Chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng thương mại với chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025 và định hướng 2030

Nghiên cứu - Trao đổi
Chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng được đề cập trong bài viết là mức độ về năng lực của đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng đặt ra. 1. Đặt vấn...
aa

Chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng được đề cập trong bài viết là mức độ về năng lực của đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng đặt ra.

1. Đặt vấn đề

Ngày 8/8/2018, Chính phủ đã ban hành “Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; trong đó, quan điểm chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam là huyết mạch và trọng yếu của hệ thống tài chính; Các tổ chức tín dụng (TCTD) hay ngân hàng thương mại (NHTM) được đối xử bình đẳng, cạnh tranh theo pháp luật, hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Trong thời gian qua, mặc dù nguồn nhân lực của hệ thống TCTD đã được cải thiện đáng kể, tuy vậy, Chính phủ vẫn đặt ra yêu cầu chú trọng phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược. Bài viết này nhằm thảo luận nêu một số hạn chế, bất cập về nguồn nhân lực NHTM, qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực NHTM để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng 2030.




Theo các đánh giá, hiện tại hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là các ngân hàng thương mại

2. Hệ thống NHTM và yêu cầu về nguồn nhân lực

Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử phát triển. Các giai đoạn phát triển đều đặt ra đòi hỏi về những yêu cầu nguồn nhân lực tương ứng. Thời gian qua và hiện nay, hệ thống các NHTM có những đặc điểm phát triển như: là thành phần chủ đạo trong hệ thống tài chính; tăng trưởng rất nhanh về quy mô; sản phẩm ở giai đoạn sơ khai hàm lượng công nghệ chưa cao; năng lực cạnh tranh và chất lượng tài sản chưa cao;... các yếu tố này đang đặt ra các yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cả hệ thống NHTM theo chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng đến 2030 mà Chính phủ đã đề ra.

2.1. NHTM chủ đạo trong hệ thống tài chính

Theo các đánh giá, hiện tại hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là các NHTM. Cơ cấu tài sản có tổng các NHTM chiến hơn 95% tổng tài sản Có của cả hệ thống tài chính; điều này cũng gợi ý rằng nhân lực của khu vực NHTM có vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. (Đồ thị 1)

2.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và quản lý

- Thực tế cho thấy, khu vực các TCTD Việt Nam đã phát triển khá nhanh hay tăng trưởng nóng trong giai đoạn từ năm 2000 và đặc biệt từ 2006 - 2010. Dữ liệu thống kê và nhận định chuyên gia cho rằng khu vực này tăng trưởng nóng cả về vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng và phát triển nhanh mạng lưới kinh doanh đô thị. Theo nguyên tắc quản lý thận trọng về ngân hàng, mức tăng trưởng này là thách thức về quản lý kiểm soát an toàn, dẫn đến chất lượng vốn bị suy giảm.

Thực tế ở một số ngân hàng cho thấy, tình hình tăng trưởng về lượng đang tỏ ra quá nhanh so với việc thiết lập các cơ chế quản lý, quản trị trong các ngân hàng. Điều này dẫn đến hoạt động quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ tại một số ngân hàng còn chưa theo kịp so với mức độ tăng trưởng của vốn, dư nợ tín dụng, hay số chi nhánh; Thực tế, trong khi tăng trưởng tín dụng hay tài sản lớn, số chi nhánh nhiều nhưng TCTD mới chỉ đang ở giai đoạn đầu áp dụng các phương thức quản trị hiện đại, cơ cấu quản trị còn hạn chế. Ngân hàng mặc dù đã có bộ phận quản trị rủi ro, nhưng chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng và chưa có nhiều kinh nghiệm xử lý với những rủi ro mới và đang ngày càng gia tăng. Hệ thống báo cáo và công bố thông tin vẫn còn thấp hơn so với các chuẩn mực quốc tế dẫn đến khó khăn trong việc phân tích và xử lý rủi ro. (Đồ thị 2)

Văn hóa quản trị vẫn thiên nhiều về việc tuân thủ các quy định hơn là tự đánh giá và giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ tại một số ngân hàng còn có bất cập, ảnh hưởng đến khả năng nhận diện những yếu kém trong hoạt động ngân hàng.

2.3. Về sản phẩm dịch vụ ngân hàng của NHTM

Có thể nhận thấy, sản phẩm dịch vụ của hệ thống NHTM trong nước mặc dù đã được cải thiện nhiều, tuy vậy, sản phẩm còn chưa đa dạng; hàm lượng công nghệ, sáng tạo chưa cao. Cụ thể:

- Thực tế và thống kê cho thấy, tín dụng còn dựa vào thế chấp tài sản, hay tài sản đảm bảo hơn là tín chấp hay dựa vào hệ thống đánh giá dựa trên việc thu thập dữ liệu có hệ thống.

Tín dụng tiêu dùng còn dựa vào thế thấp tài sản hơn là dựa và hệ thống quản lý đánh giá, xếp hạng tín nhiệm khách hàng. Việc thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng và xây dựng các mô hình đánh giá, kiểm định một cách hệ thống khách quan (như xác suất vỡ nợ, mức độ rủi ro hay điểm tín nhiệm của khác hàng...) còn chưa cao.

Trong điều kiện cạnh tranh, hay hội nhập quốc tế sâu rộng hơn thì vấn đề đa dạng hóa sản phẩm và sản phẩm mới, nhất là sản phẩm phi tín dụng đang là đòi hỏi về trình độ quản lý, vận hành đối với các NHTM và điều đó là đòi hỏi với nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực phù hợp;

- Các dịch vụ ngân hàng hiện đại chưa được phát triển mạnh; chưa đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng:

Quan sát cho thấy, mức độ cung ứng các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn chưa nhiều; Các dịch vụ này còn ở mức hạn chế và như vậy, nguồn nhân lực của các NHTM cần được cải thiện.

Hiện nay, việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cho người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn có khó khăn trong tiếp cận dịch vụ ngân hàng; Tình trạng này có thể là do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể thấy một phần do sự hạn chế về năng lực tìm tòi, thiết kế sản phẩm đa dạng, phù hợp, nhất là sản phẩm mới cho xã hội (Xem mô hình trình độ tổ chức đối với ngân hàng).

2.4. Về quản trị doanh nghiệp (corporate governance) của NHTM

- Hiện nay, tình trạng sở hữu chéo, nhóm cổ đông chi phối vẫn đang là vấn đề cần xử lý trong hệ thống ngân hàng; đến nay, tình hình đã được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, cần phải tiếp tục được quản lý chặt chẽ theo các quy tắc quản trị doanh nghiệp lành mạnh được quy định bởi pháp luật để tránh tình trạng lạm dụng, chi phối, gia tăng rủi ro hệ thống.

- Với các NHTM Nhà nước nắm đa số quyền sở hữu, vấn đề quy định về đại diện quản lý phần vốn góp nhà nước tại doanh nghiệp cũng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

2.5. Về năng lực cạnh tranh

Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng phần nào phản ánh năng lực quản lý quản trị điều hành của ngân hàng:

- Các chỉ số xếp hạng về phát triển thị trường tài chính - ngân hàng của Việt Nam chưa cao; Trong đó chỉ số về TCTD (như chỉ số lành mạnh) ở mức thấp so với các chỉ số bộ phận khác.

- Các NHTM còn có quy mô nhỏ, mức độ lành mạnh tài chính và hiệu quả hoạt động thấp hơn so với ngân hàng của một số nước trong cùng khu vực. Trong tổng số 500 ngân hàng lớn nhất (xét trên tổng tài sản) của khu vực Châu Á Thái Bình Dương do tạp chí The Asian Banker bình chọn năm 2014, Việt Nam chỉ có 10 ngân hàng.

- Xuất khẩu dịch vụ ngân hàng còn hạn chế. Một số NHTM đã thiết lập được chi nhánh, ngân hàng tại nước ngoài, song quy mô hoạt động còn nhỏ, chủ yếu vẫn là phục vụ cho các doanh nghiệp Việt Nam tại một số thị trường như Lào, Campuchia, Myanmar.

2.6. Về chất lượng tài sản

Ngân hàng cho vay trên cơ sở phân tích đánh giá dự án, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp (người vay vốn). Như vậy, chất lượng tín dụng phần lớn phản ánh chất lượng từ các quyết định cho vay. Trong những năm qua, việc xuất hiện một số vụ án liên quan đến cho vay phần nào phản ánh chất lượng cán bộ trong các NHTM cần được quan tâm và cải thiện hơn nữa. (Đồ thị 3)


2.7. Hành vi chi phí và trách nhiệm xã hội

Hành vi hay ứng xử với chi phí của NHTM phản ánh năng lực quản lý doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của ngân hàng. Diễn biến chi phí hoạt động của NHTM thời gian qua phản ánh cách ứng xử của người hay hành vi quản lý ngân hàng trước các diễn biến của môi trường kinh doanh trong nước; Chỉ số này phần nào phản ánh trình độ quản lý hay năng lực của ngân hàng trong việc giảm chi phí để đạt được lợi nhuận tối đa mà không gây các tác động hay phương hại đến lợi ích của các nhóm khác nhất là lợi ích xã hội. (Đồ thị 4)


2.8. Về đạo đức và thái độ nghề nghiệp

Theo OECD, năng lực người lao động cần được bao gồm cả thái độ nghề nghiệp. Đạo đức và thái độ nghề nghiệp phù hợp sẽ đảm bảo để người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội cũng là yêu cầu phát triển của xã hội đi liền với khái niệm tăng trưởng kinh tế toàn diện.

Ngoài một số hạn chế về chuyên môn, nhân lực quản lý của các NHTM có phần còn hạn chế về tầm nhìn tổng thể, dài hạn và trách nhiệm xã hội… Tình trạng chạy theo lợi nhuận, lợi ích trước mắt đã dẫn đến gia tăng rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh.

3. Một số khuyến nghị về tăng cường năng lực cán bộ ngân hàng

Theo tầm nhìn chiến lược đến 2025, định hướng đến 2030, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải thực hiện những nhiệm vụ rất quan trọng gồm tái cơ cấu hệ thống và thực hiện các giải pháp chiến lược phát triển của Chính phủ. Do đó, giải pháp tăng cường năng lực cho cán bộ ngân hàng cần gắn với quá trình tái cơ cấu (theo Đề án 1051/TTg) và yêu cầu của chiến lược phát triển ngành Ngân hàng (theo Quyết định số 986/TTg ngày 8/8/2018). Trên cơ sở thực trạng và định hướng chiến lược của Nhà nước, bài viết đề xuất một vài khuyến nghị nhằm cải thiện nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng như sau:

(i) Cải thiện năng lực quản trị chiến lược cho đội ngũ cán bộ quản lý lãnh đạo NHTM theo trình độ cao hơn. Hiện tại, năng lực quản trị ở trình độ của đội ngũ các NHTM cần được cải thiện để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của chiến lược phát triển ngành Ngân hàng theo định hướng của Chính phủ tại Quyết định 986/QĐ-TTg đặt ra. Với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam sẽ không theo đuổi chủ trương tăng trưởng bằng mọi giá, và thay vào đó là tăng trưởng về chất, "tăng trưởng toàn diện". Sự thịnh vượng của ngân hàng được đi kèm với trách nhiệm xã hội của ngân hàng.

(ii) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro ngân hàng gắn với tăng cường năng lực tổng hợp đội ngũ cán bộ ở các cấp (kiến thức, kỹ năng, thái độ và đạo đức nghề nghiệp). Tăng cường công tác đào tạo cán bộ NHTM cùng với đánh giá hiệu quả các quy định, chuẩn mực, thông lệ về quản trị ngân hàng hiện hành. Xây dựng và ban hành các chuẩn mực về quản trị rủi ro dựa trên các chuẩn mực quốc tế.

(iii) Thực hiện giải pháp đào tạo đội ngũ quản lý điều hành ngân hàng gắn với các quy chuẩn theo định hướng chiến lược của Chính phủ và thông lệ trên thế giới. Nâng cao năng lực đội ngũ quản lý điều hành gắn với đổi mới và nâng cấp quy trình quản trị; nâng cấp chức năng kiểm soát: quản lý rủi ro, kiểm toán nội bộ, tuân thủ. Định hướng đào tạo gắn với hoàn thành việc thực hiện thí điểm 10 NHTM áp dụng Basel II, tổng kết rút kinh nghiệm để mở rộng trên toàn khu vực ngân hàng bắt đầu từ sau năm 2020. Từ năm 2025, triển khai thí điểm áp dụng Basel III tại các NHTMCP có vốn Nhà nước chi phối và một số NHTMCP có chất lượng quản trị tốt, phấn đấu sau năm 2030 triển khai áp dụng cho toàn bộ các NHTM;

(iv) Đào tạo đội ngũ chuyên gia đánh giá phòng ngừa, dự báo rủi ro gắn với cải thiện phương pháp tính toán tỷ lệ an toàn vốn, bảo đảm đủ vốn để bù đắp 3 loại rủi ro trọng yếu là tín dụng, thị trường và hoạt động theo lộ trình áp dụng Basel II; Trên cơ sở này có thể chuyển đổi sang nguyên tắc quản lý theo định hướng phòng ngừa rủi ro, gồm: quy định về tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo phương pháp chuẩn, theo phương pháp cơ bản nội bộ; quy định về quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ, kiểm tra sức chịu đựng Stress testing; các quy định về minh bạch thông tin, yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của Ủy ban Basel; Bổ sung các tỷ lệ an toàn mới và cập nhật theo thông lệ quốc tế tốt nhất, tập trung vào các hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, lựa chọn áp dụng phù hợp;

(v) Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên gia để hấp thụ tốt các tiến bộ của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (4.0); Có chương trình đào tạo đội ngũ quản lý hay chuyên gia để đáp ứng trào lưu Fintech hiện nay. Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành của TCTD; Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro... đang đặt ra yêu cầu về đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ ngân hàng.

(vi) Cải thiện năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ của ngân hàng. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng cần có định hướng triển khai các chính sách và quy trình nội bộ lành mạnh; Áp dụng và định kỳ rà soát, đánh giá, bổ sung, chỉnh sửa các phương thức quản trị, điều hành tiên tiến dựa trên các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và phù hợp với quy định của pháp luật; Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; Thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế; Nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và quản lý, giám sát rủi ro tín dụng của TCTD... Do vậy, yêu cầu về đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ về lĩnh vực này là rất cần thiết;

Những khuyến nghị trên đây nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng để thực hiện tốt các mục tiêu chiến lược ngành đến 2025 và định hướng đến 2030.

1 Trong khi Indonesia có 4 ngân hàng, Malaysia có 7 ngân hàng, Philipines có 3 ngân hàng, Singapore có 4 ngân hàng và Thái Lan có 6 ngân hàng trong top 200.

Tài liệu tham khảo:

1. IMF, 2018: Thống kê IFS của Quỹ tiền tệ quốc tế

2. Jacob Morgan,2013: The five – step Maturity Mondel for Building a Collaborative Organization

3. KPMG, 2012 và 2016: Báo cáo khu vực ngân hàng Việt NAm (Vietnamese banking survey, KPMG,com,vn)

4. LienVietPostBank, 2018: Trang web của ngân hàng

5. NHNN: Báo cáo thường niên các năm

6. Thủ tướng: Quyết định 986/TTg ngày 8/8/2018 về Chiến lược phát triển Ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng đến 2030

7. UBGSTCQG: Báo cáo giám sát các năm;

8. WEF, 2017 và 2018: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2016/2017 và 2017/18;


ThS.Lê Văn Hinh
ThS. Nguyễn Văn Lành


Nguồn: TCNH số 19/2018

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành