Một số nét cơ bản về chỉ số giá bất động sản nhà ở

Thị trường tài chính
Hiện nay, trên thế giới, có ba loại chỉ số giá bất động sản phổ biến nhất là chỉ số giá bất động sản nhà ở RPPI (Residential Property Price Index - RPPI) hay còn gọi là HPI (House Price Index), chỉ số giá đất (LPI) và chỉ số giá bất động sản thương mại (CPPI). RPPI đo lường giá bất động sản nhà ở, trong khi LPI và CPPI đo lường giá đất và giá bất động sản thương mại.
aa

Hiện nay, trên thế giới, có ba loại chỉ số giá bất động sản phổ biến nhất là chỉ số giá bất động sản nhà ở RPPI (Residential Property Price Index - RPPI) hay còn gọi là HPI (House Price Index), chỉ số giá đất (LPI) và chỉ số giá bất động sản thương mại (CPPI). RPPI đo lường giá bất động sản nhà ở, trong khi LPI và CPPI đo lường giá đất và giá bất động sản thương mại.

1. Chỉ số giá bất động sản nhà ở là gì?

RPPI là chỉ số đo lường tốc độ thay đổi theo thời gian giá của bất động sản nhà ở (căn hộ, nhà riêng lẻ,...) bao gồm cả giá nhà tại khu chung cư. Giá ở đây là mức giá thị trường.

2. Vai trò của chỉ số giá bất động sản nhà ở

RPPI là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng trong phân tích kinh tế vĩ mô, cụ thể:

- Được sử dụng như một chỉ số kinh tế vĩ mô phản ánh tăng trưởng kinh tế: Giá nhà tăng thường liên quan đến thời kì mở rộng kinh tế trong khi giá nhà giảm thường tương ứng với một nền kinh tế chậm lại. Goodhart và Hofmann (2006) chỉ ra rằng, đối với 16 nước công nghiệp phát triển tồn tại một mối tương quan chặt chẽ giữa giá nhà và hoạt động kinh tế. Trên thực tế, sáu cuộc khủng hoảng ngân hàng lớn tại các nước phát triển kể từ giữa những năm 1970 đều liên quan đến sự bùng nổ của bong bóng nhà đất (Reinhart và Rogoff, 2009).

- Được sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ và lạm phát mục tiêu: Giá tài sản, bao gồm cả giá bất động sản, là một chìa khóa chỉ báo để hiểu đầy đủ hơn về động lực của nền kinh tế. Theo Plosser (2007), giá tài sản chứa thông tin quan trọng về tình trạng hiện tại và tương lai của nền kinh tế và có thể đóng một vai trò quan trọng đối với các ngân hàng trung ương trong việc đạt được mục tiêu ổn định giá cả.

Ví dụ, các ngân hàng trung ương ở một số quốc gia sử dụng Chỉ số điều kiện tiền tệ (MCI) làm mục tiêu hoạt động hằng ngày để thực hiện chính sách tiền tệ; trong đó, MCI có thể bao gồm diễn biến của giá nhà vì đây là biến có vai trò quan trọng trong kiểm soát lạm phát và phản ánh diễn biến của nền kinh tế. Các ngân hàng trung ương theo đuổi lạm phát mục tiêu sẽ gián tiếp đưa sự biến động của giá nhà khi thiết lập ra lãi suất điều hành.



Thông tin về giá bất động sản, chỉ số giá bất động sản được các nhà đầu tư,
người tiêu dùng quan tâm và sử dụng.


- Đóng vai trò như một đầu vào để ước tính mức độ giàu có: Rõ ràng là giá nhà tăng thường gắn liền với tăng trưởng kinh tế thông qua ít nhất ba kênh: (i) Giá nhà (tương đối) cao hơn có xu hướng kích thích hoạt động xây dựng, từ đó dẫn đến việc làm cao hơn và thu nhập cao hơn cho người lao động tham gia vào thị trường nhà ở. Kì vọng của lợi tức đầu tư bất động sản trong tương lai cao hơn khiến các nhà xây dựng bắt đầu xây dựng mới, điều này đi kèm với nhu cầu thị trường cao hơn trong các lĩnh vực liên quan đến bất động sản bao gồm cả chủ sở hữu và nhà đầu tư bất động sản; (ii) Giá nhà cao hơn có xu hướng dẫn đến tăng doanh số bán hàng của các đại lí phân phối nhà ở hiện tại và điều này làm tăng các khoản thu thuế dưới dạng thuế chuyển nhượng tài sản. Những khoản thu thuế tăng này có thể dẫn đến tăng chi tiêu của Chính phủ, từ đó Chính phủ có nguồn thu thêm để kích thích kinh tế; (iii) Giá bất động sản tăng sẽ kéo theo sự cải thiện trong bảng cân đối kế toán của khu vực hộ gia đình (hiệu ứng giàu có) và thường sẽ dẫn đến hộ gia đình tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư. Theo một báo cáo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ (2007), khi giá nhà tăng vọt trong những năm 1990 và những năm 2000, chi tiêu của người tiêu dùng tăng nhanh hơn thu nhập. Hiệu ứng giàu có hộ gia đình thường dẫn đến sự gia tăng trong chi tiêu của người tiêu dùng cho việc cải tạo và sửa chữa nhà ở ngoài việc tăng chi tiêu cho các hàng hóa khác và các dịch vụ.

Tất nhiên, những tác động kích thích trên của việc tăng giá nhà sẽ đảo ngược khi giá nhà giảm. Do đó, điều quan trọng là công chúng và các nhà hoạch định chính sách cần có thông tin về diễn biến giá bất động sản chính xác và kịp thời.

- Đóng vai trò như một chỉ số để đo lường mức độ ổn định/lành mạnh tài chính hoặc là chỉ số đo lường mức độ rủi ro: Các chỉ số lành mạnh tài chính (FSI) là các chỉ số về sức khỏe hiện tại và sự lành mạnh của tài chính hệ thống và thể chế của một quốc gia; trong đó bao gồm hoạt động thống kê về giá bất động sản. Tại Báo cáo tháng 10/2009 cho các Bộ trưởng Tài chính G-20 và Thống đốc Ngân hàng Trung ương về Khủng hoảng Tài chính và Khoảng trống thông tin đề cập rằng thông tin về nhà ở và thay đổi về giá là những thành phần quan trọng để phân tích chính sách ổn định tài chính. Giá bất động sản giảm mạnh có tác động bất lợi đến sức khỏe và sự lành mạnh của khu vực tài chính, tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình cá nhân, do ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm, giá trị của tài sản bảo đảm và tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ khăng khít giữa chu kì bất động sản và chu kì kinh tế. Do đó, việc sử dụng các chỉ số giá bất động sản nhà ở như các chỉ số ổn định tài chính, đặc biệt là tại các quốc gia mà bất động sản chiếm tỉ trọng đáng kể trong tài sản quốc gia, hộ gia đình và là nơi xu hướng sở hữu tài sản nhà ở cao. Ngoài các thông tin về giá bất động sản thì việc bổ sung các thông tin khác như tỉ lệ nhà được mua bằng tiền mặt, tỉ lệ mua nhà được tài trợ bằng các khoản vay, tập trung ở phân khúc nào của thị trường (bất động sản giá trị cao/thấp, vị trí địa lí nào (thành thị/nông thôn)) cũng đóng vai trò quan trọng.

- Đóng vai trò như một đầu vào trong việc ra quyết định của một cá nhân về việc có nên mua (hoặc bán) một tài sản nhà ở: Những thay đổi về giá nhà có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến việc một hộ gia đình có quyết định mua một tài sản hay không, cả kế hoạch ngân sách và tiết kiệm. Mức giá và xu hướng hiện tại, cùng với kì vọng về xu hướng tương lai của giá nhà và tỉ lệ lãi suất thế chấp sẽ ảnh hưởng đến quyết định của một cá nhân trong quyết định để mua ngay bây giờ hoặc trì hoãn giao dịch mua này.

- Đóng vai trò như một đầu vào để tính toán chỉ số giá tiêu dùng: Rổ hàng hóa để tính CPI có bao gồm chi phí thuê nhà (giá thuê nhà). Theo đó, khi giá nhà được định giá tăng lên, chủ sở hữu căn nhà đó thường có xu hướng tăng giá thuê nhà, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát CPI.

3. Mục đích và phạm vi tính toán chỉ số giá bất động sản nhà ở

Việc tính toán chỉ số này để theo dõi sự thay đổi về giá của bất động sản nhà ở. Chỉ số giá bất động sản nhà ở không bao gồm đất, tài sản thương mại và giá tiền thuê. Thông thường RPPI thường được tính toán và cung cấp với tần suất hằng quý. Đối với các nước như Canada, Ireland, Iceland, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc và Nam Phi, chỉ số này còn được công bố với tần suất hằng tháng.

4. Giá cả và quy trình giao dịch bất động sản

Bước đầu tiên trong việc thiết kế RPPI, người biên soạn cần có hiểu biết sâu sắc về quy trình giao dịch bất động sản ở quốc gia của họ. Điều này sẽ giúp cho việc tính toán chỉ số giá bất động sản được chính xác hơn vì các nhà biên soạn sẽ hiểu được các thông tin được tạo ra trong suốt quá trình giao dịch bất động sản và xác định dữ liệu nào hữu ích cho mục đích biên soạn RPPI. Dòng thời gian của một quá trình giao dịch bất động sản được cụ thể hóa theo quy trình sau bao gồm trong quá trình thực hiện giao dịch và sau khi giao dịch xảy ra:

Hộp 1: Quy trình giao dịch bất động sản


Hỏi giá (Giá chào bán) à Giá giao dịch (Người mua và người bán thương lượng và cơ bản đồng ý về giá) à Giá định giá à Giá công bố (Giá kê khai) (Hợp đồng được kí kết, giao dịch được đăng kí, đóng thuế).


Trong quy trình giao dịch trên cho thấy, cùng một căn nhà có thể có nhiều mức giá khác nhau tại những thời điểm khác nhau (giá chào bán, giá giao dịch và giá khai báo). Do đó, việc thu thập mức giá bất động sản nhà ở nào mà mức giá đó sát với giá thực tế giao dịch nhất là việc rất quan trọng để tính toán chính xác RPPI.

Hộp 2: Các khái niệm về giá


Giá
Diễn giả
Giá chào bán
Tương ứng với giá chào bán khi căn nhà được đưa ra thị trường. Nó có thể thay đổi nếu căn nhà phải mất một thời gian mới được bán và sau khi thương lượng. Ở một số thị trường, giá chào bán có thể cao hơn
giá mục tiêu.

Giá giao dịch
Sau khi thương lượng, người mua và người bán thống nhất được giá cả. Đây là giá mục tiêu. Tuy nhiên, điều này có thể khó đạt được vì tại thời điểm này chưa có dữ liệu đăng kí chính thức nào.

Giá định giá
Căn nhà do tổ chức cho vay định giá. Giá trị thẩm định có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng giá giao dịch.

Giá kê khai
Đây là giá “hợp pháp” của nhà ở, thường được sử dụng cho mục đích tính thuế. Việc đăng kí giá bán thường được thực hiện muộn hơn thời điểm giao dịch và giá kê khai có thể khác với giá giao dịch.


5. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu cần thiết để xây dựng RPPI có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm các trang web, cơ quan quản lí bất động sản, cơ quan thuế hoặc các cuộc khảo sát do các tổ chức thống kê quốc gia thực hiện. Cụ thể:


Hộp 3: Nguồn dữ liệu để hỏi giá


Mỗi quốc gia đều có những nguồn dữ liệu khác nhau để thu thập. Điều quan trọng là phải tìm nguồn dữ liệu nào phản ánh giá gần với giá giao dịch nhất.

6. Cấu trúc dữ liệu, làm sạch dữ liệu và phương pháp tính toán

6.1. Cấu trúc dữ liệu

Các biến được đưa vào bộ dữ liệu tổng hợp thường bao gồm các đặc điểm sau:

- Giai đoạn (phân loại theo quý, tháng, năm).

- Loại nhà ở (nhà ở riêng lẻ, nhà liền kề, nhà gỗ, nhà bậc thang, căn hộ, chung cư…).

- Vị trí: quận, vùng.

- Tầng, diện tích sàn, số phòng ngủ, số phòng tắm, bể bơi,…

- Năm xây dựng.

- Mức giá.

- Chỉ số BER (Building energy rating - xếp hạng năng lượng tòa nhà theo mức đánh giá từ cao đến thấp).

- Trạng thái: mới xây dựng hoặc đã tồn tại.

- Vùng lân cận (nông thôn/thành thị).

- Hệ thống sưởi ấm (bằng gas, điện, dầu…).

Các đặc điểm của mỗi yếu tố trong từng dữ liệu có thể ảnh hưởng đến giá của một ngôi nhà. Đặc điểm về hệ thống sưởi ấm là yếu tố rất quan trọng khi tính RPPI khu vực Bắc Âu nhưng gần như không có liên quan gì ở châu Phi. Kích thước có vẻ quan trọng ở tất cả các thị trường nhưng cách đo kích thước có thể khác nhau, ví dụ như số phòng, diện tích sàn và kích thước lô đất/lô đất đối với nhà ở.

Khi nghiên cứu các biến số kinh tế, thông thường là sử dụng các biểu đồ để phát hiện các đặc tính trực quan của dữ liệu. Các biểu đồ chủ yếu được sử dụng gồm: Biểu đồ thanh (Bar charts), biểu đồ phân tán (Scatterplots), biểu đồ hộp (Boxplots and histograms), biểu đồ dòng thời gian (time series line plots). Đối với các biến cần đưa về dạng logarit để xem xét sự thay đổi của các biến.

6.2. Làm sạch dữ liệu

Sau khi có dữ liệu, các biến số được làm sạch, theo đó, một quy trình xử lí dữ liệu được đề cập đến bao gồm:

(i) Kiểm tra các thông tin bị thiếu: Một cách để đánh giá mức độ của các giá trị bị thiếu là tính tỉ lệ phần trăm của các giá trị bị thiếu trên tổng giá trị mong đợi. Trường hợp tỉ lệ phần trăm của các giá trị bị thiếu nhỏ hơn 10%, thường vẫn có thể chấp nhận được.

(ii) Kiểm tra các bản ghi trùng lặp. Ví dụ, việc một ngôi nhà có cùng ngày bán và địa chỉ xuất hiện trên dữ liệu nhiều lần có thể không chính xác về mặt logic. Theo đó, với những trường hợp này, thực hiện rà soát và loại bỏ các bản ghi trùng lặp.

(iii) Kiểm tra lỗi và các ngoại lai: Mặc dù việc xác định các giá trị bị thiếu là điều đơn giản nhưng việc xác định lỗi và các giá trị ngoại lai lại khó khăn hơn. Đầu tiên, điều quan trọng là phải phân biệt lỗi với các ngoại lai. Mặc dù một ngoại lai là hợp lí nhưng không có khả năng xảy ra cao và sai số là một giá trị không hợp lí. Ví dụ, một ngôi nhà dành cho một gia đình rộng 2.500 mét vuông với 50 phòng ngủ là hợp lí nhưng không có khả năng xảy ra cao, trong khi một căn hộ có 2.000 phòng ngủ là không hợp lí và sẽ là một sai sót. Lỗi có thể xảy ra do lỗi nhập dữ liệu hoặc báo cáo sai thông tin.

(iv) Tính toán trọng số: Có hai loại trọng số khi tính toán RPPI: Trọng số tích lũy (stock weights) và trọng số dòng chảy (flow weights). Trọng số tích lũy là trọng số tại một thời điểm ví dụ như số lượng tài sản của một khu vực địa lí tại một thời điểm; trong khi trọng số dòng chảy có thể là số lượng tài sản đã được bán trong một khoảng thời gian nhất định (khuyến nghị là một năm). Do đó, trọng số dòng chảy có liên quan đến các giao dịch diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, phù hợp để theo dõi sự ổn định tài chính.

Ở hầu hết các quốc gia, trọng số tích lũy được lấy từ dữ liệu điều tra dân số. Tuy nhiên, việc này phát sinh nhiều thách thức đối với quá trình tính RPPI. Thứ nhất, cuộc điều tra dân số có thể không thu thập được mức độ chi tiết mà người biên soạn RPPI yêu cầu, chẳng hạn như thông tin liên quan đến số phòng ngủ, phòng tắm và diện tích. Thứ hai, một cuộc điều tra dân số được tiến hành định kì, thường là 10 năm một lần và các quyền số có thể trở nên lỗi thời.

Trọng số dòng chảy thường được lấy từ các hồ sơ hành chính như giao dịch bất động sản hoặc dữ liệu khoản vay thu được từ các tổ chức tài chính.

6.3. Phương pháp tính toán

Bốn phương pháp chính hiện đang được sử dụng phổ biến nhất là phương pháp phân tầng, phương pháp lặp lại, phương pháp hồi quy và việc sử dụng thông tin định giá tài sản. Thông thường, phương pháp phân tầng và phương pháp hồi quy Hedonic là hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Phương pháp phân tầng là chia các mẫu giá bất động sản vào các ô nhỏ và thực hiện tính toán sự thay đổi giá của các ô thuộc mỗi tầng. Phương pháp hồi quy Hedonic là dùng mô hình hồi quy xác định các nhân tố ảnh hưởng đến giá bất động sản, từ đó tính toán chỉ số giá bất động sản ở phân tầng nhỏ hơn dựa vào mô hình hồi quy.

Do tầm quan trọng của chỉ số giá bất động sản và nhu cầu sử dụng chỉ số này, hiện trên thế giới, nhiều nước cũng đã công bố chỉ số giá bất động sản như ở Mỹ là HPI, ngoài ra Mỹ còn tính chỉ số giá nhà toàn quốc Case-Shiller. Một số quốc gia khác cũng đã tính toán và công bố chỉ số này như Canada, Ireland, Iceland, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc và Nam Phi.

Dưới đây là biểu đồ chỉ số giá bất động sản tại một số quốc gia.

Chỉ số giá bất động sản nhà ở tại Philippines (Năm 2010=100)

Chỉ số giá bất động sản nhà ở tại Ấn Độ (Năm 2010=100)

Chỉ số giá bất động sản nhà ở tại Chile (Năm 2010=100)

Nguồn: www.ceicdata.com


Phong Sơn

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chứng khoán hóa tài sản có thể trở thành công cụ thị trường quan trọng trong xử lý nợ xấu nếu được đặt trên nền tảng pháp lý đồng bộ, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường chặt chẽ, qua đó mở ra nhiều hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Xem thêm
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng