Hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Bài viết khoa học chuyên sâu
Với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, một phương thức cho vay trực tuyến mới xuất hiện là cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending/P2P Lending). P2P Lending là hoạt động được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay mà không thông qua các tổ chức trung gian tài chính. Nhờ ứng dụng nền tảng công nghệ kỹ thuật số, thủ tục, quy trình cho vay, giải ngân cũng được tối giản, tiết kiệm thời gian.
aa

Tóm tắt:

Với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, một phương thức cho vay trực tuyến mới xuất hiện là cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending/P2P Lending). P2P Lending là hoạt động được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay mà không thông qua các tổ chức trung gian tài chính. Nhờ ứng dụng nền tảng công nghệ kỹ thuật số, thủ tục, quy trình cho vay, giải ngân cũng được tối giản, tiết kiệm thời gian. Mặc dù có nhiều lợi thế hơn so với cho vay truyền thống, nhưng hoạt động P2P Lending cũng gây ra một số rủi ro. Vì vậy, bài nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò cũng như những rủi ro của hoạt động P2P Lending. Từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với hoạt động P2P Lending tại Việt Nam.

Từ khóa: P2P Lending, rủi ro, Việt Nam.

PEER - TO - PEER LENDING IN VIETNAM

Abstract: Along with development of digital technology, Peer-to-peer (P2P) Lending, an online lending activity, has recently been growing rapidly. P2P Lending is designed and operated on digital technology platform, in which lenders and borrowers can connect directly with each other instead of via financial institutions. P2P Lending can simplify lending procedures, paperworks and save time in transferring fund. However, P2P Lending could cause risks to the financial monetary security and stability. The paper aims to analyze benefits and risks relating to P2P Lending activity. Then, authors suggest recommendations to P2P Lending activity in Viet Nam.

Keywords: Peer-to-peer Lending, risk, Viet Nam.

1. Quy mô hoạt động P2P Lending tại Việt Nam

Tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện công ty hoạt động giống mô hình P2P Lending từ năm 2016 với trang huydong.com. Kể từ đó, nhiều công ty P2P Lending khác đã dần đi vào hoạt động, như Tima, SHA, Mobivi, Vaymuon.vn, Mofin…

Theo Báo cáo tài chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần 3, quy mô của thị trường P2P Lending Việt Nam khá nhỏ so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chiếm 1,6% khối lượng giao dịch của khu vực, chỉ xếp trên Nepal và Kazakhstan (University of Cambridge JBS, 2018). Điều này cũng phù hợp với tuổi đời còn non trẻ của mô hình P2P Lending tại Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có nhiều tiềm năng thích hợp cho sự phát triển của mô hình này dựa trên sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, Internet, thiết bị di dộng và đặc biệt là dữ liệu lớn (Big Data). Bên cạnh đó, sự thay đổi về cơ cấu dân số học, đặc biệt là thế hệ trẻ sẵn sàng thích ứng với công nghệ mới và mong muốn được cung cấp các dịch vụ tài chính thuận lợi và nhanh chóng hơn nên dễ dàng chấp nhận các sản phẩm dịch vụ mới như P2P Lending1.

Thống kê sơ bộ của Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam hiện có khoảng 100 công ty P2P Lending (bao gồm cả công ty đã đi vào hoạt động chính thức và một số công ty đang trong giai đoạn thử nghiệm) như Tima, Trust Circle, Vay mượn, Lendmo, Wecash, InterLoan… (Bảng 1). Tuy nhiên, thực tế số doanh nghiệp hoạt động P2P Lending có thể nhiều hơn và rất khó đo lường một cách chính xác vì hiện nay các cơ quan quản lý chưa tổ chức thống kê chính thức các thông tin liên quan đến doanh nghiệp triển khai hoạt động P2P Lending tại Việt Nam.

Bảng 1: Danh sách một số công ty P2P Lending truyền thống hoạt động tại Việt Nam


Nguồn: Lender.vn

Tuy mới xuất hiện và tồn tại khoảng 5 năm, các công ty P2P Lending đã đưa ra các sản phẩm vay vốn trên các nền tảng trực tuyến khá đa dạng, gồm: Vay có tài sản bảo đảm và vay không có tài sản bảo đảm, trong đó chủ yếu là vay không có tài sản bảo đảm. Đối với khoản vay cá nhân, các công ty P2P Lending đưa ra các sản phẩm vay tín chấp theo lương, vay theo sổ hộ khẩu, vay theo đăng ký xe máy, vay trả góp, vay theo hóa đơn điện, nước... Đối với doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs), các công ty P2P Lending cũng đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ như vay tài trợ các khoản phải thu, tài trợ bên mua hàng, tài trợ vốn lưu động, tài trợ thương mại điện tử... (Bảng 2)

Bảng 2: Số nền tảng P2P Lending theo quốc gia và theo đơn vị tiền tệ


Nguồn: https://p2pmarketdata.com/p2p-finance-worldwide-statistics/

2. Đánh giá vai trò và rủi ro trong hoạt động P2P Lending tại Việt Nam

Hoạt động P2P Lending tại thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, cần được hoàn thiện hơn về mọi mặt, cần đặt dưới sự quản lý sát sao của cơ quan quản lý. Trong thời gian tới, hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính, mở rộng khả năng và tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội nhưng có khả năng tiếp cận Internet, qua đó có thể góp phần đẩy lùi tình trạng “tín dụng đen”.

Để đánh giá vai trò và rủi ro trong hoạt động P2P Lending, nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát đối với 55 chuyên gia đến từ các tổ chức tín dụng (TCTD), các công ty Fintech và các trung gian. Kết quả khảo sát được thể hiện thông qua phân tích trong các nội dung tiếp theo. Thống kê dữ liệu khảo sát được thể hiện qua Bảng 3.

Bảng 3: Thống kê dữ liệu khảo sát


Nguồn: Kết quả thu được từ dữ liệu khảo sát

2.1. Vai trò của hoạt động P2P Lending

Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động Fintech nói chung và hoạt P2P Lending nói riêng do có tỷ lệ người dân tiếp cận dịch vụ viễn thông và sử dụng điện thoại di động ở mức cao. Theo số liệu của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, đến quý II/20222 số thuê bao điện thoại di động có phát sinh lưu lượng ở Việt Nam khoảng 123,87 triệu thuê bao, trong đó số thuê bao đang hoạt động có sử dụng dữ liệu là gần 78,66 triệu thuê bao. Đồng thời, theo kết quả điều tra dân số tháng 8/2022, Việt Nam hiện có hơn 99 triệu dân, đứng thứ 15 trên thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). Đây là điều kiện quan trọng cho sự phát triển hoạt động P2P Lending tại Việt Nam.

Hình 1: Vai trò của hoạt động P2P Lending tại Việt Nam

(điểm trung bình của các chuyên gia)


Nguồn: Kết quả thu được từ khảo sát

Kết quả khảo sát các chuyên gia (Hình 1) cho thấy hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được kỳ vọng có những vai trò chính như sau:

Thứ nhất, những đổi mới, sáng tạo trong lĩnh vực P2P Lending đã đem lại những lợi ích to lớn đối với các tổ chức tài chính - ngân hàng bằng cách bổ khuyết, cải tiến hoặc giải quyết tính thiếu hiệu quả trong sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện hành như giới hạn về thời gian, địa điểm giao dịch, điểm tiếp xúc khách hàng theo kênh vật lý, nhận biết và xác thực khách hàng (KYC), cũng như quy trình thủ tục giao dịch tương đối phức tạp như hiện tại. Theo khảo sát, các chuyên gia đều đồng tình và chấm điểm 4.35/5 cho vai trò này của hoạt động P2P Lending.

Thứ hai, P2P Lending cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế, thúc đẩy tài chính toàn diện quốc gia, góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính thông qua tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính đối với một bộ phận người dân chưa có tài khoản ngân hàng (unbanked) hoặc khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính - ngân hàng truyền thống (underbanked), người dân vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng truyền thống.

Thứ ba, đặc biệt, P2P Lending có thể đóng vai trò quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chính phủ số và nền kinh tế số trong cuộc CMCN 4.0 mà nhiều quốc gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam.

Trong những năm gần đây, lĩnh vực tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của các công ty Fintech. Riêng đối với lĩnh vực P2P Lending, tại Việt Nam hiện nay, qua khảo sát sơ bộ có khoảng 100 công ty P2P Lending (bao gồm cả công ty đã đi vào hoạt động chính thức và một số công ty đang trong giai đoạn thử nghiệm). Trong đó, một số công ty có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nga, Indonesia, Singapore… Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến thị trường cho vay tiêu dùng của Việt Nam và nhìn nhận đây là thị trường tiềm năng cho P2P Lending phát triển. Trong bối cảnh một số quốc gia trong khu vực châu Á thắt chặt quản lý hoạt động P2P Lending (Trung Quốc, Indonesia, Singapore…), thì các công ty nước ngoài đặc biệt là các công ty P2P Lending của Trung Quốc đang tìm cách chuyển hướng hoạt động sang thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế số doanh nghiệp hoạt động P2P Lending rất khó chính xác vì hiện nay các cơ quan quản lý tại Việt Nam chưa tổ chức thống kê chính thức các thông tin liên quan đến doanh nghiệp triển khai hoạt động P2P Lending tại Việt Nam (số lượng, tên gọi, quy mô, thực tế hoạt động, phạm vi, lĩnh vực hoạt động…), vì hoạt động này hiện chưa có khung pháp lý điều chỉnh.

2.2. Rủi ro trong P2P Lending tại Việt Nam

Lĩnh vực P2P Lending mới xuất hiện tại Việt Nam với những rủi ro chưa được nhận diện, đánh giá, xác định bản chất một cách đầy đủ, toàn diện và chính xác. Tuy nhiên, nhìn chung rủi ro đối với hoạt động P2P Lending có thể tương tự với các rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính và rủi ro vay nợ ngân hàng truyền thống, mang lại những tác động bất lợi, bất ổn đến an ninh kinh tế và ổn định xã hội.

Qua khảo sát của các chuyên gia, hoạt động P2P Lending ở Việt Nam hiện nay có thể gây ra các rủi ro sau đây cho những người tham gia: Rủi ro tín dụng và rủi ro pháp lý là hai rủi ro lớn nhất khi tham gia vào hoạt động P2P Lending vì hiện nay khung pháp lý chưa được hoàn thiện. Tiếp theo đó là rủi ro liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin, về đạo đức cũng như rủi ro trong vận hành công nghệ, và các nền tảng. Cụ thể như sau: (Hình 2)

Hình 2: Mức độ nghiêm trọng của các loại rủi ro trong P2P Lending hiện nay tại Việt Nam
(Điểm trung bình từ các chuyên gia
)

Nguồn: Dữ liệu thu thập từ khảo sát


a) Rủi ro pháp lý

Hiện nay, Việt Nam chưa có khung khổ pháp lý điều chỉnh, thiếu sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý dẫn đến tình trạng khách hàng không được bảo vệ quyền lợi thỏa đáng, với một hệ sinh thái như vậy, người cho vay trên hệ thống P2P Lending phải đối mặt với rủi ro mất tiền do người đi vay không thực hiện đúng thỏa thuận, lừa đảo; hoặc công ty vận hành P2P Lending thực hiện không đúng, không đủ các thủ tục xác định thông tin khách hàng vay và phòng, chống rửa tiền (AML) và trên thực tế hiện nay, đa số các sàn P2P Lending đều quy định việc thực hiện các nghĩa vụ đối với người đầu tư thuộc trách nhiệm của người đi vay mà không có bất kỳ liên đới trách nhiệm nào đến các công ty P2P.

b) Rủi ro tín dụng

Thỏa thuận giữa các bên tham gia mô hình P2P Lending (công ty P2P Lending và người cho vay, công ty P2P Lending và bên thứ ba, công ty P2P Lending và khách hàng vay…) còn thiếu rõ ràng, thiếu ràng buộc có tính pháp lý, cũng như chưa có cơ chế giám sát, hậu kiểm đối với việc sử dụng, quản lý vốn vay đúng mục đích của người đi vay, nên người cho vay có nguy cơ mất tài sản, dẫn đến rất nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài giữa các bên đối với các thỏa thuận và giao dịch dân sự lỏng lẻo nêu trên, từ đó tạo áp lực rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp trong việc theo đuổi, xét xử các vụ kiện, đặc biệt là các vụ khiếu kiện tập thể, đông người kéo dài. Đây là kinh nghiệm và cái giá phải trả khá đắt tại một số nền kinh tế thời gian qua, đặc biệt là tại Trung Quốc.

c) Rủi ro do liên quan đến hoạt động bất hợp pháp

Mô hình P2P Lending dễ trở thành công cụ cho một số đối tượng tiến hành trốn thuế, rửa tiền, tài trợ khủng bố… vì các cơ quan chức năng khó kiểm soát nguồn gốc luồng tiền, danh tính, mục đích.

d) Rủi ro bảo mật

Mô hình P2P Lending mới được hình thành và phát triển gần đây tại Việt Nam, nên nhiều ứng dụng P2P Lending chưa được hoàn thiện, cũng như chưa đáp ứng các tiêu chí về an toàn bảo mật dẫn tới nhiều lỗ hổng bảo mật còn tồn tại trước nguy cơ bị tấn công mạng, đánh cắp thông tin, lộ, lọt, rò rỉ dữ liệu tài khoản, có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia. Trường hợp các nền tảng P2P Lending bị mất dữ liệu hoặc các rủi ro công nghệ liên quan thì khả năng người cho vay mất trắng các khoản đầu tư là rất cao (vì không có cơ sở, bằng chứng ghi nhận lại các khoản cho vay mà người cho vay đã tiến hành cho vay). Bên cạnh đó, các công ty Fintech hầu hết khởi nguồn là các công ty khởi nghiệp non trẻ, không có hoặc chưa thiết lập bộ phận kiểm soát tuân thủ, thiếu sự kiểm soát, giám sát về mặt quy trình hoạt động (như yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu về vốn và khung khổ kiểm soát các rủi ro trong hoạt động...) nên hoạt động của các công ty tiềm ẩn rủi ro dẫn tới thiệt hại, tổn thất cho khách hàng, gây mất niềm tin của công chúng vào lĩnh vực non trẻ này.

e) Các rủi ro khác như rủi ro đạo đức, vận hành

Không chỉ tại Việt Nam mà tại nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là các trường hợp phát sinh tại Trung Quốc), một số nền tảng P2P Lending đã tận dụng sự nhầm lẫn, thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của người dân để quảng cáo và đưa ra thông tin lập lờ, không rõ ràng dẫn đến người cho vay hiểu nhầm các hoạt động đầu tư/cho vay qua các nền tảng P2P Lending là một hình thức gửi tiền có sự quản lý và bảo hiểm của Nhà nước. Khi người cho vay bị mất trắng các khoản đầu tư mà không được Nhà nước bảo hiểm như các khoản tiền gửi thông thường của hệ thống ngân hàng đã để lại các hệ lụy, bất ổn xã hội kéo dài rất nghiêm trọng.

Mô hình P2P Lending mới phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây và nhiều nền tảng P2P Lending đưa ra các quảng cáo sai lệch sự thật, hứa hẹn lợi nhuận cao, lãi suất cạnh tranh, để đánh vào điểm yếu là lòng tham của người cho vay. Trong các trường hợp đó, các bên tham gia mô hình P2P Lending dựa vào niềm tin, sự tín nhiệm, chỉ thấy những ưu điểm nổi bật được một số nền tảng P2P Lending quảng cáo sai sự thật, thậm chí lừa đảo mà chưa hiểu rõ bản chất, rủi ro của mô hình này nên chưa có ý thức bảo vệ được quyền lợi của mình. Dẫn đến khi phát sinh các rủi ro liên quan thì người cho vay/người đi vay bị mất trắng các khoản tiền đầu tư mà không truy đòi được bất kỳ trách nhiệm nào từ các nền tảng P2P Lending này.

Một số mô hình P2P Lending bị lợi dụng, biến tướng thành huy động tài chính đa cấp, lừa đảo, hình thức biến tướng của tín dụng đen, đòi nợ phi pháp và người cho vay, người đi vay dễ trở thành công cụ, nạn nhân của hành vi lừa đảo, rửa tiền hoặc chịu mức lãi suất (cộng phí) rất cao, thậm chí có thể cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay tại các TCTD.

Tất cả các vấn đề thực trạng ngành công nghiệp P2P Lending trên thế giới được tổng kết đến nay cũng là những vấn đề tương tự mà các nền tảng P2P Lending tại Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh khung pháp luật tại Việt Nam chưa có quy định cụ thể nhưng cũng không có quy định cấm đối với hoạt động này.

Tuy nhiên, NHNN đã rất quan tâm đến lĩnh vực này, cụ thể, tại Công văn số 5228/NHNN-CSTT ngày 08/7/2019, NHNN đã lưu ý đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về hoạt động P2P Lending.

3. Kết luận

Với sự phát triển nhanh, hoạt động trên phạm vi rộng, quy mô hoạt động ngày càng gia tăng của hoạt động P2P Lending cần thiết lập đầy đủ, đồng bộ các cơ chế, chính sách, trong đó thiết lập các quy tắc, tiêu chuẩn nội bộ cho bản thân hoạt động của các công ty P2P Lending là rất cần thiết. Trên cơ sở xem xét cơ chế thử nghiệm đã được một số quốc gia ban hành3, cũng như nhận thức, hiểu biết chung về thực tiễn thị trường, các rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được tổng kết đến thời điểm này, trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả khuyến nghị một số các quy tắc, tiêu chuẩn nội bộ cho các công ty P2P Lending như sau:

Một là, quy định rõ các mô hình hoạt động P2P Lending để đảm bảo loại hình hoạt động của các công ty tham gia được đăng ký đầy đủ chức năng hoạt động P2P Lending. Có thể thông qua việc xác định các nhóm khách hàng mục tiêu phù hợp và phân chia thành các nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; nhóm khách hàng phục vụ đại trà, nhóm khách hàng phục vụ có chọn lọc phù hợp với mỗi mô hình hoạt động P2P Lending. Từ việc xác định nhóm khách hàng mục tiêu, có thể xác định mô hình hoạt động P2P Lending để tương tác gồm: Các mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B - Business to Business), doanh nghiệp với khách hàng (B2C - Business to Consumer) hay khách hàng với khách hàng (C2C - Consumer to Consumer). Đối với mỗi một mô hình hoạt động cần hình thành những quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể bao gồm các yêu cầu về tài chính (vốn điều lệ), điều kiện thành lập (giấy phép thành lập doanh nghiệp, giấy phép vận hành sàn giao dịch), nguồn nhân lực (nhân sự quản lý, vận hành), tổ chức, vận hành (KYC; quản lý tài khoản và thanh toán cho giao dịch của khách hàng; kiểm tra, theo dõi, quản lý khoản vay…), đặc biệt là phạm vi hoạt động, cung ứng dịch vụ thu hút vốn xuyên biên giới... Các quy định rõ ràng, tạo thuận lợi cho các công ty P2P Lending phù hợp với năng lực kinh doanh.

Hai là, thiết lập các quy định chi tiết gồm tiêu chuẩn kỹ thuật phần mềm trực tuyến; yêu cầu duy trì sự hoạt động ổn định, liên tục của nền tảng; trách nhiệm định hạng tín dụng của người vay; trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhà đầu tư; những hạn chế trong việc quảng cáo, mời chào và đặc biệt không đưa ra mức cam kết về mức lãi suất đầu tư hấp dẫn, trách nhiệm dẫn vốn đến nơi sử dụng theo đúng hợp đồng giữa người cho vay và người đi vay…

Ba là, quy định đầy đủ về các hoạt động chuyên ngành, sản phẩm và dịch vụ, thiết lập các tiêu chuẩn sản phẩm và dịch vụ cho công ty P2P Lending theo chuẩn mực một cách minh bạch, đảm bảo an toàn, ổn định. Trong đó, quy định các tiêu chuẩn và chuẩn mực đối với giao dịch của hoạt động cho vay; các dự án cần huy động vốn để nhà đầu tư lựa chọn góp vốn vào dự án; kết nối nhà đầu tư với các khoản đầu tư phù hợp,… Thực hiện tiêu chuẩn hóa ở cấp độ ngành là rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định lâu dài trong lĩnh vực P2P Lending và mức độ tiêu chuẩn hóa cao nhất có thể sẽ giúp hạn chế rủi ro hoạt động, tăng cường bảo vệ khách hàng, lợi ích của những người tham gia được đảm bảo bao gồm sự tham gia của các ngân hàng trong nền tảng P2P Lending.

Bốn là, quy định về trách nhiệm của công ty P2P Lending trong việc bảo vệ quyền lợi đối với những người tham gia. Các nhà đầu tư cần đáp ứng các tiêu chí để tham gia, đảm bảo đủ hiểu biết để đầu tư; cần được thông báo về chi phí và rủi ro liên quan đến lựa chọn các sản phẩm vay để quyết định lựa chọn và sử dụng vốn vay hiệu quả, hạn chế rủi ro.

Năm là, quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động P2P Lending của công ty P2P Lending đầy đủ và đồng bộ, quy định về đánh giá tín nhiệm các đơn yêu cầu vay, các chuẩn mực quản trị rủi ro và tiêu chuẩn hóa các số liệu, minh bạch các thông tin giao dịch để giúp xác định kịp thời tổn thất, góp phần đảm bảo an toàn đối với các khoản vay.


1 Theo số liệu của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, đến quý II/2022 số thuê bao điện thoại di động có phát sinh lưu lượng ở Việt Nam khoảng 123,87 triệu thuê bao, trong đó số thuê bao đang hoạt động có sử dụng dữ liệu là gần 78,66 triệu thuê bao. Đồng thời, theo kết quả điều tra dân số tháng 8/2022, Việt Nam hiện có hơn 99 triệu dân, đứng thứ 15 trên thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines).
2 http://vnta.gov.vn/thongke/Trang/dulieuthongke.aspx#.
3 Một số quốc gia ban hành Cơ chế thử nghiệm được xem xét, bao gồm: Vương quốc Anh (FCA); Hồng Kông (HKMA, SFC, IA); Singapore (MAS), Malaysia (BNM), Thái Lan (BOT, SEC, OIC).


Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Tín Nghị và cộng sự (2022), Nghiên cứu hoạt động cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam. Đề tài cấp ngành 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2. Một số trang website:Lender.vn; https://p2pmarketdata.com


ThS. Bùi Thúy Hằng (Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

ThS. Phạm Xuân Dũng (Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế)

PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh (Học viện Ngân hàng)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết sử dụng bộ dữ liệu từ Khảo sát Môi trường Kinh doanh và Hiệu quả Doanh nghiệp (BEEPS) của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) và Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2018 - 2025 để phân tích vai trò của điều kiện kinh tế vĩ mô đối với quyết định quản lý năng lượng và theo dõi phát thải CO₂ của doanh nghiệp, qua đó làm rõ những động lực và rào cản cấu trúc trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thông qua bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 59.846 doanh nghiệp tại 68 quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2025, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với các đặc tả trọng số khác nhau và phân tích theo châu lục. Từ đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò khác biệt của cấu trúc sở hữu đối với quyết định giảm phát thải của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ sự chi phối của điều kiện tài chính và bối cảnh thể chế trong việc thúc đẩy hành động khí hậu ở cấp độ doanh nghiệp.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Bài viết làm rõ phân loại nhà đầu tư, phong cách đầu tư tương ứng, đồng thời, phân tích ý nghĩa của việc xác định phong cách từ góc độ tài chính hành vi và trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá về việc áp dụng các phong cách đầu tư làm gia tăng hiệu quả của danh mục, cũng như hiệu quả quản lý thị trường chứng khoán.
Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh đã trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành Ngân hàng hiện đại, phản ánh cam kết của các tổ chức tài chính đối với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và áp lực từ các bên liên quan, ngân hàng xanh không chỉ là một trách nhiệm xã hội mà còn là cơ hội kinh doanh chiến lược...
Cơ chế tác động của công nghệ tài chính đến phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Một số phân tích chính yếu

Cơ chế tác động của công nghệ tài chính đến phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Một số phân tích chính yếu

Bài viết đánh giá về sự phát triển của Fintech tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, đồng thời dự báo Fintech đã, đang và sẽ trở thành một yếu tố quan trọng trong việc định hình nền kinh tế số của Việt Nam. Việc triển khai Fintech đã dẫn đến giảm đáng kể chi phí giao dịch, tăng tốc độ giao dịch tài chính và cải thiện hiệu quả hoạt động tổng thể, từ đó củng cố nền kinh tế số.
Tác động của chuyển đổi số đến kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc cải tiến công nghệ mà còn là đòn bẩy chiến lược giúp thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp. Vấn đề này được xem như một mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hàng đầu. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá vai trò trung gian của quản trị doanh nghiệp, hiệu suất cảm nhận và hiệu quả tài chính trong mối quan hệ giữa chuyển đổi số đối với kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam...
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành