp để xác minh.

Thứ sáu, lập/tạo website giả mạo website ngân hàng ngày càng tinh vi

Lợi dụng kiến thức về công nghệ thông tin, thành tựu khoa học, công nghệ, các đối tượng có thể dễ dàng tạo một website, xây dựng nền tảng giống như website chính thức của ngân hàng để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Thông qua các hình thức khác nhau, đối tượng sẽ gửi đường dẫn (link) giả mạo với nội dung thông báo nâng cấp hệ thống, tài khoản tạm ngừng dịch vụ... và yêu cầu bị hại truy cập vào các website bằng đường link giả (thường được giới thiệu là link dự phòng của ngân hàng) và làm theo các yêu cầu của đối tượng. Khi bị hại truy cập vào link, cung cấp thông tin thì đối tượng có thể dễ dàng chiếm đoạt tiền từ tài khoản thực của bị hại.

Nhìn chung, các đối tượng thực hiện lừa đảo một cách tinh vi, với phương thức hiện đại, phân công phân nhiệm rõ ràng giữa từng thành viên; đặc điểm chung của các thủ đoạn thực hiện hành vi trên nền tảng số, không gian mạng, thông qua hình thức chủ yếu là liên kết tài khoản ngân hàng hoặc các app, ví điện tử của chủ thể với một phương tiện khác, có xu hướng tác động vào tài khoản ngân hàng nhằm chiếm đoạt thông qua việc chuyển tiền qua tài khoản, việc thực hiện hành vi phạm tội và xóa dấu vết được thực hiện nhanh chóng. Khi thực hiện xong các hành vi phạm tội, các đối tượng có thể nhanh chóng đánh sập website, xóa vĩnh viễn tài khoản giả mạo... gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình giải quyết vụ việc.

3. Một số giải pháp phòng, chống và khuyến nghị

3.1. Một số giải pháp phòng, chống

Thứ nhất, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, nâng cao kiến thức về giao dịch, chuyển khoản ngân hàng qua máy tính, điện thoại thông minh. Trước khi giao dịch cần tìm hiểu kỹ thông tin dịch vụ, các quy định về lãi suất, phí... trước khi quyết định vay tiền, chuyển tiền; đồng thời lựa chọn các tổ chức tín dụng, ngân hàng uy tín để tránh “mắc bẫy” từ tín dụng đen sử dụng công nghệ cho vay trực tuyến lãi suất cao; luôn cảnh giác với các tin nhắn, cuộc gọi, email, yêu cầu truy cập đường link lạ, cung cấp thông tin tài khoản, thông tin cá nhân; cần tìm hiểu kĩ lưỡng, chính xác danh sách chính thống của các website và fanpage của ngân hàng mà cá nhân đang sử dụng dịch vụ để tránh truy cập vào các website giả mạo. Trước khi thực hiện mỗi giao dịch, cần xác thực người định thực hiện giao dịch khi nhận được yêu cầu chuyển tiền, nạp tiền...

Thứ hai, các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Viện Kiểm sát nhân dân cần kịp thời tổng kết, ban hành kiến nghị phòng ngừa đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền như các tổ chức tín dụng, ngân hàng, chủ quản mạng xã hội của nước ngoài tại Việt Nam... để kịp thời có biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp.

Thứ ba, tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan tố tụng và cơ quan báo chí, truyền thông trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng; chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, nhấn mạnh vào thủ đoạn thực hiện hành vi hiện nay; các quy định pháp luật về tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, Luật An ninh mạng; phương thức sử dụng mạng xã hội, kinh nghiệm mua bán trực tuyến... Công an xã và chính quyền địa phương cần tích cực tuyên truyền với phương thức “đi từng ngõ, gõ từng nhà, nói từng người”, vận động quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tự phòng ngừa, tự bảo vệ tài sản, nhanh chóng tố giác tội phạm khi phát hiện dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, hợp tác tích cực với cơ quan tư pháp để giải quyết vụ án, vụ việc hiệu quả.

Thứ tư, các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu tranh với tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao nói chung, tội phạm lừa đảo trên không gian mạng nói riêng. Trước mắt, cần nghiên cứu giao cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp các bộ, ngành hữu quan (Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam...) xây dựng văn bản liên ngành tư pháp dưới luật về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, văn bản hướng dẫn có nội dung phân biệt và xử lý giữa tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản với nhóm tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong Bộ luật Hình sự. Đồng thời, cần tập trung xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao về công nghệ thông tin; tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng trong tình hình mới.

3.2. Một số khuyến nghị

Một là, mỗi người cần tự bảo quản và không tự ý cung cấp thông tin cá nhân như chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ khẩu, thông tin bảo mật sử dụng ngân hàng trên app điện tử (tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP, số thẻ); thông tin xác thực giao dịch; thông tin về tài khoản ví điện tử liên kết qua các đường truyền chưa được xác thực cho bất cứ ai, kể cả người tự xưng là cán bộ cơ quan bảo vệ pháp luật, cán bộ ngân hàng... để tránh bị kẻ gian lấy cắp và sử dụng thông tin trái phép; đồng thời, không chia sẻ các thông tin này lên mạng xã hội, đặc biệt là những trang giao dịch mua bán trực tuyến hay lưu ở những nơi mọi người có thể dễ dàng đọc được.

Hai là, không được truy cập và thực hiện giao dịch trên các website lạ nhận được qua tin nhắn, email hay mạng xã hội, không truy cập vào các website giả danh ngân hàng. Khi nhận được tin nhắn, cần kiểm tra thông tin, cẩn trọng khi truy cập vào link chứa trong tin nhắn.

Ba là, không lưu tự động thông tin đăng nhập ngân hàng điện tử trên bất cứ thiết bị điện tử và trình duyệt website nào; thường xuyên thay đổi mật khẩu Internet Banking, Smart Banking và có biện pháp để quản lý, bảo mật các thông tin này.


Bốn là, sử dụng đa dạng các phương thức xác thực giao dịch; cài đặt bảo mật từ 2 lớp trở lên trên app ngân hàng để tăng cường bảo mật; chủ động xác minh trực tiếp với các ngân hàng, tổ chức tín dụng trước khi thực hiện các dịch vụ ưu đãi được giới thiệu.

Năm là, không dùng lại sim điện thoại khi chưa chuyển thông tin. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông và Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, các thuê bao di động cần phải cung cấp các thông tin cá nhân chính xác (họ và tên, căn cước công dân, ngày cấp và nơi cấp...) với các nhà mạng. Quy định nhằm giúp bảo vệ quyền lợi của khách hàng sử dụng dịch vụ, đồng thời tăng cường quản lý giải quyết triệt để tình trạng sim “rác”, tình trạng giả mạo giấy tờ trong việc kết nối đồng bộ thông tin thuê bao di động với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư7. Vì vậy, mỗi người cần đăng ký sim “chính chủ” ngay từ khi mua mới, mua lại sim, không tùy tiện cho mượn và sử dụng các thiết bị cá nhân vào mục đích không rõ ràng.

1 Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, Những con số về Digital tại Việt Nam 2024 mà bạn phải biết, https://vecom.vn/nhung-con-so-ve-digital-tai-viet-nam-2024-ma-ban-phai-biet
2 Nguyễn Hoàng Thanh và Trần Thị Hoa (2018), Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207293
3 Viện Ngôn ngữ học - Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, 2019, trang 1214.
4 Phạm Vinh (2024), Người dân bị lừa đảo khoảng 10.000 tỷ đồng trên không gian mạng, https://vneconomy.vn/nguoi-dan-bi-lua-dao-khoang-10-000-ty-dong-tren-khong-gian-mang.htm
5 VoIP sử dụng các gói dữ liệu IP (trên mạng LAN, WAN, Internet) và yêu cầu kết nối băng thông tốc độ cao hoặc cáp với thông tin được truyền tải là mã hóa của âm thanh. “Nguyên tắc hoạt động của VoIP bao gồm việc số hóa tín hiệu tiếng nói, thực hiện việc nén tín hiệu số, chia nhỏ các gói nếu cần và truyền gói tin này qua mạng, tới nơi nhận các gói tin này được ráp lại theo đúng thứ tự của bản tin, giải mã tín hiệu tương tự phục hồi lại tiếng nói ban đầu”, https://viblo.asia/p/gioi-thieu-tong-quan-ve-voip-oOVlYBW458W
6 Đây là hình thức thanh toán khi nhận hàng, nói đơn giản Ship Cod là hình thức giao hàng thu tiền hay giao hàng thu hộ tiền.

7 Thông báo số 174/TB-VPCP ngày 15/6/2022 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Cuộc họp về Kết nối thông tin thuê bao (trừ thông tin mật) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giải quyết tình trạng sử dụng sim rác.


Tài liệu tham khảo:

1. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, Những con số về Digital tại Việt Nam 2024 mà bạn phải biết, https://vecom.vn/nhung-con-so-ve-digital-tai-viet-nam-2024-ma-ban-phai-biet

2. Nguyễn Hoàng Thanh và Trần Thị Hoa (2018), Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207293

3. Phạm Vinh (2024), Người dân bị lừa đảo khoảng 10.000 tỷ đồng trên không gian mạng, https://vneconomy.vn/nguoi-dan-bi-lua-dao-khoang-10-000-ty-dong-tren-khong-gian-mang.htm

4. Quang Hòa, Giới thiệu tổng quan về VoIP, https://viblo.asia/p/gioi-thieu-tong-quan-ve-voip-oOVlYBW458W

5. Viện Ngôn ngữ học - Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, 2019.


ThS. Trần Trọng Hoàn, Ngô Anh Hoàng

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

An ninh mạng toàn cầu đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược hàng đầu đối với mọi quốc gia, tổ chức và cá nhân. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các mối đe dọa tinh vi và khó lường trong không gian mạng. Các cuộc tấn công mạng không còn chỉ nhằm vào dữ liệu cá nhân mà đã mở rộng sang hạ tầng trọng yếu, hệ thống tài chính và cả an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao nhận thức và đầu tư vào các giải pháp bảo mật hiện đại trở thành yếu tố then chốt để đảm bảo một môi trường số an toàn, bền vững.
Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và rủi ro đặc thù khi nhận tài sản số làm tài sản bảo đảm, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị giúp tổ chức tín dụng an toàn trong việc cấp tín dụng và thu hồi nợ.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo tác nhân (Agentic AI) như một thế hệ trí tuệ nhân tạo tự chủ trong nâng cao chất lượng ra quyết định tài chính, với ba ứng dụng trọng tâm gồm lập hồ sơ rủi ro khách hàng, phê duyệt khoản vay dự đoán và quản lý kho quỹ tự động, qua đó mở ra tiềm năng chuyển đổi sâu sắc hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số.
Hoàn thiện pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hành trình chuyển đổi số ngân hàng

Hoàn thiện pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hành trình chuyển đổi số ngân hàng

Ngành Ngân hàng luôn tiên phong trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng. Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, công tác phòng chống gian lận, bảo vệ người tiêu dùng nói riêng và bảo đảm an ninh, an toàn giao dịch điện tử nói chung là yếu tố then chốt, sống còn của chuyển đổi số. Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ các ngân hàng, định chế tài chính và công ty công nghệ tài chính phát triển AI, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
Xem thêm
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành