Cơ hội, thách thức đối với tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam và định hướng hoàn thiện

Nghiên cứu - Trao đổi
Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường đang diễn biến hết sức phức tạp và khó kiểm soát. Nhận thức được điều đó, Nhà nước đã có những chính sách, kế hoạch phát triển đất nước với mục tiêu bảo vệ sức khỏe Nhân dân, đặt vấn đề bảo vệ môi trường song song với phục hồi nền kinh tế.
aa

Tóm tắt: Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường đang diễn biến hết sức phức tạp và khó kiểm soát. Nhận thức được điều đó, Nhà nước đã có những chính sách, kế hoạch phát triển đất nước với mục tiêu bảo vệ sức khỏe Nhân dân, đặt vấn đề bảo vệ môi trường song song với phục hồi nền kinh tế. Đặc biệt trong bối cảnh hậu Covid-19, vấn đề phục hồi kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, gắn liền với xu hướng tăng trưởng xanh, phục hồi xanh là vấn đề rất được chú trọng. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung vào đánh giá, làm rõ một số cơ hội và thách thức đối với tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số định hướng hoàn thiện.

Từ khóa: Cơ hội, hậu Covid-19, tăng trưởng xanh, thách thức.

OPPORTUNITIES, CHALLENGES FOR GREEN GROWTH IN THE POST-COVID-19 CONTEXT IN VIETNAM AND ORIENTATIONS FOR IMPROVEMENT

Abstract: In our country, in recent years, an environmental pollution is very complicated and difficult to control. Recognizing that, Vietnamese Government has policies and plans to develop the country with the goal of protecting people’s health, putting environmental protection in parallel with economic recovery. Especially in the post-Covid-19 context, the issue of economic recovery goes hand in hand with environmental protection, associate with the trend of green growth, green recovery is a very important issue. From there, the article focuses on evaluating and clarifying some opportunities and challenges for green growth in the post-Covid-19 context in Vietnam, thereby giving some orientations for improving.

Keywords: Opportunities, post-Covid-19, green growth, challenges.

1. Đặt vấn đề

Đại dịch Covid-19 đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực nặng nề cho nền kinh tế, điều này đã làm thay đổi và định hình lại xu hướng phát triển mới trong bối cảnh hậu Covid-19. Bước sang năm 2022, với mục tiêu bình thường hóa, giảm thiểu tác động của dịch Covid-19, nhiều quốc gia đã gỡ bỏ những chính sách hạn chế về phòng, chống dịch, đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường1; một số quốc gia còn lại cẩn trọng hơn khi vẫn áp dụng một số các quy định hạn chế. Tuy nhiên, nhìn chung xu hướng hiện nay trên thế giới đang xem Covid-19 trở thành một loại bệnh đặc hữu, từ đó bình thường hóa trở lại các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều tổ chức uy tín trên thế giới nhận định kinh tế thế giới năm 2022 có nhiều điểm sáng, khi đã dự báo mục tiêu tăng trưởng toàn cầu đạt 4,4% trong năm nay2. Tuy nhiên, khi vấn đề về dịch Covid-19 đang có xu hướng hạ nhiệt thì tình trạng căng thẳng leo thang giữa Nga và Ukraine lại một lần nữa đưa tình hình thế giới vào những thách thức mới. Đặc biệt, thông qua sự đứt gãy nguồn cung khí đốt và dầu mỏ từ Nga cùng những lệnh cấm vận của Mỹ và phương Tây đã tác động không nhỏ đến bối cảnh kinh tế của thế giới và Việt Nam hiện tại3.


Tại Việt Nam, sau 02 năm chống dịch, tuy tình hình dịch bệnh hiện nay tại Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức khi số ca nhiễm được ghi nhận hàng ngày lên đến hàng trăm nghìn ca nhiễm4 nhưng với định hướng đúng đắn bằng chiến lược bao phủ vắc-xin, các gói cứu trợ kịp thời của Chính phủ cùng với các chính sách tài khóa và tái cấp vốn được đưa ra, Việt Nam đã từng bước đưa các hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới, trường học, doanh nghiệp, các nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh được hoạt động trở lại, qua đó, đời sống người dân từng bước ổn định. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế mở và hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế khi đứng trước những biến động của tình hình thế giới và trong nước. Có thể thấy rằng, với bối cảnh xã hội, chính trị thế giới đứng trước nhiều thách thức, điều đó đã đặt ra vấn đề về sự thích ứng của các chủ thể trong tình hình mới, trong đó có vấn đề về tăng trưởng xanh trong bối cảnh hiện tại.

2. Cơ hội, thách thức đối với tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam

Tăng trưởng xanh đã được đề cập và quan tâm trong những năm gần đây, tuy nhiên khái niệm này còn khá mới mẻ đối với nhiều chủ thể trong xã hội. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tăng trưởng xanh, nhưng nhìn chung thì các khái niệm này đều dựa trên một số tiêu chí cơ bản và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững5. Tại Việt Nam tăng trưởng xanh được xác định là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững6.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang đứng trước nhiều ngưỡng cửa mới cho sự phát triển, đặc biệt là vấn đề tăng trưởng xanh. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP 26), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đưa ra cam kết mạnh mẽ trong việc đưa ra mức phát ròng bằng “0” vào năm 20507. Qua đó cho thấy, vấn đề về tăng trưởng xanh không chỉ là một vấn đề mang tính xã hội đòi hỏi đối với nền kinh tế Việt Nam, mà vấn đề này đã được nhiều tổ chức trên thế giới ghi nhận, cụ thể hóa. Tuy nhiên, việc thực hiện cam kết trên tại Việt Nam không đơn giản, điều này tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong quá trình thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh hậu Covid-19 hiện nay.

Thứ nhất, về cơ hội. Không thể phủ nhận, với tình hình bối cảnh hiện nay của nước ta, quá trình phát triển tăng trưởng xanh là một nhu cầu cấp thiết nhằm từng bước tạo nên sự phát triển bền vững. Khi trên thực tế, tình trạng ô nhiễm và các vấn đề về biến đổi khí hậu đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam. Tuy nhiên, với những lợi thế sẵn có, bối cảnh hiện nay không chỉ mang lại thách thức mà chúng ta có thể tận dụng các lợi thế được tạo ra từ đó. Sau đây là một số cơ hội nổi bật cho Việt Nam đối với tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19, cụ thể:

- Các dự án xanh được đầu tư phê duyệt. Trước làn sóng và ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung diễn ra vào năm 2018, các quốc gia đang có xu hướng đa dạng hóa thị trường nhằm tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, trong bối cảnh đó, Việt Nam được nhiều nhà đầu tư lựa chọn là quốc gia tiềm năng để tiếp nhận các làn sóng đầu tư mới dịch chuyển ra ngoài Trung Quốc8. Đồng thời, với những cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam tại COP 26 và các chính sách điều chỉnh theo hướng tăng cường năng lượng tái tạo, nhiều chuyên gia nhận định, có thể có một là sóng thứ hai đầu tư vào năng lượng sạch tại Việt Nam9.

- Giá nhiên liệu hiện nay tăng cao góp phần hình thành nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng khác thay thế năng lượng hóa thạch.

Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là năng lượng hóa thạch được hình thành trong một thời gian rất dài, đồng thời việc khai thác chúng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến môi trường. Bối cảnh hiện nay sẽ là cơ hội để các chủ thể nhìn nhận về việc có nên tìm một nguồn năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch, nhằm từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào chúng và thân thiện với môi trường hơn.

- Sự quan tâm đúng mức của Chính phủ. Trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau khi mối quan tâm về đại dịch có phần điều tiết lại, Chính phủ đã đưa ra nhiều quyết sách, mục tiêu về việc bảo vệ môi trường, trồng cây xanh, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế xanh. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp, góp phần phát triển nền kinh tế bền vững, thân thiện với môi trường thông qua các chính sách ưu đãi, đặc biệt ưu đãi về thuế và hỗ trợ vay vốn được cụ thể hóa trong Luật Đầu tư 2020 và các văn bản pháp luật khác.

- Thay đổi tư duy sản xuất nhờ thích nghi với tình hình giãn cách. Đại dịch Covid-19 góp phần chuyển đổi hoạt động kinh doanh truyền thống qua hoạt động kinh doanh trên nền tảng kinh tế số. Một trong số đó là thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, thông qua các sàn thương mại điện tử, từng mặt hàng của người dân có cơ hội được quảng bá rộng rãi, đa dạng thị trường tiêu thụ. Từ đó, giảm bớt gánh nặng cho môi trường thông qua việc thực hiện các hoạt động kinh doanh bằng nền tảng kinh tế số thay thế cho lối kinh doanh truyền thống.

- Luật Bảo vệ môi trường 2020 từng bước hoàn thiện. Qua nhiều năm nghiên cứu và sửa đổi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường, có thể thấy Luật Bảo vệ môi trường 2020 nhìn chung đã từng bước hoàn thiện hơn các quy định, từ tinh giản các thủ tục, thay đổi đồng bộ hơn với một số quy định của luật khác. Đặc biệt, tại Luật Bảo vệ môi trường 2020, lần đầu tiên các nhà làm luật xem xét đưa “cộng đồng” thành “chủ thể” trong vấn đề bảo vệ môi trường. Việc ghi nhận cộng đồng trở thành một chủ thể cho thấy sự nhận thức đúng đắn, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong quá trình chung tay bảo vệ môi trường, từ đó, xây dựng, rèn luyện ý thức xanh cho cộng đồng10.

- Các hiệp định tự do thế hệ mới đặt ra yêu cầu phải thay đổi sản xuất và quan tâm nhiều hơn đến môi trường. Với sự phát triển và hội nhập không ngừng vào thị trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, thông qua quá trình gỡ bỏ hàng rào thuế quan giữa các quốc gia và chính sách hỗ trợ của các bên. Tuy nhiên, khi tham gia vào các hiệp định, đòi hỏi Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh. Tiêu biểu trong năm 2020, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực. Liên minh châu Âu là một thị trường của các quốc gia phát triển, do đó người dân có mức sống cao, dẫn đến thị trường này yêu cầu các chỉ tiêu nghiêm ngặt về chất lượng và thành phần sản phẩm, cũng như đưa ra các điều kiện buộc Việt Nam phải cam kết về các chỉ tiêu môi trường11.

Thứ hai, bên cạnh những cơ hội mang lại thì vấn đề tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam cũng đang gặp phải không ít những thách thức đặt ra, cụ thể:

- Cuộc khủng hoảng do Covid-19 để lại đã làm cho các doanh nghiệp không còn chú trọng vào các vấn đề bảo vệ môi trường. Trải qua nhiều tháng phải hoạt động cầm chừng, hoặc đình chỉ sản xuất kinh doanh bởi những lệnh giãn cách từ Chính phủ, một số doanh nghiệp còn hoạt động đến nay đã tìm cách tối đa hóa lợi nhuận sau thời gian dài đứng trước tình trạng thua lỗ, điều đó có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp dành ít sự quan tâm trong việc đảm bảo các chỉ tiêu về môi trường mà thay vào đó tập trung tối đa vào quá trình sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận.

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường ít chú trọng vào vấn đề môi trường. Các doanh nghiệp FDI thường tận dụng cơ hội Việt Nam là một thị trường đang phát triển, nguồn nhân công rẻ, với mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận nên thường sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nhiên liệu và gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường. Tuy vấn đề hiện đã được cơ quan Nhà nước nhận thấy và quan tâm nhưng vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp trên thực tế tìm cách lách luật, xả thải ra môi trường… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

- Ý thức, thói quen tiêu dùng của đa số người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn mang tính truyền thống, chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Đa số thường lựa chọn các sản phẩm có giá thành rẻ hơn là quan tâm đến chất lượng. Các sản phẩm công nghiệp thường sẽ phù hợp hơn đối với đa số người tiêu dùng Việt Nam, nhưng đây cũng là sản phẩm ảnh hưởng lớn đến môi trường vì tốc độ phân hủy rất lâu, cũng như quy trình xử lý không đơn giản và thường mất rất nhiều thời gian. Bên cạnh đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường thường có giá thành đắt hơn, sản xuất phức tạp hơn, không tiện dụng như các sản phẩm công nghiệp khác. Điều này đã tạo nên thách thức đối với các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm chất lượng, theo mô hình sản xuất bền vững, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường.

- Việc theo đuổi mục tiêu giảm phát thải ròng bằng “0” sẽ tạo ra áp lực lớn trong việc phải chuyển đổi xanh cho các ngành. Theo đó, để theo đuổi mục tiêu mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra là đưa ra mức phát ròng bằng “0” vào năm 2050 thì buộc phải chuyển đổi xanh và phát triển năng lượng xanh đồng bộ trong tất cả toàn chuỗi cung ứng, cũng như ở nhiều ngành khác nhau, ngoài ra cũng phải bỏ ra khoản đầu tư khổng lồ để chuyển đổi. Bởi những nơi phù hợp cho các dự án năng lượng sạch thì có thể mâu thuẫn với các nhu cầu phát triển của các ngành khác như nông nghiệp, thủy sản, các vấn đề bảo vệ rừng và giao thông vận tải. Chẳng hạn như, đối với ngành sản xuất điện và khí đốt, khi đặt ra vấn đề phát triển xanh sẽ đặt ra rất nhiều rủi ro về tài chính cho các nhà đầu tư, lẫn ngành tài chính trong việc định hướng lại nguồn đầu tư chuyển sang các dự án ít ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, có lượng phát thải carbon thấp. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi trên cũng có thể gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội cho người dân, tạo ra sự bất tiện trong đời sống của người dân, cũng như tạo thêm gánh nặng về mặt tài chính cho người tiêu dùng12.

3. Một số giải pháp về thúc đẩy tăng trưởng xanh nhằm phục hồi, phát triển kinh tế trong bối cảnh hậu Covid-19

Với đặc thù là quốc gia đang phát triển, nguồn vốn đầu tư cho quản lý môi trường còn hạn chế, điều kiện về cơ sở hạ tầng còn yếu. Do vậy, để đạt được mục tiêu đã đề ra, Việt Nam cần tập trung vào những nội dung cụ thể của kinh tế xanh dựa trên cách tiếp cận theo ngành, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Nhằm tận dụng các cơ hội đang có và khắc phục một số hạn chế, thách thức đã nêu trên, từ đó, hướng đến thúc đẩy nền kinh tế phục hồi và phát triển theo hướng tăng trưởng xanh bền vững, cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào công nghệ để sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đưa ra các hướng dẫn cụ thể hơn nữa nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư, chuyển giao và áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Thúc đẩy các doanh nghiệp cải thiện hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên. Hơn nữa, cần đẩy nhanh hoạt động số hóa hệ thống dữ liệu thông tin quản lý về đất đai, địa lý, quan trắc, viễn thám, dữ liệu nhằm thuận tiện trong giám sát, quản lý. Bên cạnh đó, vạch ra kế hoạch tập trung đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, phát triển ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học như năng lượng gió, mặt trời, sinh khối… Hỗ trợ về kỹ thuật cho các doanh nghiệp có nhu cầu với mục tiêu loại bỏ chất thải, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng. Trong dài hạn, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh thời đại công nghệ 4.0 đã, đang và sẽ là động lực phát triển lâu dài cho nền kinh tế. Kết hợp phát triển hài hòa giữa tăng trưởng xanh và kinh tế số trong bối cảnh hiện nay, nhằm tạo ra xu thế phát triển bền vững, đem lại lợi ích cho đời sống của người dân.

Hai là, pháp luật cần có những quy định chặt chẽ hơn trong việc quản lý các doanh nghiệp FDI trong vấn đề bảo vệ môi trường. Hiện nay, với thực trạng các doanh nghiệp FDI thường ít quan tâm đến môi trường dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường của nước ta đang ở mức đáng báo động. Nhận thức được vấn đề trên, các cơ quan chức năng đã có sự quan tâm và vào cuộc, tuy nhiên, do hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực môi trường còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện, lợi dụng lỗ hổng đó một số doanh nghiệp FDI đã tìm cách lách luật và xả thải ra môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cũng như cuộc sống của người dân xung quanh khu vực đó. Do đó, Nhà nước cũng như các nhà làm luật cần xem xét, bổ sung, chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đặc biệt là cần phải có một hệ thống chế tài quản lý và xử lý triệt để các hành vi gây hại đến môi trường của các doanh nghiệp FDI, có như vậy thì mới đảm bảo được nền kinh tế phát triển bền vững theo hướng tăng trưởng xanh bền vững.

Ba là, nâng cao nhận thức, chuyển đổi mạnh mẽ trong hành động về tăng trưởng xanh cho các cấp lãnh đạo ở các cơ quan quản lý Nhà nước, các ngành, địa phương và doanh nghiệp13. Nhà nước cần có các chính sách giúp cho người dân hiểu rõ về lợi ích của việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp xanh. Theo đó, hiện nay ý thức của đại đa số người dân về vấn đề bảo vệ môi trường vẫn chưa cao, chưa có sự quan tâm đúng mực đến môi trường. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường trong việc phát triển kinh tế cũng như trong đời sống xã hội đến người dân. Đưa ra các chính sách vận động cộng đồng chung tay thực hiện giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hoạt động trồng cây xanh, xanh hóa môi trường sống cùng các hoạt động phát triển rừng nhằm chống mất rừng và suy thoái rừng. Làm cho người dân nhận thức được những mặt tiêu cực trong việc sử dụng hàng hóa công nghiệp, có hại đến môi trường. Đồng thời, cùng với xu hướng chung của thế giới, tìm cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, tiến đến ngày càng ít phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch. Nhà nước cần có sự hỗ trợ kịp thời, khuyến khích và tạo điều kiện doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm chất lượng, theo mô hình sản xuất bền vững, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường phát triển.

Bốn là, tiếp tục theo đuổi mục tiêu do Thủ tướng Chính phủ đã đề ra là đưa ra mức phát ròng thải bằng “0” vào năm 2050. Bởi việc theo đuổi mục tiêu giảm phát thải ròng bằng “0” sẽ tạo ra động lực mới cho phát triển tăng trưởng kinh tế. Muốn chuyển đổi xanh cho tất cả các ngành, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phát triển theo hướng tăng cường áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghiệp tiên tiến và sạch vào trong sản xuất kinh doanh. Đồng thời, phải tăng cường đổi mới sáng tạo trong các sản phẩm, quy trình, cơ cấu tổ chức của mình, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển nhằm đủ sức cạnh tranh, mở ra một thị trường mới, thân thiện với môi trường, người tiêu dùng cũng có thể tiếp cận các mặt hàng tốt hơn, sạch hơn. Bên cạnh đó, với mục tiêu trên, các bộ, ngành, địa phương phải rà soát lại các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã và đang được xây dựng để điều chỉnh phù hợp với lộ trình đưa phát thải ròng của Việt Nam về “0”. Phải nắm bắt được các cơ hội từ sự dịch chuyển các dòng vốn tín dụng, đầu tư phát triển của thế giới, nhất là từ các định chế tài chính, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp đa quốc gia, cũng như rà soát và có những giải pháp đột phá trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để hợp tác phát triển và thực hiện các dự án về chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính cùng với các nước phát triển có tiềm năng về kinh tế, công nghệ vào năm 2050.

4. Kết luận

Có thể thấy rằng, dưới sự tác động của đại dịch Covid-19 cũng như nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người dân, Nhà nước ta đã đưa ra rất nhiều chính sách, kế hoạch định hướng khôi phục kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường trong bối cảnh hậu Covid-19, với quan điểm tăng trưởng xanh là một nội dung hàng đầu để phát triển bền vững. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích đánh giá, làm rõ những cơ hội, thách thức về tăng trưởng xanh trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam và từ đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm thúc đẩy khôi phục và phát triển nền kinh tế bền vững song song với bảo vệ môi trường là một yêu cầu quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.


1 Vũ Anh Tuấn (2022), “Các nước bắt đầu dỡ bỏ các biện pháp hạn chế Covid-19, nhiều chuyên gia lo ngại”, https://vov.vn/the-gioi/cac-nuoc-bat-dau-do-bo-cac-bien-phap-han-che-Covid-19-nhieu-chuyen-gia-lo-ngai-post923895.vov, truy cập ngày 07/4/2022.
2 IMF Cuts (2022), “World Economic-Growth Forecast to 4.4% on Weaker U.S., China Outlooks”, https://www.bloomberg.com/news/articles/2022-01-25/imf-cuts-world-growth-forecast-on-weaker-u-s-and-china-outlooks#:~:text=The%20IMF%20predicts%20that%20global%20growth%20will%20moderate%20in%202022%20and%202023.&text=The%20global%20economy%20will%20expand,World%20Economic%20Outlook%20on%20Tuesday, truy cập ngày 07/4/2022.
3 Lê Hồng Hiệp (2022), “Mỹ và EU cấm vận dầu khí Nga: Lá bài nhiều rủi ro”, https://tuoitre.vn/my-va-eu-cam-van-dau-khi-nga-la-bai-nhieu-rui-ro-

20220310004117595.htm , truy cập ngày 07/4/2022.

4 VnExpress (2022), “Số liệu Covid-19 tại Việt Nam”, https://vnexpress.net/Covid-19/Covid-19-viet-nam, truy cập ngày 07/4/2022.
5 Thảo Nguyên (2021), “Tăng trưởng xanh - Chìa khóa của phát triển bền vững”, https://tuyengiao.vn/khoa-giao/moi-truong/tang-truong-xanh-chia-khoa-

cua-phat-trien-ben-vung-136308#:~:text=%E1%BB%A6y%20ban%20Li%C3%AAn%20h%E1%BB%A3p%20qu%E1%BB%91c,v%C3%A0%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20to%C3%A0n%20di%E1%BB%87n, truy cập ngày 07/4/2022.

6 An Châu (2021), “Định nghĩa về tăng trưởng xanh của một số quốc gia, tổ chức quốc tế”, https://moit.gov.vn/phat-trien-ben-vung/dinh-nghia-ve-tang-truong-xanh-cua-mot-so-quoc-gia-to-chuc-quoc-te.html, truy cập ngày 07/4/2022.
7 Báo Quân đội nhân dân (2022), “Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu”, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/thu-tuong-pham-minh-chinh-chu-tri-hoi-nghi-lan-thu-26-cac-ben-tham-gia-cong-uoc-khung-cua-lien-hop-quoc-ve-bien-doi-khi-hau-683357, truy cập ngày 07/4/2022.
8 Cục Đầu tư Việt Nam (2019), “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và thu hút FDI tại Việt Nam”, https://ipcs.mpi.gov.vn/chien-tranh-thuong-mai-my-trung-va-fdi-vietnam, truy cập ngày 07/04/2022.
9 Việt Anh (2021), “Dự báo làn sóng đầu tư mới vào điện gió”, https://baodauthau.vn/du-bao-lan-song-dau-tu-moi-vao-dien-gio-post117130.htm, truy cập ngày 07/4/2022.
10 Phương Chi (2021), “Vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, https://tainguyenvamoitruong.vn/vai-tro-cua-cong-dong-trong-quan-ly-tai-nguyen-va-bao-ve-moi-truong-cid1928.html, truy cập ngày 07/4/2022.
11 Tô Lê Nguyên Khoa (2020), “Phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập hiệp định EVFTA”, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phan-tich-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-khi-viet-nam-gia-nhap-hiep-dinh-evfta-77662.htm, truy cập ngày 07/4/2022.
12 Tô Hà (2022), “Nhận diện thách thức trong chiến lược tăng trưởng xanh”, https://nhandan.vn/moi-truong/nhan-dien-thach-thuc-trong-chien-luoc-tang-truong-xanh-688467/, truy cập ngày 07/4/2022.
13 Thảo Nguyên (2021), “Tăng trưởng xanh - Chìa khóa của phát triển bền vững”, https://tuyengiao.vn/khoa-giao/moi-truong/tang-truong-xanh-chia-khoa-
cua-phat-trien-ben-vung-136308, truy cập ngày 07/4/2022.


Tài liệu tham khảo:


1. An Châu (2021), “Định nghĩa về tăng trưởng xanh của một số quốc gia, tổ chức quốc tế”, truy cập ngày 07/4/2022, .

2. Báo Quân đội nhân dân (2022), “Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu”, truy cập ngày 07/4/2022,

3. Cục Đầu tư nước ngoài (2019), “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và thu hút FDI tại Việt Nam”, truy cập ngày 07/4/2022,

4. Lê Hồng Hiệp (2022), “Mỹ và EU cấm vận dầu khí Nga: Lá bài nhiều rủi ro”, truy cập ngày 07/4/2022,

5. Phương Chi (2021), “Vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, truy cập ngày 07/4/2022,

6. Tô Hà (2022), “Nhận diện thách thức trong chiến lược tăng trưởng xanh”, truy cập ngày 07/4/2022,

7. Tô Lê Nguyên Khoa (2020), “Phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập hiệp định EVFTA”, truy cập ngày 07/4/2022,

8. Thảo Nguyên (2021), “Tăng trưởng xanh - Chìa khóa của phát triển bền vững”, truy cập ngày 07/4/2022, .

9. VnExpress (2022), “Số liệu Covid -19 tại Việt Nam”, truy cập ngày 07/4/2022,

10. Việt Anh (2021), “Dự báo làn sóng đầu tư mới vào điện gió”, truy cập ngày 07/4/2022,

11. Vũ Anh Tuấn (2022), “Các nước bắt đầu dỡ bỏ các biện pháp hạn chế Covid-19, nhiều chuyên gia lo ngại”, truy cập ngày 07/4/2022, vov.vn/the-gioi/cac-nuoc-bat-dau-do-bo-cac-bien-phap-han-che-Covid-19-nhieu-chuyen-gia-lo-ngai-post923895.vov>


ThS. Trần Linh Huân, Lê Phạm Anh Thơ, Trần Minh Thiện

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành