Gỡ khó cho các hợp tác xã trong tiếp cận vốn tín dụng

Kinh tế - xã hội
Ngày 02/3/2023, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội thảo khoa học “Tín dụng hợp tác xã: Thực trạng và giải pháp” với mục tiêu tạo diễn đàn, cơ hội để các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lí, các tổ chức tín dụng trao đổi, thảo luận, tìm ra các khoảng trống pháp lí nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng vốn và tiếp cận vốn tín dụng cho các hợp tác xã (HTX). Hội thảo do Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chủ trì với sự tham dự của đại diện các vụ, cục chức năng thuộc NHNN, Cục Kinh tế hợp tác - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam...
aa

Ngày 02/3/2023, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội thảo khoa học “Tín dụng hợp tác xã: Thực trạng và giải pháp” với mục tiêu tạo diễn đàn, cơ hội để các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lí, các tổ chức tín dụng trao đổi, thảo luận, tìm ra các khoảng trống pháp lí nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng vốn và tiếp cận vốn tín dụng cho các hợp tác xã (HTX). Hội thảo do Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chủ trì với sự tham dự của đại diện các vụ, cục chức năng thuộc NHNN, Cục Kinh tế hợp tác - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam...

Kinh tế tập thể, HTX ở nước ta phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết: Ở Việt Nam, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX đã hình thành và phát triển gần 70 năm, có đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo số liệu thống kê, hiện có 17,3 triệu hộ ở địa bàn nông thôn, trong đó 9 triệu hộ nông dân có diện tích canh tác bình quân ở mức thấp (Đồng bằng sông Cửu Long là 0,71 ha, Đồng bằng sông Hồng là 0,22 ha, Duyên hải miền Trung là 0,01 ha, bình quân 2,5 thửa ruộng/hộ). Do vốn và tài sản hạn chế, các hộ nông dân, hộ cá thể cần phải liên kết, hợp tác tổ chức sản xuất, kinh doanh theo mô hình kinh tế tập thể, HTX để có hiệu quả bền vững. Theo đó, căn cứ định hướng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, thực tiễn phát triển kinh tế tập thể, HTX ở Việt Nam và trên thế giới, có thể khẳng định: Phát triển kinh tế HTX là tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược và lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chủ trì Hội thảo


Qua 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, HTX có bước phát triển cả số lượng và chất lượng, khắc phục tình trạng yếu kém kéo dài; bộ phận lớn HTX cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra cho thành viên, giảm chi phí sản xuất và ổn định hợp đồng tiêu thụ sản phẩm; kinh tế tập thể, HTX đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, thích ứng biến đổi khí hậu, hướng đến phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn. Tuy vậy, kinh tế tập thể, HTX ở nước ta phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đang có những tồn tại, bất cập, hạn chế cần được quan tâm, giải quyết như: Tỉ lệ lớn hộ cá thể ở địa bàn nông thôn chưa tham gia HTX, tổ hợp tác; một bộ phận lớn HTX có quy mô nhỏ, vốn ít, năng lực quản trị hạn chế, liên kết thành viên còn thấp, chưa có uy tín và thương hiệu trên thị trường, năng lực quản trị của HTX còn yếu; việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các HTX vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất - kinh doanh.

Trước tình hình trên, ngày 16/6/2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn mới với mục tiêu “Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững, cùng với kinh tế Nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân với nhiều mô hình hợp tác, liên kết trên cơ sở tôn trọng bản chất, giá trị và nguyên tắc của kinh tế tập thể, thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia; góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

“Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn hoạt động đã khẳng định để mô hình HTX hoạt động hiệu quả, nguồn vốn, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng được xem là nhân tố quan trọng. Vì vậy, việc tổ chức Hội thảo “Tín dụng hợp tác xã - Thực trạng và giải pháp” có ý nghĩa thực tiễn cao, là cơ hội để các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lí, các tổ chức tín dụng trao đổi, thảo luận, tìm ra các khoảng trống pháp lí nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng vốn và tiếp cận vốn tín dụng cho các HTX” - Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Phó Thống đốc đề nghị các nhà khoa học, các nhà quản lí, các chuyên gia tham gia Hội thảo tập trung thảo luận, giải quyết ba nhóm vấn đề chính, bao gồm: Thứ nhất, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện hơn những vấn đề lí luận chung về các cơ chế, chính sách tín dụng hiện hành cho loại hình kinh tế HTX; nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trong việc thúc đẩy hoạt động cấp tín dụng đối với HTX; thứ hai, đi sâu phân tích kinh nghiệm thực tiễn của một số tổ chức tín dụng trong cung ứng vốn tín dụng cho các HTX tại Việt Nam; thứ ba, phân tích, đánh giá các cơ chế, chính sách hỗ trợ và thực trạng hoạt động cấp tín dụng đối với HTX; chỉ ra các rào cản và tồn tại, hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng cho loại hình kinh tế này.

Trao đổi tại Hội thảo, ông Phạm Công Bằng, Tổng Giám đốc Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam cho biết: Nhìn chung vốn điều lệ của các HTX còn quá nhỏ, nhiều HTX chỉ có số vốn dưới 500 triệu đồng, việc huy động vốn nội bộ của HTX gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn của thành viên HTX là rất có hạn. Cùng với đó, các HTX cũng rất khó tiếp cận với nguồn vốn từ bên ngoài. Do các HTX thiếu thông tin về tài chính, tín dụng, không hiểu rõ quy trình, thủ tục, khả năng xây dựng dự án và tài sản thế chấp yếu. Ngoài ra, các HTX chưa tạo được uy tín cao đối với các tổ chức tín dụng, nên việc vay vốn thường gặp nhiều trở ngại. Từ những khó khăn đó cho thấy, các HTX rất cần được hỗ trợ về tài chính, tín dụng để đảm bảo vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh.

“Theo số liệu điều tra, khảo sát của Liên minh HTX Việt Nam trong những năm tới, nhu cầu về vốn phát triển sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế tập thể, HTX hiện nay lên tới hàng trăm ngàn tỉ đồng mỗi năm và có xu hướng tăng trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển, tăng sức cạnh tranh trong thời kì hội nhập. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2% số HTX trong cả nước tiếp cận được vốn các tổ chức tín dụng”, ông Phạm Công Bằng cho biết.


Toàn cảnh Hội thảo

Vì vậy, ông Phạm Công Bằng đề nghị: Thứ nhất, các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách ưu đãi của Chính phủ và NHNN nhằm hỗ trợ tín dụng cho hoạt động HTX như chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013, chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015, chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay ngắn hạn với 05 lĩnh vực ưu tiên theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Thứ hai, các tổ chức tín dụng vận dụng tối đa những quy định về ưu đãi tín dụng đối với HTX, tạo điều kiện để các HTX được vay vốn không phải thế chấp bằng tài sản hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Thứ ba, đơn giản hóa thủ tục và điều kiện cho vay đối với HTX; nghiên cứu và áp dụng giải pháp cho HTX vay vốn theo phương thức tín chấp danh nghĩa.

Về phía đại diện Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho biết, thực tế hoạt động của các HTX thời gian qua cho thấy, các tổ chức kinh tế tập thể này gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng. Theo số liệu trên báo cáo tài chính năm 2020 của các ngân hàng, có đến hơn 2/3 các ngân hàng có dư nợ cho vay HTX chiếm tỉ lệ dưới 0,1%, chỉ có 04 ngân hàng (Agribank, Sacombank, VietinBank và Eximbank) có tỉ lệ dư nợ cho vay HTX đạt trên 0,1%.

Có nhiều nguyên nhân giải thích cho sự hạn chế về quy mô cho vay của hệ thống ngân hàng đối với các HTX, nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau: Một là, năng lực tài chính, phương tiện sản xuất, cơ sở vật chất của HTX còn yếu, trong khi để triển khai một dự án mới khi vay vốn đòi hỏi HTX phải có nguồn vốn tự có đối ứng từ 20 - 30% vốn đầu tư nên nhiều HTX không đáp ứng được. Hai là, trình độ chuyên môn và năng lực quản lí, điều hành của Hội đồng quản trị, cán bộ quản lí HTX còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được so với cơ chế quản lí mới, chủ yếu hoạt động theo kinh nghiệm, mới được tập huấn ngắn hạn, không được đào tạo cơ bản và ít được cập nhật những kiến thức mới. Đội ngũ cán bộ quản lí trong HTX chưa có chuyên môn, khi xây dựng phương án vay vốn chưa khả thi, chưa khai thác hết thông tin thị trường để đánh giá hiệu quả dự án, nên khi các ngân hàng tiến hành thẩm định chi tiết khó thuyết phục để các ngân hàng chấp nhận phương án vay vốn để đầu tư. Ba là, liên kết trong sản xuất của các HTX còn hạn chế, chủ yếu quy mô nhỏ, chưa hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, từ đầu vào - sản xuất - tiêu thụ sản phẩm nên còn nhiều rủi ro về thị trường, giá cả dẫn đến phương án sản xuất, kinh doanh khi vay vốn còn kém khả thi, hiệu quả. Bốn là, các HTX thường không có tài sản bảo đảm khi vay vốn, một số ít được thành viên dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay; tuy nhiên, giá trị không nhiều. Ngoài ra, các thành viên góp vốn vào HTX bằng tài sản, nhưng vẫn mang tên cá nhân của người chủ sở hữu chưa chuyển tên cho HTX, gây khó khăn cho HTX trong việc sử dụng tài sản để thế chấp vay vốn. Năm là, hiện nay Đảng và Nhà nước có chủ trương hỗ trợ đối với các HTX nhưng các TCTD cho vay tự chịu trách nhiệm khi rủi ro xảy ra, trong khi nhu cầu vay từ các HTX chủ yếu với hình thức không đảm bảo tài sản nên một số các ngân hàng vẫn còn e dè khi cho vay vốn đối với HTX, chủ yếu cho vay trực tiếp các thành viên của HTX. Thêm vào đó đối tượng vay là HTX chứa đựng rất nhiều rủi ro làm cho các TCTD e ngại trong việc cấp tín dụng.

Định hướng chính sách của NHNN về mở rộng tín dụng hợp tác

Phát triển kinh tế tập thể, trong đó nòng cốt là HTX là một chủ trương lớn được Đảng và Nhà nước quan tâm, hỗ trợ. Thời gian qua, bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế tập thể, NHNN đã xác định khu vực kinh tế tập thể nói chung và HTX nói riêng là một trong những đối tượng ngành Ngân hàng ưu tiên đầu tư tín dụng, chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp khuyến khích, hỗ trợ.

Thời gian tới, bám sát chủ trương tại Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về việc “tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đối với các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả“, Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 02/02/2023 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện một số nhiệm vụ:

Một là, cân đối vốn, tập trung tín dụng cho các tổ chức kinh tế hợp tác, HTX hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, các mô hình HTX kiểu mới làm ăn có hiệu quả, HTX tham gia phát triển các sản phẩm có thế mạnh, sản xuất theo chuỗi giá trị ứng dụng công nghệ cao, có giá trị thương mại cao, HTX đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phù hợp với quy định của pháp luật.

Hai là, thường xuyên nghiên cứu phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng ngân hàng; rà soát, cải tiến, đổi mới quy trình, thủ tục, điều kiện cấp tín dụng phù hợp với yêu cầu và thực tiễn hoạt động của HTX để từng bước mở rộng và tăng cường hỗ trợ vốn cũng như khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cho các loại hình kinh tế tập thể.

Ba là, tiếp tục rà soát, nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng, trong đó chú trọng hoàn thiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng của HTX.

Giải pháp cho tín dụng HTX

Sau thời gian trao đổi, thảo luận, Hội thảo đã nhất trí, trong thời gian tới, để tăng cường khả năng cung ứng và tiếp cận vốn tín dụng đối với các HTX, cần tích cực triển khai các nhóm giải pháp và đề xuất, kiến nghị như sau:

Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lí liên quan đến sửa đổi các quy định còn bất cập tại Luật HTX năm 2012, Luật Đất đai năm 2013 và các quy định, quy chế về cho vay HTX.

Hai là, NHNN và các tổ chức tín dụng cần có các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế trong cung ứng vốn tín dụng cho HTX. Cụ thể, đối với NHNN: Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách tín dụng phù hợp với yêu cầu và thực tiễn hoạt động của HTX; tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn về tín dụng cho người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh để phục hồi sản xuất, kinh doanh, trong đó có khu vực kinh tế hợp tác, HTX; đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - HTX theo từng vùng, miền, chi nhánh; tổ chức triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về tín dụng HTX cho đối tượng là chủ tịch, giám đốc HTX và cán bộ trực tiếp làm công tác về tín dụng HTX; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; khuyến khích các tổ chức tín dụng tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động để mở rộng nguồn vốn cho vay đối với khu vực kinh tế tập thể; xây dựng và triển khai các chương trình tín dụng đặc thù đối với HTX hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị. Đối với các TCTD: Cần cải tiến quy trình, quy chế, quy định cho vay; đa dạng hóa nguồn vốn và sản phẩm, dịch vụ phù hợp với đặc thù của khu vực kinh tế tập thể, HTX...

Ba là, các giải pháp khắc phục hạn chế từ chính bản thân các HTX, như: Nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý/quản trị toàn diện trên các mặt hoạt động, tài chính, xây dựng phương án kinh doanh; nâng cao tính gắn kết và trách nhiệm giữa các thành viên; nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng công nghệ.

Bốn là, các đề xuất với Chính phủ, địa phương và các bộ, ngành có liên quan. Cụ thể:

Đối với Chính phủ: Cho phép bổ sung Ngân hàng Hợp tác xã và QTDND là đối tượng được hỗ trợ từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX nhằm tăng cường năng lực tài chính, góp phần thực hiện tốt vai trò hỗ trợ đối với khu vực kinh tế tập thể; ưu tiên hỗ trợ HTX đầu tư công nghệ cao vào các tài sản chung của HTX nhằm gia tăng giá trị nông sản tại HTX; xem xét cơ chế hoàn thuế VAT cho các HTX nông nghiệp từ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước hoặc các tổ chức dành cho các HTX; nghiên cứu hỗ trợ mua bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp cho nông dân, cấp bù lỗ và bảo hiểm lãi suất cho vay đối với tín dụng nông nghiệp cho nông sản ứng dụng công nghệ thông minh; xem xét cấp vốn điều lệ cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX từ vốn đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025, ưu tiên, bố trí ngân sách riêng từ nguồn ngân sách Trung ương và địa phương, lồng ghép với nguồn vốn từ các chương trình, dự án để hỗ trợ các HTX; thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh tế tập thể.

Đối với UBND các tỉnh, thành phố: Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất, rút ngắn các thủ tục giao dịch bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX tiếp cận vốn; đẩy mạnh việc tuyên truyền, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ đất đai, xúc tiến thương mại, ứng dụng chuyển giao khoa học - công nghệ, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX.

Đối với các bộ, ngành:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản trị, điều hành, ứng dụng công nghệ cho cán bộ các HTX nông nghiệp và nông dân; tập trung nguồn lực hỗ trợ các mô hình HTX kiểu mẫu để nhân rộng làm điểm tham quan học tập kinh nghiệm cho các HTX khác trong vùng; làm tốt dự báo về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp; phối hợp với Bộ Công Thương đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông sản, tìm kiếm thị trường mới, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tiếp tục triển khai xây dựng Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi), hoàn thiện cơ chế, chính sách để hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tập thể; ưu tiên, bố trí và lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể; tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình mỗi xã một sản phẩm; Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021 - 2025.

Liên minh HTX Việt Nam: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên, người lao động, đội ngũ tư vấn về nghiệp vụ; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý điều hành, công nghệ cho bộ máy quản lý, điều hành HTX, người lao động trong khu vực kinh tế tập thể, HTX; xây dựng các chương trình liên kết các mô hình kinh tế hợp tác theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, theo vùng miền; hỗ trợ quảng bá sản phẩm, thương hiệu; triển khai một số nền tảng ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho khu vực kinh tế hợp tác, HTX.

Lan Hương

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sáng 08/4/2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành