Giao dịch bảo đảm bằng một số loại quyền tài sản đặc biệt: từ quy định pháp luật đến thực tiễn xác lập hợp đồng

Kinh tế - xã hội
Cho dù chưa được sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng có bảo đảm, song các tài sản vô hình mà pháp luật Việt Nam gọi là quyền tài sản rất có tiềm năng trở thành biện pháp bảo đảm ch...
aa

Cho dù chưa được sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng có bảo đảm, song các tài sản vô hình mà pháp luật Việt Nam gọi là quyền tài sản rất có tiềm năng trở thành biện pháp bảo đảm chính trong cấp tín dụng có bảo đảm cho doanh nghiệp ở Việt Nam trong tương lai gần. Điều đáng nói là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh về các biện pháp bảo đảm bằng quyền tài sản vẫn còn khá nhiều hạn chế hay khoảng trống1 mà bài viết sẽ tập trung phân tích thông qua một số giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản cụ thể.

Thế chấp quyền đòi nợ

Cho dù luôn được coi là loại quyền tài sản điển hình nhất, song quyền đòi nợ cũng không xuất hiện trong khái niệm quyền tài sản nêu trên của Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) mà chỉ được nêu trong quy định về mua bán quyền tài sản (Điều 450 BLDS). Văn bản pháp luật này không có một quy định nào áp dụng riêng cho việc thế chấp quyền đòi nợ. Chính điều này làm cho việc thế chấp loại tài sản này trở nên mong manh hơn. Cũng cần nói thêm, đây là một biện pháp bảo đảm rất phổ biến và chiếm ưu thế trong danh mục tài sản bảo đảm tại các nước phát triển.

Liên quan đến chế định pháp lý này, văn bản hướng dẫn phần quy định về các biện pháp bảo đảm trong BLDS:

- Nên quy định việc thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ không phải là nghĩa vụ bắt buộc, theo đó bên thế chấp và bên nhận thế chấp có thể thỏa thuận về việc thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ về việc thế chấp quyền đòi nợ trừ trường hợp bên có nghĩa vụ trả nợ là một bên của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ; trường hợp được thông báo thì bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán quyền đòi nợ cho bên nhận thế chấp khi quyền đòi nợ đến hạn; trường hợp không được thông báo thì bên có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm thanh toán quyền đòi nợ cho bên thế chấp và số tiền được thanh toán trở thành tài sản thế chấp.

- Nên nêu rõ nguyên tắc theo đó bên thế chấp quyền đòi nợ không được xác lập các giao dịch làm giảm hay làm mất giá trị quyền đòi nợ, trừ trường hợp được bên nhận thế chấp đồng ý.

- Nên quy định chi tiết về việc xử lý thế chấp quyền đòi nợ trong cả trường hợp quyền đòi nợ đến hạn trước nghĩa vụ được bảo đảm, lẫn trường hợp quyền đòi nợ đến hạn sau nghĩa vụ được bảo đảm. Theo đó, trường hợp quyền đòi nợ đến hạn trước nghĩa vụ được bảo đảm thì bên có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm chuyển khoản tiền trả nợ vào một tài khoản phong tỏa của bên nhận thế chấp mở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam. Số tiền này cùng với tiền lãi (nếu có) trở thành tài sản thế chấp và sẽ chỉ được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm khi đến hạn mà không được thanh toán theo thỏa thuận. Trường hợp quyền đòi nợ đến hạn sau thời điểm đến hạn của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận thế chấp được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ thanh toán khoản nợ đó cho mình tại thời điểm quyền đòi nợ đến hạn. Bên nhận thế chấp không được yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ thanh toán khi quyền đòi nợ chưa đến hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [2].

Thế chấp quyền sở hữu trí tuệ

Điều 115 của BLDS quy định “quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” là quyền tài sản. Cách sử dụng thuật ngữ của bộ luật này còn khá chung và chưa thực sự chính xác. Về bản chất, thế chấp được xác lập trên chính các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 được bổ sung, sửa đổi năm 2009 không đề cập tới việc thế chấp các quyền sở hữu trí tuệ này. Thực vậy, Luật sở hữu trí tuệ chỉ quy định việc chuyển nhượng quyền tác giả (Điều 45 và Điều 46), việc định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp (điểm c, khoản 1 Điều 123 và từ Điều 138 tới Điều 150) và việc chuyển giao quyền đối với giống cây trồng (từ Điều 192 tới Điều 197). Cũng không có quy định riêng biệt về việc xác lập và hệ quả pháp lý của giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật này. Cần lưu ý một số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không chỉ được thế chấp mà còn có thể được đưa vào trong nhiều giao dịch khác như chuyển nhượng hay chuyển quyền sử dụng mà theo quy định của pháp luật thì các hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp phải được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng hay giá trị pháp lý đối với các bên thứ ba (Điều 148 Luật sở hữu trí tuệ). Tuy nhiên, theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 6 của Thông tư số 08/2018/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 20 tháng 6 năm 2018 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (Thông tư 08), việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng được thực hiện tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp. Điều này là bất hợp lý và để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên liên quan, thiết nghĩ nên thống nhất việc đăng ký tại một đơn vị đầu mối duy nhất là cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp. Cũng cần bổ sung các quy định riêng về phương thức xử lý các tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ ở trong BLDS hay trong pháp luật về sở hữu trí tuệ [3].

Thế chấp quyền phát sinh từ hợp đồng

Khoản 7 Điều 6 của Thông tư 08 đưa ra danh sách quyền phát sinh từ hợp đồng được dùng làm tài sản bảo đảm. Điểm b và điểm c của khoản này quy định quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng gồm (i) quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng thuê đóng tàu biển; quyền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng mua bán tàu bay, tàu biển; quyền thụ hưởng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đối với tàu bay, tàu biển và (ii) các quyền tài sản là quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng nhà ở, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh nhà ở, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua nhà ở (bao gồm cả nhà ở xã hội) giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; các quyền tài sản là quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua công trình xây dựng giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản. Dễ thấy, các quyền phát sinh từ hợp đồng được liệt kê chỉ là các quyền phát sinh từ hợp đồng về bất động sản và quyền phát sinh từ hợp đồng tàu bay, tàu biển. Trong thực tế, chủ nợ có bảo đảm sẵn sàng nhận rất nhiều quyền phát sinh từ các loại hợp đồng khác, như quyền phát sinh từ các hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng quản lý, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hay hợp đồng cung ứng hàng hóa, dịch vụ... Thêm vào đó, thông tư này dường như chưa có sự phân định rạch ròi giữa quyền đòi nợ và các quyền khác phát sinh từ hợp đồng. Hơn nữa, ngay cả đối với hợp đồng về bất động sản, danh sách nêu trên của Thông tư 08 cũng bỏ sót quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai - một chế định pháp lý được pháp luật chung về giao dịch bảo đảm và pháp luật về nhà ở đã công nhận rộng rãi.

Thế chấp phần vốn góp, cổ phần

Điều 182.1(e), Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 (“Luật doanh nghiệp”) quy định thành viên góp vốn công ty hợp danh có thể “định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách […] thế chấp, cầm cố”. Trong quy định này, nhà lập pháp tỏ ra khá do dự trong việc sử dụng thuật ngữ nên đã chọn giải pháp an toàn là sử dụng cả thuật ngữ cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp không đề cập đến một cách rõ ràng khả năng thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hay trong công ty cổ phần. Thực vậy, theo quy định tại khoản 6 Điều 50 của văn bản này, thành viên công ty TNHH có quyền “định đoạt phần vốn góp của mình bằng [….] cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty”. Hơn nữa, Điều 114, Luật doanh nghiệp liệt kê một loạt quyền của cổ đông phổ thông, trong đó không đề cập đến quyền sử dụng cổ phần làm tài sản bảo đảm. Điều đáng nói là điều luật này có quy định mở là cổ đông phổ thông có “các quyền khác” nhưng lại giới hạn là việc thực hiện các quyền này phải “theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty”. Do đó, nếu theo đúng câu chữ của quy định này thì cổ đông công ty cổ phần chỉ được sử dụng cổ phần để bảo đảm khoản vay nếu điều này được cho phép một cách rõ ràng trong điều lệ của công ty!

Khoản 5, Điều 6, Thông tư số 08 quy định có thể đăng ký tài sản bảo đảm là “phần vốn góp trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp”. Tuy nhiên văn bản này lại coi cổ phiếu là tài sản bảo đảm (khoản 6, Điều 6).

Theo quy định tại khoản 1, Điều 120, Luật doanh nghiệp, “cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”. Cổ phiếu không tự thân chứa các quyền hành động đối với công ty bởi vì các quyền phát sinh từ phần vốn góp như quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức và quyền được hưởng khối tài sản còn lại của công ty khi tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của công ty cũng như mọi quyền phát sinh từ hợp đồng khác đối với công ty phụ thuộc vào việc đăng ký vào sổ đăng ký cổ đông của công ty [4].

Xét về bản chất, cổ phần mới là đối tượng thực của giao dịch bảo đảm, chứ không phải cổ phiếu. Có thể so sánh cổ phiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: trong trường hợp này, thế chấp có đối tượng là quyền sử dụng đất, nhà hay tài sản gắn liền với đất chứ không phải là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Cổ phần trong công ty cổ phần hay phần vốn góp trong công ty TNHH là quyền tài sản (tài sản vô hình) và do đó, không thể giao được về mặt vật chất cho chủ nợ có bảo đảm. Hơn nữa, chúng thể hiện quyền chủ nợ của người nắm giữ (chủ sở hữu) cổ phần hay phần vốn góp đối với công ty. Do đó, thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với phần vốn góp và cổ phần bởi vì thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp (Điều 317, Bộ luật dân sự).

Khó khăn đáng kể nhất hiện nay khi nhận thế chấp phần vốn góp hay cổ phần chính là thủ tục chuyển quyền sở hữu phần vốn góp hay cổ phần được thế chấp khi xử lý thế chấp. Về nguyên tắc, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp hay cổ phần hay người nhận phần vốn góp hay cổ phần để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm chỉ trở thành thành viên hay cổ đông của công ty sau khi (i) thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên hay sổ đăng ký cổ đông của công ty có phần vốn góp hay cổ phần được thế chấp, và (ii) công ty đã thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên công ty TNHH hay thủ tục thông báo thay đổi thông tin của cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Điều đáng tiếc là pháp luật doanh nghiệp hiện hành không có quy định nào về thủ tục đăng ký thay đổi thành viên công ty TNHH hay thủ tục thông báo thay đổi thông tin của cổ đông sáng lập công ty cổ phần khi xử lý thế chấp [5].

Thế chấp quyền nhận khoản tiền bảo hiểm

Quyền được nhận số tiền bảo hiểm trong khuôn khổ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng là quyền tài sản có thỏa mãn các tiêu chí của quyền tài sản nêu ở trên để có thể trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm.

Điều 18 của Luật số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về kinh doanh bảo hiểm được bổ sung, sửa đổi năm 2010 (Luật kinh doanh bảo hiểm) khi quy định về quyền của bên mua bảo hiểm cho phép bên mua bảo hiểm được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhưng không đề cập tới việc bên mua bảo hiểm có được sử dụng hợp đồng bảo hiểm làm tài sản bảo đảm hay không. Điều 18 này cũng quy định theo hướng mở là bên mua bảo hiểm được thực hiện “các quyền khác theo quy định của pháp luật”. Tuy vậy, cách quy định mở đó cũng không đảm bảo cho việc xác lập giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhất là khi các văn bản hướng dẫn áp dụng Luật kinh doanh bảo hiểm không đề cập tới giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm. Về bản chất, thế chấp hợp đồng bảo hiểm hay cụ thể hơn thế chấp quyền nhận khoản tiền bảo hiểm là một dạng đặc biệt của thế chấp quyền đòi nợ vì quyền nhận số tiền bảo hiểm chính là một loại quyền đòi nợ [6]. BLDS nên công nhận quyền được nhận số tiền bảo hiểm trong khuôn khổ hợp đồng bảo hiểm con người có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm, quy định rõ phương thức xác lập hợp đồng bảo đảm (ký bản bổ sung, sửa đổi hợp đồng bảo hiểm giữa bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và tổ chức bảo hiểm hoặc lập hợp đồng bảo đảm riêng), đồng thời dẫn chiếu việc áp dụng quy định về thế chấp quyền đòi nợ cho thế chấp quyền nhận số tiền bảo hiểm.

Sử dụng số dư tài khoản để bảo đảm khoản vay

Trong thực tế cấp tín dụng, việc ngân hàng nhận bảo đảm bằng thẻ tiết kiệm của cá nhân, hay số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ngày càng phổ biến, nhất là khi đây là biện pháp bảo đảm dễ xác lập và xử lý.

Theo quy định cũ của pháp luật về giao dịch bảo đảm được áp dụng trước khi BLDS có hiệu lực (ngày 1 tháng 1 năm 2017) và của Ngân hàng Nhà nước [7], cầm cố là biện pháp bảo đảm áp dụng cho thẻ tiết kiệm.

Điều 13 của Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm ngày 31 tháng 12 năm 2018 (“Thông tư 48”) quy định: “tiền gửi tiết kiệm được sử dụng để làm tài sản bảo đảm theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Điều 20 của văn bản này đặt ra nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ về giao dịch tiền gửi tiết kiệm, trong đó phải có quy định về việc sử dụng tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước không quy định biện pháp bảo đảm nào sẽ được áp dụng đối với tiền gửi tiết kiệm mà dẫn chiếu về việc áp dụng quy định chung về giao dịch bảo đảm.

Nếu áp dụng biện pháp cầm cố thì sẽ không phù hợp với bản chất pháp lý của quyền tài sản là không thể chuyển giao về mặt vật chất. Hơn nữa, theo quy định của BLDS về cầm cố thì sẽ có rủi ro lớn cho tổ chức tín dụng nhận cầm cố thẻ tiết kiệm do một tổ chức tín dụng khác (là bên nhận tiền gửi) phát hành. Thực vậy, do về nguyên tắc, cầm cố tài sản chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố (khoản 2 Điều 310 BLDS), chứ không phải kể từ thời điểm đăng ký, nên biện pháp cầm cố của tổ chức tín dụng nhận cầm cố trong trường hợp này không có hiệu lực đối kháng với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi bởi chỉ có tổ chức tín dụng nhận tiền gửi mới được cho là có thể là bên nắm giữ số dư tài khoản tiền gửi tiết kiệm là đối tượng của cầm cố [8]. Nói cách khác, nếu tổ chức tín dụng nhận tiền gửi sau đó nhận cầm cố chính thẻ tiết kiệm này thì dường như sẽ có quyền ưu tiên thanh toán cao hơn so với tổ chức tín dụng nhận cầm cố ban đầu cho dù xác lập cầm cố sau. Hơn nữa, tổ chức tín dụng nhận tiền gửi hoàn toàn có thể thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật, gây bất lợi cho tổ chức tín dụng nhận cầm cố ban đầu.

Điều 11 Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 về tiền gửi có kỳ hạn quy định “tiền gửi có kỳ hạn được sử dụng để làm tài sản bảo đảm theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Cách tiếp cận của thông tư này về cơ bản giống với cách tiếp cận của Thông tư 48 được phân tích ở trên. Cần lưu ý, do thông tư này áp dụng cho cả cá nhân và tổ chức là người cư trú (bao gồm cả các doanh nghiệp), cho nên quy định này được hiểu là áp dụng cho cả giao dịch bảo đảm bằng tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân và doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, văn bản hướng dẫn phần quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS nên công nhận thế chấp là biện pháp bảo đảm áp dụng đối với tiền gửi (bao gồm cả tiền gửi tiết kiệm lẫn tiền gửi có kỳ hạn) hay số dư tài khoản thanh toán của cá nhân và doanh nghiệp bởi vì khi đó, thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ được xác lập theo thứ tự đăng ký thế chấp (Điều 308 BLDS). Số (dư tài khoản) tiền gửi hay số dư tài khoản thanh toán (hay còn gọi là tài khoản thương mại, tài khoản giao dịch hay tài khoản vãng lai) thể hiện quyền đòi nợ của người gửi tiền hay chủ tài khoản đối với ngân hàng.

Thêm vào đó, do số dư tài khoản là quyền tài sản nên không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận bảo đảm cho nên thế chấp số dư tài khoản mới là giao dịch bảo đảm phù hợp.

Tài sản vô hình là một loại tài sản mới và việc huy động giá trị của chúng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ thực sự khả thi khi có một hệ thống quy định pháp luật phù hợp và hiệu quả. Thiết nghĩ, nhà làm luật nên xây dựng những nguyên tắc cơ bản cho biện pháp thế chấp tài sản vô hình và có những quy định riêng cho từng loại tài sản vô hình hoặc ít ra có những dẫn chiếu cần thiết cho việc áp dụng các quy định liên quan. Các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng nên được sửa đổi theo hướng ghi nhận việc thế chấp tài sản vô hình của BLDS và quy định chi tiết các khía cạnh mà BLDS chưa điều chỉnh.
_____

1 Về khuôn khổ pháp lý chung điều chỉnh các giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản, xem thêm Bùi Đức Giang và Nguyễn Hoàng Long, “Giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản theo Bộ luật dân sự 2015”, Tạp chí Ngân hàng, số 11, tháng 6/2019.

2 Về thế chấp quyền đòi nợ, xem thêm Bùi Đức Giang, “Quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận thế chấp quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng, số17, tháng 9 năm 2012, 58-61; “Giao dịch có đối tượng là quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng, số19 tháng 10 năm 2013, 35-39 và 65; “Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (304), 2013, 33-40; “Tính đối kháng của các phương tiện phòng vệ của bên có nghĩa vụ trả nợ trong giao dịch thế chấp quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng, số 15, tháng 8/2013, viết chung với Vũ Thị Hồng Yến; “Xử lý thế chấp quyền đòi nợ : từ quy định pháp luật đến thực tiễn”, Tạp chí Ngân hàng, số 20 tháng 10 năm 2014, 20-23.

3 Về giao dịch bảo đảm với quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Anh, xem thêm Parsons (T-N.), Lingard's Bank Security Documents, 5th edn, 2011, paras. 19.12 to 19.19.

4 Louise Gullifer (ed), “Goode on Legal Problems of Credit and Security”, Sweet & Maxwell, 5th edn, 2013, para.1-47.

5 Về biện pháp bảo đảm này, xem thêm Bùi Đức Giang, “Nhận tài sản bảo đảm là phần vốn góp, cổ phần: từ quy định pháp luật đến thực tiễn”, Tạp chí Ngân hàng số 1, tháng 1/2019, trang 24 – 27.

6 Về các giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật Anh, Pháp và Việt Nam, xem thêm, Bui Duc Giang, Sûretés conventionnelles sur créances en droit français, anglais et vietnamien, luận án tiến sĩ Đại học Paris 2, tháng 6/2014.

7 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được bổ sung, sửa đổi năm 2006, 2011 và 2017.

8 Cần lưu ý việc có thể “nắm giữ” hay không một khoản tiền được ghi nhận dưới dạng điện tử cũng là một vấn đề còn gây tranh cãi.

TS. Bùi Đức Giang

(TCNH số 13/2019)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng