Vai trò của Asean trong liên kết kinh tế Đông Á: Thuận lợi và khó khăn

Quốc tế
Đông Á thu hút sự quan tâm đặc biệt của thế giới, không chỉ vì Đông Á là địa bàn chiến lược quan trọng, mà còn vì Đông Á đã đạt được những thành công ngoạn mục về phát triển kinh tế và trở thành đầu ...
aa

Đông Á thu hút sự quan tâm đặc biệt của thế giới, không chỉ vì Đông Á là địa bàn chiến lược quan trọng, mà còn vì Đông Á đã đạt được những thành công ngoạn mục về phát triển kinh tế và trở thành đầu tầu của kinh tế thế giới, đóng góp rất quan trọng vào tăng trưởng toàn cầu.

Cùng với sự tham gia liên kết kinh tế của Trung Quốc vào ASEAN, tiếp đến là Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+1), quá trình liên kết kinh tế Đông Á1 đang ngày càng trở nên năng động hơn. ASEAN mặc dù không mạnh như những đối tác khác, song vẫn là trung tâm của mọi nỗ lực liên kết khu vực. Các quốc gia Úc, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản đều đang cố gắng hội nhập vào ASEAN, nhờ vậy đã thiết lập được mối quan hệ lâu dài với các nước khác ở Đông Á và thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á.

1. Tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á và vai trò của ASEAN

Hợp tác, kết nối khu vực hiện là một trong những xu hướng chủ đạo tại Đông Á với vai trò tích cực của các nước trong khu vực, đặc biệt là các quốc gia thành viên ASEAN. Tiến trình liên kết kinh tế Đông Á là xu thế tất yếu khách quan. Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ (2008) được thể hiện rõ nét hơn qua nhiều cấp độ.

Cấp độ thứ nhất: Liên kết ASEAN gồm 10 nước thành viên, hiện đã đạt được những bước tiến nhất định trong tự do hóa thương mại như hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA (1992). Cơ chế chính để hình thành AFTA là Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). ASEAN cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và đối với 4 nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) năm 2015, có sự linh hoạt đến năm 2018.

Cấp độ thứ hai: Liên kết ASEAN+1, cụ thể là việc thiết lập khu vực tự do hóa thương mại với từng nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) năm 2010 tạo thành một khối thương mại trị giá 200 tỷ USD, tác động tới 1,9 tỷ người tiêu dùng (chiếm gần 1/3 dân số thế giới), tổng quy mô kinh tế khoảng 6.000 tỷ USD và tổng kim ngạch thương mại 4.500 tỷ USD. Hiệp định ACFTA được coi là hành lang năng lượng kinh tế quan trọng của thế giới, có lợi cho cả Trung Quốc và ASEAN. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Nhật Bản (AJFTA) năm 2008 không chỉ là Hiệp định thương mại tự do (FTA) về hàng hóa, mà còn bao gồm cả các hoạt động dịch vụ và đầu tư. Với AJFTA, các công ty Nhật Bản đang mở rộng thị trường ở Đông Nam Á giúp giảm các chi phí kinh doanh. Đặc biệt, các nhà chế tạo điện tử và ô tô Nhật Bản sẽ được hưởng lợi nhiều do các phụ tùng xuất khẩu sang nhiều nước trong khu vực ASEAN để lắp ráp không bị đánh thuế. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) năm 2007. Hiệp định AKFTA đã mở ra triển vọng tăng xuất khẩu hàng hóa của các nước ASEAN vào thị trường Hàn Quốc. Kim ngạch thương mại song phương đạt 160 tỷ USD (2018) và tăng lên 200 tỷ USD (2020)2.

Cả ba quốc gia Đông Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc) thấy được nguồn lợi tiềm tàng của tăng cường liên kết kinh tế khu vực và coi FTA với ASEAN là một chiến lược phát triển kinh tế trọng tâm.

Cấp độ thứ ba: Liên kết giữa ba nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Khu vực mậu dịch tự do giữa ba nước Đông Bắc Á được thành lập giúp Hàn Quốc tăng thêm 3,2% GDP, Trung Quốc tăng thêm 1,3% GDP và Nhật Bản tăng thêm 0,2% GDP. Hợp tác giữa ba nước luôn có tiềm năng lớn trong một số lĩnh vực như phát triển và sử dụng năng lượng mới, đồ điện tử cao cấp, công nghệ thông tin, đóng tàu và sản xuất thiết bị cao cấp... Vì vậy, việc hợp tác giữa ba nước có những tác động lớn đến hợp tác kinh tế khu vực Đông Á.

Cấp độ thứ tư: Liên kết trên phạm vi toàn khu vực mà trọng tâm là ASEAN+3. Các cấp độ hợp tác trên được diễn ra một cách đồng thời, tác động lẫn nhau, trong đó cấp độ ASEAN+3 mặc dù đang ở trong giai đoạn hình thành khung hợp tác nhưng được xem là đích hướng của tất cả các cấp độ hợp tác còn lại. Tổng giao dịch thương mại nội khối giữa ba nước chiếm 1/3 so với thế giới, khoảng 54% tổng thương mại khu vực Đông Á và hơn 45% thương mại của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA)3. Hiệp định thương mại Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc (CJK) có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với quá trình đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership) bởi ba quốc gia lớn chiếm hơn 2/3 GDP trong RCEP (được ký kết năm 2020).

Để thúc đẩy mạnh hơn hợp tác kinh tế khu vực Đông Á, các quốc gia Đông Bắc Á cũng đã nhận thấy vai trò to lớn của ASEAN. Vai trò của ASEAN được thể hiện ở sự hợp tác giữa ASEAN với từng quốc gia (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc). ASEAN với nền kinh tế phát triển nhanh như Việt Nam, nền kinh tế mạnh như Thái Lan và nền kinh tế được cải thiện nhiều như Indonesia, thì vai trò của ASEAN càng có ý nghĩa quan trọng.

Với dân số trên 677 triệu người và tổng GDP hơn 2.920 tỷ USD (2021), ASEAN được đánh giá là khu vực quan trọng, mang tính chiến lược trong nền kinh tế khu vực và thế giới, đồng thời đóng vai trò tích cực trong thúc đẩy hợp tác, kết nối khu vực thông qua việc đẩy mạnh liên kết ASEAN và các cấu trúc liên kết ở Đông Á. Thể hiện vai trò trung tâm trong quá trình hợp tác Đông Á, ASEAN đã đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong hợp tác khu vực, làm gia tăng ảnh hưởng, vị thế của từng nước cũng như của toàn khu vực trong hợp tác quốc tế.

Mô hình liên kết với xu hướng hướng tới cơ cấu tổ chức ASEAN+1 (Trung Quốc), ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) và ASEAN+5 (Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Hợp tác ASEAN+3 là nòng cốt để tiến đến một Cộng đồng Đông Á, mà ASEAN giữ vai trò trung tâm. ASEAN luôn là lực lượng kinh tế, tạo lực gắn kết và thúc đẩy hợp tác Đông Á. Có nhiều lý do để ASEAN trở thành trung tâm trong hợp tác Đông Á, đó là:

Thứ nhất, ASEAN là một trong những khu vực kinh tế năng động với những bước tăng trưởng tích cực và ổn định nhất thế giới bất chấp những biến cố trong khu vực cũng như hậu quả của thiên tai.

Thứ hai, hạt nhân ASEAN (trong đó có Việt Nam) đang đứng trước cơ hội phát triển kinh tế mạnh mẽ và có tốc độ tăng trưởng đứng thứ 2 châu Á (sau Trung Quốc).

Thứ ba, quyết định của các nhà lãnh đạo ASEAN về việc đẩy nhanh tiến trình thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sớm hơn 5 năm (2015) sẽ thúc đẩy nhanh liên kết nội khối và đẩy mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong hợp tác Đông Á.

Thứ tư, bản thân ASEAN cũng nhận thức rõ được nhiệm vụ quan trọng hiện nay là tăng cường hợp tác khu vực để thúc đẩy và thu hút hơn nữa các hoạt động đầu tư nước ngoài.

ASEAN giữ vị trí trung tâm của Đông Á nói riêng, cũng như của châu Á nói chung và tạo thuận lợi cho cơ chế đối thoại khu vực. Hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ nhất tại Kuala Lumpur năm 2006 khẳng định, ASEAN sẽ là “lực lượng dẫn dắt” và ASEAN+3 sẽ là “bánh xe chính” của quá trình hiện thực Cộng đồng kinh tế Đông Á.

Với vai trò dẫn dắt trong các hoạt động thuộc khuôn khổ ASEAN+3 và các hoạt động hợp tác Đông Á, ASEAN góp phần xây dựng môi trường, trong đó các chủ thể chính trong khu vực hợp tác vì lợi ích chung. Tăng cường hợp tác Đông Á trong khuôn khổ ASEAN+3 giúp ASEAN nâng cao vai trò của mình trong quan hệ quốc tế.

RCEP được ký kết4 nhờ vai trò tích cực đẩy mạnh nhiều hoạt động liên kết kinh tế của ASEAN, giúp mở ra nhiều cơ hội giao thương mới trong khu vực. RCEP giúp tránh bóp méo thương mại của các FTA riêng lẻ của mỗi quốc gia, vì các đối tác trong RCEP của ASEAN như các nước (Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc) đều là các quốc gia đã ký các FTA với ASEAN.

RCEP đã đặt nền móng cho việc ký kết FTA của ba nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc). Viện Quốc tế Nhật Bản đánh giá, RCEP giúp tăng thêm 6,5% GDP của Hàn Quốc, trong khi Nhật Bản tăng 5% GDP và Trung Quốc tăng thêm 4,6% GDP. Tổng GDP của ba quốc gia Đông Bắc Á chiếm hơn 70% GDP của châu Á và khoảng 20% tổng GDP của thế giới, nhiều hơn cả Liên minh châu Âu (EU)5. Nhờ sự thành công của việc hình thành RCEP, ASEAN đã nâng cao tiếng nói của mình trên trường quốc tế bởi khả năng kết nối được một thỏa thuận thương mại đầy tham vọng liên quan đến các quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau. Rõ ràng, RCEP là do ASEAN khởi xướng, nhưng muốn tối đa hóa lợi ích, không thể thiếu sự hợp tác của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

RCEP đóng góp thêm 500 tỷ USD trong kim ngạch xuất khẩu của thế giới vào năm 2030. Trong đó, ba quốc gia Đông Bắc Á trong RCEP lần đầu tiên được kết nối với nhau bằng một FTA. Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc dự kiến ​​sẽ tăng 248 tỷ USD nhờ RCEP, Nhật Bản tăng thêm 128 tỷ USD và Hàn Quốc 63 tỷ USD6. Khi các mối quan hệ thương mại được tăng cường ở Đông Á, bằng cách cùng tham gia trong RCEP, Đông Á sẽ là nơi hội tụ của các cường quốc công nghệ. Các nước ASEAN và toàn khu vực sẽ được hưởng lợi từ hợp tác hòa bình, đầu tư nước ngoài nhiều hơn và nâng cấp nhanh hơn các công nghệ xanh và kỹ thuật số.

Để thể hiện rõ vai trò trung tâm, ASEAN cố gắng tạo ra những sợi dây liên kết với các đối tác mạnh trong khu vực. Nếu không có vai trò trung tâm của ASEAN, Đông Á cũng sẽ không gặt hái được nhiều thành tựu. Do đó, tiến trình liên kết kinh tế ASEAN sẽ có vai trò rất quan trọng đối với triển vọng Đông Á. Tuy nhiên, ASEAN đang phải đối diện với một số khó khăn:

Một là, tính cạnh tranh của ASEAN chưa đủ cao, vì vậy, ASEAN khó có thể cạnh tranh được với Trung Quốc xét theo 2 góc độ: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thương mại (xuất nhập khẩu). Cơ cấu sản xuất của ASEAN, từ các nền kinh tế phát triển (Singapore, Thái Lan) tới các nền kinh tế kém phát triển hơn (Việt Nam, Philippines), nhìn chung đều tương tự như cơ cấu sản xuất của Trung Quốc, nhưng ASEAN lại không có tiềm năng đủ mạnh để có thể trở thành trung tâm của sự phát triển tri thức và công nghệ. Những yếu kém này khẳng định Trung Quốc sẽ vượt trội ASEAN về khả năng cạnh tranh trong dài hạn. Nếu như ASEAN không đặt mục tiêu trở thành trung tâm sáng tạo và phát triển khoa học công nghệ và tri thức thì ASEAN sẽ vẫn tiếp tục đi sau.

Hai là, ASEAN vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng của một tiến trình cải cách có tổ chức cơ bản, một sự thiết lập cơ chế liên kết, hợp tác thích hợp. Ngoài ra, còn rất nhiều các vấn đề chính trị - xã hội nghiêm trọng khác vẫn đang hiện diện trong bản thân các nước ASEAN và không thể giải quyết ngay được trong thời gian ngắn. Vì vậy, ASEAN đang phải tập trung mọi cố gắng để giải quyết vấn đề này thay vì tập trung vào các mối liên kết và hợp tác khu vực với các quốc gia khác. Điều này làm cho ảnh hưởng ly tâm ngày càng tăng và làm chậm tiến trình liên kết khu vực.

Ba là, quan điểm của Nhật Bản và Mỹ đối với sự phát triển của ASEAN và phản ứng chiến lược của Trung Quốc trong khu vực cũng chưa rõ ràng. Trung Quốc đang thực hiện chiến lược “hướng về phương nam”. Chiến lược này của Trung Quốc thúc đẩy xu hướng ly tâm trong khu vực. Đồng thời, một ASEAN mạnh sẽ là sự bảo đảm tối ưu nhất để cho toàn khối cũng như mỗi thành viên sẽ thu được nhiều lợi ích trong quá trình hợp tác để có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, đặc biệt là cạnh tranh với Trung Quốc. Về dài hạn, mỗi quốc gia trong ASEAN sẽ thu được nhiều lợi nhất từ sự liên kết trong phân chia lao động khu vực. Hơn nữa, song song với việc thúc đẩy quá trình cải cách và ký kết các hợp đồng chặt chẽ hơn, ASEAN sẽ tìm kiếm được cơ hội để hình thành hiệp định phân chia lao động trong khu vực dựa trên các nguyên tắc của chuỗi cung cấp sản phẩm. Đây là cách tốt nhất để tạo lập xu hướng hướng tới liên kết kinh tế và nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm ASEAN trên thị trường khu vực và quốc tế. Điều này sẽ tạo ra sự thắng thế tương đối của ASEAN trước các đối tác bên ngoài khu vực và tạo ra sự nhất trí chung trong khu vực.

Bốn là, hiện tại, chưa có quốc gia nào trong ASEAN là "đầu tàu", nổi bật để dẫn dắt quá trình phát triển và liên kết ASEAN.

Vì vậy, để duy trì và củng cố vai trò ASEAN trong quá trình phát triển Đông Á và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình (mà cho đến nay vẫn chưa thể bằng khả năng cạnh tranh của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản), ASEAN cần quyết tâm hướng tới liên kết. Vấn đề không còn là tính hiệu quả của sự liên kết, mà quan trọng nhất là sự tồn tại của ASEAN - nhóm chính trong liên kết với các đối tác khác.

2. Thuận lợi và khó khăn trong liên kết kinh tế Đông Á

Với một số nền kinh tế thịnh vượng của thế giới (Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc), Đông Á đang tiếp tục được tăng thêm sức mạnh nhờ một số thị trường mới nổi, như Indonesia, Myanmar và Việt Nam. Thành công kinh tế của Đông Á được khẳng định thêm bởi sự hình thành AEC (2015). AEC ra đời mở ra thị trường rộng lớn, bình đẳng cho các doanh nghiệp có cơ hội trao đổi thương mại, thu hút đầu tư, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực với hoạt động xuất khẩu thuận lợi hơn nhờ rào cản thuế quan, phi thuế quan được dỡ bỏ.

Trong liên kết Đông Á, nhóm kém phát triển của ASEAN có 2 đặc điểm nổi bật: Thứ nhất, năng lực và trình độ phát triển của nhóm nước (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar) còn hạn chế. Thứ hai, nhóm nước kém phát triển hơn hiện vẫn đang phải giải quyết các mối quan hệ kinh tế nội bộ còn lạc hậu. Vì vậy, đối với các quốc gia kém phát triển rất khó, thậm chí không thể tham gia vào hệ thống phân chia lao động trong khu vực như đã cam kết bình đẳng với các nước thành viên khác. Các nền kinh tế kém phát triển hơn đang phải đối diện với những cản trở trong việc nâng cao vị thế của mình.

Với vai trò trung tâm trong hợp tác kinh tế Đông Á, ASEAN đang phải đối diện với hai thách thức lớn: Thứ nhất, sự cách biệt lớn trong tính cạnh tranh toàn cầu. Tính cạnh tranh là động lực quan trọng của sự hội nhập và phồn vinh, nhưng trong ASEAN chỉ có Singapore có chỉ số cạnh tranh toàn cầu xếp thứ 2/144 nước khảo sát, quốc gia có chỉ số thấp nhất trong ASEAN là Campuchia xếp thứ 85/144. Sự cách biệt quá lớn về tính cạnh tranh toàn cầu trong nội bộ ASEAN nói lên sự thiếu đồng bộ, thiếu sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong khối; Thứ hai, phát triển nông nghiệp bền vững để đảm bảo an ninh lương thực. Nông nghiệp là động cơ quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN, giúp cho hàng triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói, đồng thời nông nghiệp kém phát triển dẫn đến nguy cơ nghiêm trọng về an ninh lương thực. Để đáp ứng nhu cầu dân số đang ngày càng gia tăng, ASEAN cần nâng cao sản lượng lương thực mà vẫn sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên, như đất và nước, cải tiến chủng loại hạt giống, sử dụng ít nước hơn hoặc sản xuất nhiều mùa vụ trên cùng một khu vực trồng trọt. Cơ giới hóa kỹ thuật hiện đại cũng là phương cách hiệu quả giúp gia tăng năng suất và tiết kiệm chi phí sản xuất.

Mặc dù còn nhiều khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung, cũng như sự phát triển hệ thống tài chính của từng nước nói riêng, nhưng Đông Á bước đầu đã hình thành tiền đề tất yếu cho sự hình thành quỹ tiền tệ và đồng tiền chung Đông Á. Tỷ trọng thương mại và đầu tư nội vùng ngày càng tăng; độ mở cửa của thị trường Đông Á khá cao. Thực tế, Đông Á đang nghiên cứu khuôn khổ các bước cho sự hình thành đồng tiền chung Đông Á. Đồng tiền chung Đông Á không dựa vào neo tiền với đồng USD mà sẽ hình thành một đơn vị tiền tệ dựa trên việc hình thành một giỏ tiền tệ và neo các đồng tiền thành viên vào một vài đồng tiền chủ chốt trong khu vực theo những tỷ giá nhất định.

Mặc dù có vai trò lớn trong khu vực và đạt được tốc độ tăng trưởng ngoạn mục, song Đông Á vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, đó là:

Thứ nhất, khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế. Trong khu vực Đông Á, tồn tại nhiều cấp độ phát triển kinh tế khác nhau, tạo nên khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế. Ngoài những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản và các nước mới công nghiệp hóa (Newly industrializing economies - NIEs), còn có các nước đang phát triển và một số thành viên mới của ASEAN. Chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế dẫn đến việc xác định khác nhau giữa các lợi ích và thứ bậc cho các vấn đề ưu tiên trong hợp tác, kéo theo sự bất đồng trong việc hoạch định các mục tiêu, chính sách và biện pháp thực hiện. Khoảng cách chênh lệch cũng tạo bất lợi đối với các nước kém phát triển trong phân công lao động quốc tế do các nước lớn có lợi thế hơn về vốn, công nghệ và khả năng cạnh tranh.

Thứ hai, vấn đề giảm nghèo đói. Đông Á đã phải đối mặt với vấn đề giảm nghèo đói từ lâu. Song, cho đến nay, vẫn còn 750 triệu người sống dưới mức 2 USD/ngày, trong đó, 220 triệu người sống dưới mức 1USD/ngày.

Mức chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia Đông Á và trong từng nước ngày càng tăng. Châu Á là nơi có 12 trong số 15 tòa nhà cao nhất thế giới - chứng cớ rõ ràng về mức giàu có tăng nhanh. Nhưng châu Á, trong đó có các nước Đông Á cũng là nơi có nhiều khu nhà ổ chuột nhất thế giới.

Thứ ba, Đông Á có mức phát triển chênh lệch về cơ sở hạ tầng và tắc nghẽn giao thông nhất thế giới. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), châu Á cần hơn 3 nghìn tỷ USD để khắc phục những yếu kém về cơ sở hạ tầng (điện lực, thông tin viễn thông, hệ thống nước và vệ sinh, mạng lưới giao thông vận tải…) trong giai đoạn (2010 - 2020) hoặc khoảng 300 tỷ USD mỗi năm. Nguồn dự trữ ngoại hối của châu Á hiện nay xấp xỉ 3 nghìn tỷ USD - chiếm gần 2/3 nguồn dự trữ ngoại hối toàn cầu7. Tuy nhiên, việc khắc phục yếu kém về cơ sở hạ tầng không thể đáp ứng ngay được.

Thứ tư, cơ cấu xuất khẩu có nhiều điểm tương đồng cũng là một trở ngại đối với việc hình thành hợp tác kinh tế Đông Á. Các nước Đông Á đều thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do tính tương đồng về cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế thấp tạo nên tính cạnh tranh gay gắt giữa các nước trong khu vực, không chỉ ở những nước có cùng mặt hàng xuất khẩu, mà cả giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và khối các nước ASEAN.

Thứ năm, sự ảnh hưởng của quan điểm cục bộ, quốc gia hẹp hòi trong khu vực. Trong hợp tác Đông Á nói riêng cũng như hợp tác quốc tế nói chung, quan điểm cục bộ, quốc gia hẹp hòi luôn là trở ngại lớn. Quan điểm này luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, ít tính đến lợi ích chung của toàn khu vực. Do vậy, có thể tạo nên những xung đột về mặt lợi ích và cạnh tranh hơn là hợp tác. Đây là thực tế đang gây ra không ít trở ngại đến tiến trình hợp tác kinh tế ở Đông Á.

Thứ sáu, sự tổn hại về môi trường, các dịch bệnh lây nhiễm và thảm họa thiên nhiên. Tăng trưởng nhanh của Đông Á không thể tránh khỏi những chi phí thiệt hại về môi trường. Đông Á tự hào được thừa kế một số di sản thế giới, bao gồm hơn chục công viên biển, rừng rậm nhiệt đới, khu bảo tồn chim muông hoang dã. Tuy nhiên, hàng triệu người châu Á, đặc biệt là những người nghèo đã bị cướp đoạt cuộc sống và sự yên ổn bởi sự ô nhiễm không khí, nước và đất đai. Đông Á nói riêng cũng như châu Á nói chung vẫn còn đang phải chịu đựng những mối đe dọa khác như những căn bệnh lây nhiễm, lan truyền, tội ác xuyên quốc gia và những thảm họa thiên nhiên đòi hỏi phải có sự đồng lòng giải quyết của toàn khu vực.

Ngoài những khó khăn trên, những tác động từ yếu tố bên ngoài cũng cần được đề cập đến, đó là Đông Á vẫn lệ thuộc rất lớn vào thị trường Mỹ và EU. Nền kinh tế các nước Đông Á vẫn rất dễ tổn thương trước những tác động từ bên ngoài như các động thái bảo hộ từ phương Tây. Tăng trưởng ngoại thương nội khối chưa đủ đảm bảo cho Đông Á tránh khỏi khủng hoảng một khi bị hạn chế từ bên ngoài, đặc biệt từ châu Âu và Mỹ. Tỷ trọng thương mại nội vùng Đông Á mặc dù có tăng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn so với trao đổi thương mại ngoại vùng. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Đông Á sang Mỹ và EU luôn cao hơn tỷ trọng xuất khẩu trong nội khối. Bên cạnh đó, Đông Á cũng được xem là một thị trường lớn hàng đầu của Mỹ, vì vậy, Mỹ đang cố gắng lôi kéo các nước Đông Á tăng cường hợp tác trong APEC và liên kết châu Á - Thái Bình Dương hơn là liên kết vùng Đông Á.

Để thúc đẩy nhanh sự hợp tác và liên kết khu vực, duy trì mức tăng trưởng kinh tế và vai trò của mình, Đông Á cần phải tranh thủ những điều kiện thuận lợi trong khu vực, cụ thể:

Một là, tranh thủ những điều kiện tốt nhất để sử dụng nguồn sức mạnh trong khu vực Đông Á, trong đó cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển dễ dàng các loại hàng hóa, dịch vụ, vốn và nhân lực giữa các quốc gia. Những yếu kém về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, viễn thông không phù hợp, các dịch vụ hậu cần và giao thông vận tải thiếu năng lực cạnh tranh, những chính sách kìm hãm sự phát triển sẽ đẩy giá cả và chi phí kinh doanh của Đông Á tăng cao. Vì vậy, Đông Á cần thực hiện được những biện pháp giải quyết thích hợp.

Hai là, hợp tác đầu tư và thương mại là nhân tố chính của toàn bộ tiến trình hợp tác khu vực. Để nâng cao lợi ích tiềm năng của các FTA, Đông Á cần đưa ra được một sơ đồ đường đi rõ ràng nhằm thành lập FTA khu vực rộng hơn. ASEAN+1 sẽ tạo ra nền tảng cho việc thành lập FTA Đông Á.

Ba là, hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á sẽ thu được nhiều lợi ích nhờ có sự phối hợp chính sách rộng hơn, sự giám sát kinh tế toàn diện hơn và nguồn vốn dự trữ khu vực hiệu quả hơn. Tất cả những yếu tố này sẽ bảo đảm sự ổn định về tài chính và giảm những rủi ro khủng hoảng trong tương lai. Sự phát triển của thị trường chứng khoán tiền tệ khu vực Đông Á sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kênh tiết kiệm của châu Á để có khoản đầu tư tối ưu nhất cho cơ sở hạ tầng.

Bốn là, hợp tác Đông Á cũng cần phải được tăng cường trong các lĩnh vực giúp cho Đông Á quản lý hiệu quả những rủi ro xuyên biên giới như ô nhiễm môi trường, bệnh tật truyền nhiễm và thảm họa thiên nhiên nhằm thúc đẩy khả năng cung cấp hàng hóa công cộng trong khu vực.

Tóm lại, với sự nỗ lực của các nước trong khu vực Đông Á, cùng với vai trò ngày càng tăng của khối ASEAN, cũng như thông qua những diễn đàn đa phương, đồng thời đẩy mạnh thành lập các FTA song phương sẽ giúp Đông Á đạt được đích cuối cùng là hình thành một khu vực mậu dịch tự do Đông Á và hướng tới hình thành cộng đồng kinh tế khu vực trong tương lai.

Triển vọng kinh tế của Đông Á rất sáng sủa và có rất nhiều cơ hội phát triển cho toàn khu vực. Tuy nhiên, cách tiếp cận và khả năng nắm bắt những cơ hội và thách thức giữa các quốc gia là hoàn toàn khác nhau xét theo quy mô, bản chất, mức độ khó - dễ và khả năng thực hiện. Kinh nghiệm đã chứng minh rằng, các nước kém phát triển hơn thường bị ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình liên kết và các nước này đang cố gắng hạn chế những tác động tiêu cực tới triển vọng phát triển và liên kết kinh tế khu vực Đông Á. Sự liên kết chặt chẽ trong khu vực phải được coi là mục tiêu quan trọng nhất đối với mọi quốc gia. Thêm nữa, trong quá trình hướng tới Cộng đồng Đông Á để giảm bớt những tác động quá mạnh do sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc thì vai trò của Nhật Bản - quốc gia công nghiệp tiên tiến được xem là rất quan trọng. Việc chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh và hợp tác tri thức của Nhật Bản sẽ giúp các nước ASEAN tăng khả năng cạnh tranh, đối phó có hiệu quả đối với các thách thức do sự trỗi dậy của Trung Quốc. Dự báo từ nay đến năm 2040, Đông Á sẽ vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh nhất thế giới, mức tăng trung bình hằng năm cao hơn 2% so với mức tăng toàn cầu. Tiềm năng phát triển của Đông Á sẽ vượt xa Bắc Mỹ và châu Âu.


1 Đông Á bao gồm ASEAN (10 quốc gia), Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc. Tập hợp 16 quốc gia với khoảng 3 tỷ người (gần nửa dân số thế giới) và chiếm 1/5 thương mại toàn cầu.

2 Đưa kim ngạch thương mại ASEAN - Hàn Quốc đạt 200 tỷ USD vào 2020 - Xem chi tiết (asean2020.vn)

3 Phạm Minh Sơn (2008), Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, tr 88.

4 RCEP được ký kết tháng 11/2020.

5 “World’s Biggest Free Trade Pact to Bring China, Japan, South Korea Closer to Trilateral Deal, Experts Say”, https://www.yicaiglobal.com/news/world-biggest-free-trade-pact-to-bring-china-japan-south-korea-closer-to-trilateral-deal-experts-say, ngày 16/11/2020.

6 Ravi Velloor (2020), “East Asia takes big leap of faith with RCEP”, The Straits Times, ngày 16/11/2020.

7 Nguyễn Thế Hồng (2013), Nhìn lại một số thách thức đối với tiến trình liên kết an ninh khu vực Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (82), tháng 3/2013.


Tài liệu tham khảo:

1. Charmaine Ng: “Singapore among 15 nations to sign world’s largest trade pact”, The Straits Times, ngày 16/11/2020.

2. Ravi Velloor: “East Asia takes big leap of faith with RCEP”, The Straits Times, ngày 16/11/2020.

3. “ASEAN sẽ trở thành trung tâm tài chính quốc tế của Hàn Quốc”, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/asean-se-tro-thanh-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-cua-han-quoc-323055.html, ngày 18/5/2020.

4. Regional Economic Cooperation in Asia: Current Situation and Future Prospects. Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (ESCAP), World Economic and Social Survey, 2010.

5. Razeen Sally (2010), Regional Economic Integration in Asia: The Track Record and Prospects, European Centre for International Political Economy (ECIPE), 2010.

6. Phạm Thị Thanh Bình (2008), Cộng đồng Đông Á: Vai trò, tiến trình thành lập và những thách thức, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10, tháng 10.

7. Barry Desker (2015), Hội nhập ASEAN vẫn còn là ảo vọng, East Asia Forum, 02/04/2015.

8. John Wong (2012), East Asian Economic Cooperation: Lessons for South American Regionalism, East Asian Institute Working Paper N 160, National University of Singapore, 2012.

9. Triển vọng hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC) và vai trò của ASEAN, Theo Trung Tâm thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội quốc gia (NCEIF) ngày 23/7/2015. (http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/trienvonghinhthanhcongdong-nd-1624.html).

10. Nguyễn Thế Hồng (2013), Nhìn lại một số thách thức đối với tiến trình liên kết an ninh khu vực Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (82), tháng 3/2013.



PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

PGS., TS. Vũ Văn Hà (Đại học Đại Nam)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Xem thêm
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng