Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước

Nghiên cứu - Trao đổi
Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá).
aa

1. Tổng quan về các giao dịch phái sinh

Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá). Bản thân giao dịch phái sinh chỉ có giá trị cho bên bán/mua khi thực hiện quyền/nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Các giao dịch phái sinh thường dùng để phòng vệ, đầu cơ, tiếp cận với các tài sản hoặc thị trường khó giao dịch, gồm một số loại như giao dịch các nghiệp vụ nợ thế chấp và hoán đổi rủi ro tín dụng, các giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi, giao dịch quyền chọn, giao dịch trần sàn và các sản phẩm cấu trúc.


Các giao dịch phái sinh thường dùng để phòng vệ, đầu cơ, tiếp cận với các tài sản hoặc thị trường khó giao dịch. (Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: Internet)


Đối với ngành Ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD) sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối, hay còn gọi là phái sinh tiền tệ (Foreign exchange derivative/Currency derivative) và phái sinh lãi suất (Interest - rate derivative) để trao đổi hai loại tiền tệ/lãi suất vào một ngày trong tương lai theo một tỉ lệ nhất định. Trong đó, các loại hợp đồng phái sinh phổ biến bao gồm:

(i) Hợp đồng kỳ hạn (Forwards contract) là hợp đồng được soạn thảo giữa hai bên, trong đó việc thanh toán diễn ra tại một thời điểm cụ thể ở tương lai với mức giá hoặc lãi suất được xác định trước của ngày hôm nay.

(ii) Hợp đồng tương lai (Futures contract) là các hợp đồng mua/bán một tài sản vào hoặc trước một ngày trong tương lai ở một mức giá/lãi suất quy định ngày hôm nay.

Một hợp đồng tương lai khác với một hợp đồng kỳ hạn ở điểm hợp đồng tương lai là hợp đồng chuẩn hóa được viết bởi một nhà thanh toán bù trừ vận hành sàn giao dịch nơi hợp đồng này có thể được mua và bán (Stock exchange market), trong khi hợp đồng kỳ hạn là một hợp đồng không được chuẩn hóa, được tạo và ký bởi chính các bên viết ra (OTC market). Theo đó, rủi ro lớn nhất của hợp đồng kỳ hạn là việc bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

(iii) Hợp đồng quyền chọn (Options contract) là các hợp đồng cung cấp cho chủ sở hữu quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua (trong trường hợp của một quyền chọn mua) hoặc bán (trong trường hợp của một quyền chọn bán) một tài sản. Tỉ giá/lãi suất mà tại đó việc bán diễn ra được gọi là tỉ giá/lãi suất đã ký kết (giá điểm, giá thực hiện) và được xác định vào thời điểm các bên tham gia vào tùy chọn. Hợp đồng quyền chọn cũng quy định cụ thể về ngày đáo hạn. Trong trường hợp của một quyền chọn châu Âu (Europian style), chủ sở hữu có quyền yêu cầu việc bán sẽ diễn ra vào ngày đáo hạn (nhưng không trước ngày đáo hạn). Trong trường hợp của một quyền chọn Hoa Kỳ (Amercian style), chủ sở hữu có thể yêu cầu việc bán sẽ diễn ra bất cứ lúc nào cho đến ngày đáo hạn. Nếu chủ sở hữu của hợp đồng thực hiện quyền này, bên đối tác có nghĩa vụ thực hiện giao dịch.

Hợp đồng quyền chọn bao gồm hai loại: Quyền chọn mua (Call) và quyền chọn bán (Put). Người mua của một quyền chọn mua có quyền mua một số lượng nhất định tài sản cơ sở (số lượng ngoại tệ cần phòng ngừa) ở một mức giá xác định, vào (hoặc trước) một ngày nhất định trong tương lai và không có nghĩa vụ phải thực hiện quyền mua này. Tương tự như vậy, người mua của một quyền chọn bán có quyền bán một số lượng nhất định tài sản cơ sở, với mức giá quy định, vào (hoặc trước) một ngày nhất định trong tương lai và không có nghĩa vụ phải thực hiện quyền bán này.

Hợp đồng quyền chọn có thể được áp dụng kết hợp đồng thời với các loại hợp đồng kỳ hạn, tương lai, hoán đổi để giảm thiểu rủi ro cho bên mua quyền chọn.

(iv) Hợp đồng hoán đổi (Swap contract) là các hợp đồng trao đổi tiền mặt (lưu chuyển tiền) vào (hoặc trước) một ngày xác định trong tương lai, dựa trên giá trị cơ sở của tỉ giá hối đoái, lợi tức trái phiếu/lãi suất, giao dịch hàng hóa, cổ phiếu hoặc các tài sản khác.

Một thuật ngữ khác thường liên quan đến hoán đổi là quyền chọn hoán đổi (Swaption), về cơ bản là một quyền chọn trên cơ sở hoán đổi kỳ hạn. Tương tự như quyền chọn mua và quyền chọn bán, một hoán đổi quyền có hai loại là một quyền chọn hoán đổi người nhận và một quyền chọn hoán đổi người trả. Ở một bên, trong trường hợp của một quyền chọn hoán đổi người nhận thì có một quyền chọn trong đó có thể nhận lãi cố định và trả lãi thả nổi. Ở bên kia, một quyền chọn hoán đổi người trả là một quyền chọn để trả lãi cố định và nhận lãi thả nổi.

Các giao dịch hoán đổi về cơ bản có thể được phân thành hai loại:

- Hoán đổi lãi suất: Những phái sinh này về cơ bản đòi hỏi việc hoán đổi chỉ liên quan đến các lưu chuyển tiền tệ trong cùng một loại tiền tệ, giữa hai bên.

- Hoán đổi tiền tệ: Trong loại hoán đổi này, dòng tiền giữa hai bên bao gồm cả gốc và lãi. Ngoài ra, những đồng tiền được hoán đổi thuộc các đơn vị tiền tệ khác nhau cho cả hai bên.

(v) Phòng vệ giá thị trường tiền tệ (Money market hedge) là phương pháp khóa lại giá trị của một giao dịch bằng đồng ngoại tệ trên đồng nội tệ của các bên tham gia hợp đồng. Vì vậy, phương pháp này giúp cho TCTD trong nước giảm thiểu được rủi ro tỉ giá khi giao dịch với TCTD nước ngoài.

2. Phương thức hạch toán kế toán hiện hành đối với phái sinh tiền tệ tại các TCTD

Ngày 29/8/2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Công văn số 7404/NHNN-KTTC hướng dẫn hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ đối với các TCTD (Công văn 7404). Theo hướng dẫn của NHNN, các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ được chia ra làm ba loại: (i) Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn; (ii) Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ; (iii) Nghiệp vụ quyền chọn.

Trong đó, đối với nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, các TCTD cần phải ghi nhận ngay trạng thái mở về ngoại tệ sau mỗi nghiệp vụ mua/bán ngoại tệ kỳ hạn để phản ánh rủi ro tỉ giá vào báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động. Trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, TCTD cần xác định lại giá trị hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ theo giá trị thị trường để ghi nhận lãi/lỗ phát sinh nhưng chưa thực hiện trên báo cáo tình hình tài chính đối ứng vào tài khoản 633 "chênh lệch đánh giá lại công cụ tài chính phái sinh".

Đối với nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ: TCTD không cần phải thường xuyên đánh giá lại giá trị thị trường của khoản ngoại tệ giao ngay/kỳ hạn theo tỉ giá giao ngay/kỳ hạn do nghiệp vụ này không tạo trạng thái mở về ngoại tệ, nên không có rủi ro tỉ giá. Về việc hạch toán, TCTD không cần hạch toán số tiền hoán đổi lượt đi/về bằng ngoại tệ trong tài khoản nội bảng mà chỉ theo dõi tại tài khoản ngoại bảng kết hợp cùng với việc hạch toán luồng tiền thanh toán với đối tác. Số tiền ban đầu phụ trội hoặc chiết khấu (do chênh lệch tỉ giá giao ngay và tỉ giá kỳ hạn) sẽ được phân bổ đều doanh thu/chi phí trong suốt thời hạn của hợp đồng giao dịch hoán đổi tiền tệ.

Đối với nghiệp vụ quyền chọn: Khi TCTD thực hiện nghiệp vụ mua quyền lựa chọn, TCTD ghi nhận phí đã trả là tài sản do khả năng đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai và phân bổ theo đường thẳng vào chi phí trong khoảng thời gian từ khi bắt đầu hiệu lực hợp đồng đến ngày tất toán hợp đồng. Do hợp đồng quyền chọn chỉ được thực hiện khi TCTD thấy điều kiện thực hiện hợp đồng có lợi cho TCTD nên ngoại trừ phí đã trả, giao dịch mua quyền lựa chọn chỉ có thể phát sinh lãi. Số lãi phát sinh sẽ được xác định lại liên tục (định kỳ ngày, tháng, quý) trên cơ sở: (i) Giá thị trường; (ii) Giá gốc của đối tượng quyền chọn; (iii) Khối lượng giao dịch, thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Lãi phát sinh chưa thực hiện sẽ được ghi nhận trên báo cáo tình hình tài chính. Ngược lại, khi TCTD thực hiện nghiệp vụ bán quyền lựa chọn, TCTD sẽ phát sinh khoản phí đã nhận - ghi nhận là nợ phải trả, phân bổ theo đường thẳng vào thu nhập trong khoảng thời gian bắt đầu hiệu lực hợp đồng đến khi kết thúc hợp đồng; số lỗ phát sinh từ hợp đồng được xử lý tương tự như đối với số lãi của nghiệp vụ mua quyền lựa chọn.

Ngoài ra, đối với nghiệp vụ tương lai về tiền tệ được xử lý và hạch toán tương tự như nghiệp vụ kỳ hạn tiền tệ nhưng sử dụng các tài khoản theo dõi về nghiệp vụ tương lai.

3. Những tồn tại, hạn chế

Mặc dù Công văn 7404 cơ bản đáp ứng được việc hướng dẫn các TCTD hạch toán phái sinh, tuy nhiên qua thực tế thực hiện, Công văn 7404 cũng có một số tồn tại, hạn chế cần phải sửa đổi khi áp dụng thực tế:

Thứ nhất, đối với nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, Công văn 7404 mặc định việc hoán đổi tiền tệ không tạo trạng thái mở về ngoại tệ. Theo báo cáo của một số TCTD, thực tế khi thực hiện nghiệp vụ phái sinh hoán đổi, đối với các giao dịch hoán đổi vốn danh nghĩa một chiều (có thể hoán đổi đầu kỳ, giữa kỳ hoặc cuối kỳ), số vốn danh nghĩa hoán đổi khi thực hiện theo hợp đồng sẽ làm phát sinh trạng thái ngoại tệ của các TCTD. Trường hợp nếu Công văn hướng dẫn hạch toán vẫn quy định không hạch toán nội bảng phần vốn danh nghĩa, các TCTD sẽ căn cứ vào bản chất của nghiệp vụ phái sinh (có thể coi là giao dịch kỳ hạn hoặc tương lai) để hạch toán.

Thứ hai, việc hướng dẫn hoán đổi tiền tệ tại Công văn 7404 mới đang chỉ quy định hoán đổi giữa đồng ngoại tệ và VND, chưa quy định cho các trường hợp hoán đổi tiền tệ giữa cả hai đồng ngoại tệ (ví dụ như hoán đổi đồng Euro với đồng USD). Trên thực tế, các giao dịch này có thể phát sinh ngày càng nhiều khi các doanh nghiệp FDI đầu tư tại Việt Nam thanh toán với các đối tác thứ 3 tại Việt Nam.

Thứ ba, ngoài việc hướng dẫn phái sinh tiền tệ, các TCTD cũng thực hiện các nghiệp vụ phái sinh lãi suất. Hiện nay, Công văn 7404 chưa hướng dẫn nội dung này đối với các TCTD.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Trước hết, cần làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác hạch toán, kế toán trong lĩnh vực ngân hàng. Theo quy định tại Điều 71 Luật Kế toán năm 2015, Bộ Tài chính “chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về kế toán”, trong đó có việc “xây dựng, trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về kế toán”. Các bộ, cơ quan ngang bộ “trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về kế toán trong ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách”. Căn cứ quy định này, Bộ Tài chính là đơn vị chủ trì, có trách nhiệm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới chế độ kế toán toàn ngành Ngân hàng (trong đó có việc hướng dẫn nghiệp vụ phái sinh ngoại hối). NHNN có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính và không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kế toán TCTD.

Do có các vướng mắc của các TCTD hiện hành đối với phái sinh tiền tệ nên việc sửa đổi, thay thế các hướng dẫn hạch toán, kế toán nêu trong bài viết này cần được nghiên cứu, thực hiện. Tác giả cho rằng, đối với các nội dung hướng dẫn tại Công văn 7404 cần được tiếp tục kế thừa. Ngoài ra, trong quá trình hướng dẫn thay thế, cơ quan quản lý nhà nước cần lưu ý thêm một số nội dung như sau:

Một là, cơ quan quản lý nhà nước khi hướng dẫn cần phải làm rõ, tách biệt đối với các hợp đồng có phát sinh rủi ro đối với lãi suất và tiền tệ. Công văn 7404 mới dừng lại ở việc hướng dẫn cho hoán đổi tiền tệ đối với các hợp đồng kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn, chưa có hướng dẫn đối với hoán đổi lãi suất. Trong loại hợp đồng hoán đổi, để phù hợp với thực tế phát sinh, cơ quan quản lý nhà nước có thể ban hành thêm quy định hoán đổi lãi suất, vốn danh nghĩa của hợp đồng để tránh phản ánh chưa đủ số ngoại tệ phát sinh.

Hai là, việc hướng dẫn cần bổ sung, làm rõ các quy định liên quan tới các hợp đồng kỳ hạn lãi suất, cách phản ánh lãi/lỗ do biến động tỉ giá/lãi suất vào báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian hiệu lực của hợp đồng. Định kỳ tháng, quý, năm - thời điểm lập báo cáo tài chính, TCTD cần thường xuyên xác định lại lãi/lỗ ròng theo biến động lãi suất để ghi nhận lãi/lỗ phát sinh nhưng chưa thực hiện trên báo cáo tài chính.

Ba là, đối với việc xác định giá trị thực tế của các hợp đồng phòng ngừa rủi ro, cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên cứu, quy định phương pháp mới để phản ánh giá trị thực tế của các loại hợp đồng mà TCTD đã tham gia. Giá trị thực tế nên là giá trị hiện hành của hợp đồng theo thị trường. Cơ quan quản lý nhà nước có thể nghiên cứu, áp dụng các chuẩn mực quốc tế để việc đánh giá giá trị hiện tại của các loại hợp đồng phòng ngừa rủi ro như IFRS 13 Fair value Measurement, IFRS 9 Financial Instruments.


Lê Anh Dũng
Vụ Tài chính - Kế toán, NHNN

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Bài viết tổng quan hoạt động ngân hàng tại các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), nhấn mạnh bốn khía cạnh: Mô hình tổ chức, khung pháp lý Basel III, tác động kinh tế và đổi mới công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp lý, thu hút đầu tư tài chính nước ngoài, tăng quản lý rủi ro và phát triển hệ sinh thái công nghệ tài chính (Fintech) cho Việt Nam.
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Xem thêm
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng