Nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng trong việc phát triển “Tam nông” - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động ngân hàng
“Tam nông” là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi trọng từ xưa tới nay. Trong thời gian qua, rất nhiều nghị quyết, quyết định đã được Đảng và Nhà nước ban hành để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
aa

Tóm tắt: “Tam nông” là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi trọng từ xưa tới nay. Trong thời gian qua, rất nhiều nghị quyết, quyết định đã được Đảng và Nhà nước ban hành để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và áp dụng các cơ chế mở, bình đẳng giúp nông dân tiếp cận vốn thuận lợi, từ đó thúc đẩy sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống, phát triển kinh tế đất nước, trong đó đặc biệt chú trọng đến các chính sách tín dụng và ưu đãi sản xuất nông nghiệp cho nông dân ở nông thôn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì chính sách tín dụng phát triển “Tam nông” vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng phát triển “Tam nông”, đánh giá thực trạng chính sách tín dụng phát triển “Tam nông” hiện nay và từ đó, đề xuất một số giải pháp khắc phục, hoàn thiện.

Từ khóa: Chính sách tín dụng, “Tam nông”, hiệu quả, thực trạng, giải pháp.

IMPROVING THE EFFECTIVENESS OF CREDIT POLICY IN THE DEVELOPMENT OF AGRICULTURE, FARMERS AND RURAL AREAS - THE CURRENT SITUATION AND SOME RECOMMENDATIONS

Abstract: Agriculture, farmers and rural areas have so far been paid attention by the Party and the State. Many resolutions and decisions have been issued by the Party and the State to promote the development of agriculture, farmers and rural areas. In addition, our Party and State have developed and applied open and equal mechanisms to help farmers access capital conveniently, thereby promoting production, transforming crop structure, raising incomes and improving life, developing the country’s economy in which credit policies and incentives for agricultural production for farmers in rural areas have been paid special attention. However, besides the achievements, there are still certain limitations in the credit policies of the development of agriculture, farmers and rural areas. The article focuses on analyzing and clarifying the necessity of improving the effectiveness of credit policies in the development of agriculture, farmers and rural areas, assessing the current situation of credit policy in the development of agriculture, farmers and rural areas and thereby proposing recommendations.

Keywords: Credit policy; agriculture, farmers and rural areas; efficiency; current situation; solutions.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu phát triển đất nước: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Hướng đến mục tiêu trở thành nước công nghiệp gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì điểm tựa cho mục tiêu trên chính là phát triển kinh tế nông nghiệp với nông dân trên địa bàn nông thôn. Nông nghiệp Việt Nam được xem là nguồn lực lớn của quốc gia, là nền tảng để các ngành, nghề, lĩnh vực khác phát triển. Với vai trò là ngành kinh tế truyền thống có thế mạnh lâu đời và vai trò quan trọng bậc nhất của đất nước trong cả chiều dài lịch sử, Đảng ta nhận thức đúng đắn về đầu tư cho ngành nông nghiệp Việt Nam với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với nhiều chủ trương và giải pháp. Để kích thích sản xuất, tạo công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thì vai trò của tín dụng và ưu đãi trong sản xuất nông nghiệp là vô cùng quan trọng. Cơ chế tạo điều kiện để người nông dân được tiếp cận nguồn vốn đã giúp nhiều hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo điều kiện thực tế, mở rộng hoạt động sản xuất để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, hình thành vùng chuyên canh phù hợp với tự nhiên của mỗi vùng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách về tín dụng vẫn còn một số hạn chế, cùng với điều kiện đặc thù của từng vùng, miền và sức ép lớn về vốn đã đặt ra những vấn đề cần được quan tâm, giải quyết kịp thời. Vì vậy, việc đưa ra những giải pháp dựa trên thực trạng góp phần gợi mở về các chính sách tín dụng trong nông nghiệp hiện nay là vô cùng cấp bách, nhằm tối ưu hóa lợi ích của những chủ trương lớn đối với người nông dân trong việc tiếp cận về vốn.

2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng trong việc phát triển “Tam nông”

Chính sách tín dụng phát triển “Tam nông” đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm ngay từ khi thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010. Nhờ chính sách đầu tư đúng đắn của Nhà nước, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta đã có chuyển biến đáng kể. Trong quá trình đó, tín dụng ngân hàng đã góp phần không nhỏ thông qua việc cho vay vốn thúc đẩy kinh tế phát triển1. Việc nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng trong phát triển “Tam nông” là cần thiết và được thể hiện như sau:

Một là, chính sách tín dụng hiệu quả sẽ giúp tăng cường đầu tư trong nông nghiệp, hướng đến thực hiện chính sách “Tam nông” đạt kết quả tích cực

Chính sách tín dụng cung cấp nguồn vốn cho nông dân, cho phép người dân đầu tư vào sản xuất. Nguồn vốn có thể được sử dụng để mua giống cây trồng và vật nuôi chất lượng cao, giúp nâng cao năng suất và bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc lựa chọn giống cây trồng và vật nuôi phù hợp không chỉ làm tăng sản lượng mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Hơn nữa, chính sách hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng sẽ cho phép nông dân đầu tư vào công nghệ và thiết bị hiện đại, từ máy móc canh tác đến hệ thống tưới tiêu tự động. Sự hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp không chỉ tiết kiệm chi phí nhân công, lao động mà còn tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nông sản của Việt Nam ở trong và ngoài nước. Đặc biệt, khi người dân đã có nguồn vốn ổn định thì có thể thực hiện các biện pháp canh tác bền vững, ít tác động xấu đến môi trường, từ đó bảo vệ môi trường và duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

Thực tế cho thấy, nhờ triển khai đồng bộ chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, các chương trình tín dụng đặc thù mà một số tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong việc phát triển nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân, hướng đến xây dựng nông thôn mới.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tính đến cuối năm 2023, tổng dư nợ cho vay lĩnh vực lúa gạo đạt khoảng 103.000 tỉ đồng, tăng khoảng 9% so với năm trước. Trên phạm vi cả nước, cũng tính đến thời điểm này, hệ thống các ngân hàng đã cho vay gần 200.000 tỉ đồng đối với sản xuất, chế biến và xuất khẩu lúa gạo. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng cung ứng nhiều vốn nhất cho lĩnh vực lúa gạo. Tín dụng cho lúa gạo của Agribank trong các năm 2021 - 2023 tăng đều đặn khoảng 2.000 tỉ đồng mỗi năm. Chỉ tính riêng 13 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Agribank đã cho vay khoảng 58.000 tỉ đồng đối với các hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu lúa gạo2. Nhờ chính sách tín dụng mà nhiều nông dân trong khu vực này đã được hỗ trợ vay vốn từ NHCSXH để mua giống lúa mới, thiết bị tưới tiêu hiện đại. Từ đó, năng suất lúa đã tăng từ 5 - 6 tấn/héc-ta lên 7 - 8 tấn/héc-ta.

Việc áp dụng công nghệ mới giúp giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân. Như vậy, một chính sách tín dụng hiệu quả không chỉ tạo điều kiện cho nông dân đầu tư vào sản xuất mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Hai là, chính sách tín dụng giúp nông dân giảm rủi ro về tài chính

Chính sách tín dụng dành cho nông dân không chỉ đơn thuần là cung cấp vốn mà còn là một công cụ chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính trong sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh nông dân thường xuyên phải đối mặt với nhiều bất ổn như thiên tai, dịch bệnh hay biến động giá cả, việc có được nguồn vốn ổn định và kịp thời trở thành yếu tố quyết định giúp duy trì sản xuất và cuộc sống.

Một trong những điểm nổi bật đối với chính sách tín dụng là mức lãi suất ưu đãi đối với các hộ nông dân, cá nhân. Trong năm 2024, NHNN điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng, lãi suất góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, qua đó tạo thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, như quy định chính sách trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND thấp hơn đối với các lĩnh vực ưu tiên (trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn) và chính sách khuyến khích TCTD đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua tái cấp vốn hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, giảm hệ số rủi ro đối với các khoản vay vốn trong lĩnh vực này. NHNN cũng tích cực triển khai nhiều chương trình, chính sách tín dụng phục vụ phát triển một số ngành, lĩnh vực đặc thù trong nông nghiệp. Những khoản vay với lãi suất thấp giúp nông dân giảm gánh nặng chi phí, cho phép họ tập trung vào việc đầu tư cho công nghệ mới, giống cây trồng chất lượng, hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Nhờ vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng cao, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Bên cạnh mức lãi suất thấp, các chương trình hỗ trợ bảo hiểm tín dụng cũng rất cần thiết. Trong bối cảnh thiên tai xảy ra thường xuyên như bão, lũ lụt, hạn hán... bảo hiểm trở thành công cụ tài chính giúp giảm thiểu rủi ro và khôi phục kinh tế. Bảo hiểm Agribank (ABIC) có vai trò bảo vệ người nông dân và các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp trước rủi ro về thời tiết và thiên tai. Với 95% khách hàng là người nông dân, vai trò của ABIC càng trở nên cần thiết3.

Tóm lại, chính sách tín dụng không chỉ là giải pháp tài chính mà còn là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển nông nghiệp toàn diện. Việc giảm thiểu rủi ro tài chính cho nông dân thông qua các chính sách này không chỉ mang lại lợi ích cho từng cá nhân mà còn cho cả nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Ba là, thông qua chính sách tín dụng sẽ tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính

Chính sách tín dụng trong phát triển “Tam nông” giúp tạo nên sự kết nối bền vững khi nông dân, doanh nghiệp và tổ chức tài chính liên kết, tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp phát triển và bền vững, nông dân trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, còn các tổ chức tài chính phát triển bền vững với một danh mục đầu tư đa dạng hơn. Khi ba bên hoạt động hợp tác hiệu quả, không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn tạo ra những tác động tích cực đến xã hội và môi trường. Như vậy, chính sách tín dụng là cầu nối quan trọng giúp gắn kết nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính. Khi mỗi bên đều nhận được lợi ích từ mối liên kết này, sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp và nền kinh tế sẽ trở nên khả thi hơn bao giờ hết. Sự hợp tác chặt chẽ giữa ba bên không chỉ thúc đẩy hiệu quả kinh tế mà còn góp phần xây dựng một cộng đồng nông thôn phát triển tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

3. Một số hạn chế trong thực thi chính sách tín dụng để phát triển “Tam nông” hiện nay

Bên cạnh những khía cạnh tích cực đạt được, vấn đề áp dụng và thực thi chính sách tín dụng trong việc phát triển “Tam nông” hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, điều này được thể hiện qua những khía cạnh sau:

Thứ nhất, thủ tục cho vay và tài sản bảo đảm đối với các khoản vay còn phức tạp

Nhiều ngân hàng thường yêu cầu tài sản cố định như nhà cửa, đất đai để bảo đảm cho khoản vay. Tuy nhiên, nhiều hộ nông dân không có đủ tài sản hợp lệ để đáp ứng yêu cầu này. Thực tế, nhiều hộ nông dân sử dụng đất canh tác cho sản xuất nhưng lại không có quyền sở hữu hợp pháp hoặc chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này khiến cho người nông dân không thể sử dụng đất đai làm tài sản bảo đảm mặc dù giá trị thực tế của mảnh đất có thể lớn hơn giá trị của khoản vay. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự không đồng bộ trong quy định về quyền sử dụng đất và các quy trình cấp giấy chứng nhận. Nhiều địa phương vẫn chưa hoàn thiện hệ thống quản lý đất đai, dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kéo dài, gây khó khăn cho nông dân trong việc chứng minh quyền sở hữu tài sản khi vay vốn. Tình trạng này không chỉ làm giảm khả năng tiếp cận vốn mà còn tạo ra sự chậm trễ trong quá trình phát triển sản xuất.

Thứ hai, đầu tư tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro

Về cơ bản, kinh tế nông nghiệp Việt Nam vẫn còn là nền nông nghiệp quảng canh, quản trị theo hình thái tiểu nông nên rủi ro cao và hiệu quả kinh tế còn thấp, giá trị của các loại nông sản và hàng hóa chưa được phát triển tương xứng với kỳ vọng như còn thô về sản phẩm, thấp về chất lượng, tiêu tốn nhiều giá trị kinh tế, mức độ tập trung khoa học, kỹ thuật, cơ giới hóa sản phẩm còn thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm so với thị trường trong nước và thế giới còn kém. Ngoài ra, thị trường của ngành nông nghiệp ở Việt Nam còn chưa đa dạng, chủ yếu vẫn tập trung vào các thị trường truyền thống là Trung Quốc, Đông Nam Á; các thị trường yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu... vẫn còn là thách thức lớn đối với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, nước ta chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô, chưa qua chế biến nên giá cả vẫn ở mức thấp, đánh mất đi lợi thế cạnh tranh về chất lượng.

Mô hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhỏ lẻ, diện tích sản xuất, canh tác còn thấp so với thế giới, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ. Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ cho ngành nông nghiệp cũng chưa phát triển, đặc biệt là khâu chế biến sau khi thu hoạch, với công nghệ và trình độ còn hạn chế, khả năng vận hành chuỗi cung ứng từ vườn đến tay người tiêu dùng còn chưa ổn định luôn là những rủi ro lớn của các TCTD trong việc áp dụng các chính sách tín dụng có lợi cho người nông dân.

Bên cạnh đó, bản chất hoạt động kinh tế nông nghiệp vẫn gắn với điều kiện tự nhiên. Do đó, sự xuất hiện của thiên tai dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng cả về chất lượng lẫn số lượng sản phẩm nông nghiệp. Theo nghiên cứu và dự báo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPPC) và Ngân hàng Thế giới (WB), ở Việt Nam, nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu héc-ta đất tại Đồng bằng sông Hồng, 1,5 - 2,0 triệu héc-ta đất tại Đồng bằng sông Cửu Long. Những năm lũ lớn, khoảng trên 90% diện tích đất của Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4 - 5 tháng, trong đó chủ yếu là đất lúa bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể sản xuất4. Vì vậy, những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cũng là một rủi ro làm cho các TCTD e ngại khi đầu tư vào thị trường này.

Tất cả những rủi ro trên là thực trạng của kinh tế nông nghiệp Việt Nam, lý giải một phần vì sao hiệu quả kinh tế nông nghiệp chưa cao và đây cũng là lý do người nông dân bị thiệt hại lớn, dẫn đến có giai đoạn không thể trả nợ, cùng với hạn chế khả năng sử dụng và quản lý vốn đã ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng.

Thứ ba, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị chưa được tổ chức và phát triển hợp lý làm ảnh hưởng đến chính sách tín dụng của các ngân hàng

Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị giúp bảo đảm cho các chủ thể tham gia chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm với nhau, điều tiết cung - cầu thị trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị chưa được tổ chức và phát triển hợp lý đang tạo ra nhiều thách thức đối với chính sách tín dụng của các ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp vốn cho nông dân và doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Trước hết, một chuỗi giá trị nông sản không được tổ chức bài bản thường dẫn đến việc thiếu minh bạch thông tin. Các ngân hàng rất khó khăn trong việc đánh giá rủi ro tín dụng khi không có dữ liệu chính xác về tình hình sản xuất, chất lượng nông sản và nhu cầu thị trường. Nếu không có thông tin đầy đủ, các ngân hàng sẽ e ngại trong việc cấp tín dụng, dẫn đến nông dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Điều này làm hạn chế khả năng mở rộng sản xuất hoặc đầu tư vào các công nghệ mới, từ đó cản trở sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Thực tế cho thấy, nhiều chủ trang trại sử dụng vốn vay không đúng mục đích, đầu tư không đúng đối tượng nên hiệu quả mang lại không cao. Điển hình là tình trạng sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến mất cân đối nguồn vốn, không tạo được nguồn trả nợ vay cho ngân hàng. Thực trạng này đã khiến cho nhiều ngân hàng thiếu cơ sở vững chắc để tiếp tục triển khai gói cho vay đối với các hộ nông dân5.

Ngoài ra, sự thiếu liên kết giữa các bên trong chuỗi giá trị, bao gồm nông dân, nhà chế biến và nhà phân phối, làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Khi không có mối liên kết chặt chẽ, nông dân thường phải chịu thiệt thòi về giá cả và thị trường tiêu thụ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn làm tăng nguy cơ mất khả năng hoàn trả khoản vay. Ngân hàng gặp khó khăn trong việc dự đoán dòng tiền của khách hàng, gia tăng rủi ro trong các khoản cho vay. Hơn nữa, sự biến động của thị trường nông sản do chuỗi giá trị yếu kém cũng khiến ngân hàng phải điều chỉnh chính sách tín dụng một cách thận trọng hơn. Nếu thị trường nông sản không ổn định, ngân hàng có thể tăng lãi suất hoặc yêu cầu tài sản bảo đảm cao hơn, khiến cho nông dân càng khó tiếp cận vốn. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn: Sản xuất kém hiệu quả dẫn đến rủi ro tín dụng cao, làm cho ngân hàng ngần ngại trong việc cho vay, từ đó nông dân không có đủ nguồn lực để cải thiện sản xuất.

4. Một số giải pháp

Chính sách tín dụng trong phát triển “Tam nông” đã và đang có tác động tích cực đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân; tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định. Trên cơ sở những hạn chế đã phân tích, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa chính sách tín dụng trong phát triển “Tam nông”, cụ thể:

Thứ nhất, chính sách tín dụng cho “Tam nông” cần tinh giản các thủ tục làm hồ sơ vay vốn và tài sản bảo đảm.

Thời gian qua, NHNN đã chủ động, tích cực rà soát các cơ chế, chính sách về hoạt động tín dụng theo hướng giảm bớt các thủ tục, giấy tờ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng; đồng thời chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình nội bộ để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay nhưng vẫn bảo đảm an toàn vốn vay. Theo đó, các TCTD đã chủ động rà soát quy trình, thủ tục về cấp tín dụng, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn của khách hàng; giảm bớt đầu mối xử lý nội bộ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa, thay thế xử lý thủ công; tiếp tục cải tiến mô hình giao dịch một cửa... để giảm chi phí hoạt động, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ đối với khách hàng. Riêng đối với khu vực nông nghiệp nông thôn, các TCTD đã phát triển nhiều sản phẩm tín dụng, hình thức cấp tín dụng với quy trình thủ tục ngày càng đơn giản, thông qua việc áp dụng hình thức cho vay lưu vụ, cho vay qua sổ tín dụng, cho vay thông qua tổ, nhóm của các tổ chức chính trị - xã hội, triển khai ngân hàng lưu động xuống tận địa bàn để cho vay, thu nợ thay vì người dân phải đến trụ sở ngân hàng... với các thủ tục đơn giản, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này6. Với những chuyển mình tích cực như vậy, TCTD vẫn cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục vay vốn để các hộ dân có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng một cách dễ dàng và thuận tiện hơn nữa. Khi quy trình vay vốn càng trở nên đơn giản, người nông dân càng bớt phải đối mặt với những rào cản về giấy tờ, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, dễ dàng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Sự tiếp cận thuận lợi này cũng giúp hạn chế việc nông dân phải đi vay "tín dụng đen" với lãi suất cao. Đồng thời, việc áp dụng công nghệ số trong quy trình xét duyệt vay sẽ giúp tự động hóa nhiều bước, rút ngắn thời gian chờ đợi và tăng tính minh bạch. Đối với hình thức tài sản bảo đảm, có thể xem xét cân nhắc mở rộng hình thức tài sản bảo đảm, cho phép nông dân sử dụng tài sản động sản như máy móc nông nghiệp hoặc sản phẩm nông sản, để làm bảo đảm cho khoản vay. Điều này không chỉ tạo ra sự linh hoạt cho người vay mà còn giúp họ dễ dàng tiếp cận vốn mà không cần phải có tài sản cố định lớn. Đặc biệt, các TCTD có thể hợp tác với chính quyền địa phương để thiết lập các quỹ bảo lãnh, hỗ trợ người vay trong trường hợp thiếu tài sản bảo đảm. Những cải cách này sẽ không chỉ nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong cộng đồng nông thôn.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp trên từng địa bàn để xây dựng dự án đầu tư vốn vào từng đối tượng vay, phù hợp với quy hoạch của địa phương.

Để xây dựng dự án đầu tư vốn hiệu quả cho từng đối tượng vay, việc quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp cần được triển khai một cách chi tiết và đồng bộ trên từng địa bàn. Trước tiên, các cơ quan chức năng và địa phương cần thực hiện khảo sát kỹ lưỡng để nắm bắt điều kiện tự nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng của từng khu vực, từ những dữ liệu này có thể xác định các loại cây trồng và vật nuôi phù hợp, giúp tối ưu hóa năng suất và chất lượng sản phẩm. Kết hợp với đó, chính quyền địa phương nên khuyến khích hình thành các hợp tác xã, tạo điều kiện cho nông dân liên kết, chia sẻ kinh nghiệm và giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, chi nhánh NHCSXH, ngân hàng thương mại hoặc TCTD nơi cho vay cần chú trọng phối hợp với các đơn vị liên quan cùng cấp và chính quyền địa phương cấp xã để thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch tín dụng chính sách hằng năm cũng như cho cả giai đoạn. Các chi nhánh sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để điều tiết nguồn vốn cho vay một cách phù hợp với nhu cầu của các cơ sở sản xuất và kinh doanh tại các xã, phường, thị trấn. Các chủ thể cho vay cần có sự nắm bắt kịp thời, sát sao kế hoạch giải ngân, thu nợ tại từng địa bàn cấp huyện, cấp xã theo từng tháng, từng quý, nắm bắt thời vụ sản xuất chính của khách hàng theo từng địa bàn, để có cơ sở điều hành linh hoạt chỉ tiêu kế hoạch cho vay tại từng địa phương.

Thứ ba, tăng cường tính liên kết của chuỗi giá trị thông qua việc hình thành mô hình chuỗi giá trị địa phương gắn với đa dạng hóa các nguồn vốn và sản phẩm tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Việc đa dạng hóa nguồn vốn, bao gồm các quỹ tín dụng xã hội, quỹ phát triển nông thôn và các chương trình hợp tác quốc tế sẽ giúp nông dân tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn tài chính cần thiết để đầu tư vào công nghệ, giống cây trồng và cải tiến quy trình sản xuất. Cụ thể, khi xây dựng chuỗi giá trị địa phương, các bên liên quan có thể phối hợp chặt chẽ để tối ưu hóa quy trình sản xuất đến tiêu thụ nông sản, điều này không những nâng cao giá trị sản phẩm mà còn giúp tiết kiệm chi phí sản xuất. Mô hình này sẽ khuyến khích người tiêu dùng trong việc tiêu thụ sản phẩm địa phương, từ đó tăng sức mua và tạo động lực cho sản xuất. Chuỗi giá trị trong nông nghiệp và hoạt động tín dụng tạo ra tăng trưởng có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm cho lợi ích của các bên tăng lên, gắn với hợp tác và phát triển bền vững. Chính việc tạo ra chuỗi giá trị nông nghiệp giúp mở rộng quy mô dư nợ, tạo mối quan hệ sâu sắc với các tác nhân trong và ngoài chuỗi giá trị, tạo sự bảo đảm trong quá trình xử lý nợ của các TCTD. Thực tế, nhu cầu vay vốn tín dụng theo các chuỗi giá trị nông nghiệp để phát triển vùng nguyên liệu ngày càng lớn và đa dạng hướng đến sản xuất các hàng hóa chủ lực, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Để có thể tăng cường tính liên kết của chuỗi giá trị thông qua việc hình thành mô hình chuỗi giá trị địa phương gắn với đa dạng hóa các nguồn vốn, sản phẩm tín dụng cho phát triển nông nghiệp và nông thôn cần mở rộng các điều kiện về tiếp cận vốn, đa dạng nguồn vốn được tiếp cận. Chính phủ và NHNN có thể hỗ trợ giảm thêm lãi suất và phí giải ngân, cung cấp những hoạt động hỗ trợ tín dụng, quản trị rủi ro, quản trị dòng vốn, hướng dẫn người dân sử dụng dòng vốn hợp lý. Ngoài ra, cần đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng nông nghiệp phù hợp với mùa vụ sản xuất của từng chuỗi giá trị nông nghiệp, phát triển thêm các hình thức vay theo nhóm, nhóm liên kết và cho vay chuỗi liên kết sao cho phù hợp với điều kiện mùa vụ. Đặc biệt là đa dạng hóa nguồn vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài vào hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.

Ngoài ra, để thực hiện chính sách cho vay theo chuỗi một cách hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiếp tục đồng hành cùng với hệ thống ngân hàng xây dựng một khung thống nhất các quy trình sản xuất của từng chuỗi giá trị để tạo thuận lợi đối với việc cho vay của ngân hàng. Song song với đó, cần phải tăng cường hỗ trợ và phát triển bảo hiểm nông nghiệp gắn với tín dụng chuỗi giá trị cho một số sản phẩm nông nghiệp trong các vùng nguyên liệu sản xuất hàng hóa tập trung.

5. Kết luận

Chính sách tín dụng đóng vai trò then chốt trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, bởi chính sách tín dụng hiện nay không những góp phần cải thiện sản xuất mà còn nâng cao mức sống cho người nông dân. Thực hiện chính sách tín dụng trong phát triển “Tam nông” không chỉ là một công cụ tài chính đơn thuần mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn. Thực tế cũng đã chứng minh sự cần thiết của việc thực hiện chính sách tín dụng trong quá trình phát triển “Tam nông”. Chính sách này giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn, cải thiện đời sống nông dân và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, nó còn khuyến khích việc áp dụng các mô hình sản xuất hiện đại và thân thiện với môi trường, từ đó tạo ra giá trị gia tăng cho nông sản và đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tín dụng này vẫn còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định như đã phân tích, vì vậy, để đạt được hiệu quả tối ưu, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, từ chính quyền, ngân hàng đến người nông dân trong việc đưa ra các giải pháp cần thiết nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc của việc thực hiện chính sách này để từ đó thúc đẩy “Tam nông” phát triển nhanh và bền vững.

1 Đỗ Xuân Trường (2008), Hoạt động tín dụng với phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/862/hoat-dong-tin-dung-voi-phat-trien-kinh-te-trong-nong-nghiep%2C-nong-thon.aspx
2 Thạch Bình (2023), Tín dụng thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tbnh/tbnh_chitiet?centerWidth=80%25&dDocName=SBV577483&leftWidth=20%25&rightWidth=0%25&showFooter=false&showHeader=false&_adf.ctrl-state=a8o8556m4_62&_afrLoop=11630492296464850#!
3 PV (2024), Bảo hiểm phát huy vai trò tấm lá chắn tài chính trước thiệt hại do thiên tai, https://thoibaonganhang.vn/bao-hiem-phat-huy-vai-tro-tam-la-chan-tai-chinh-truoc-thiet-hai-do-thien-tai-155751.html
4 VH (2023), Ngành nông nghiệp chịu tác động trước biến đổi khí hậu, https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nganh-nong-nghiep-chiu-tac-dong-truoc-bien-doi-khi-hau-652330.html
5 Đinh Tấn Phong (2023), Tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận chính sách tín dụng phát triển sản xuất của nông dân, https://thitruongtaichinhtiente.vn/thao-go-kho-khan-trong-tiep-can-chinh-sach-tin-dung-phat-trien-san-xuat-cua-nong-dan-52816.html
6 Ngô Hải (2021), Ưu tiên vốn cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, https://thitruongtaichinhtiente.vn/uu-tien-von-cho-vay-phuc-vu-phat-trien-nong-nghiep-nong-thon-33251.html

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

3. Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4. Ngô Hải (2021), Ưu tiên vốn cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, https://thitruongtaichinhtiente.vn/uu-tien-von-cho-vay-phuc-vu-phat-trien-nong-nghiep-nong-thon-33251.html

5. PV (2024), Bảo hiểm phát huy vai trò tấm lá chắn tài chính trước thiệt hại do thiên tai, https://thoibaonganhang.vn/bao-hiem-phat-huy-vai-tro-tam-la-chan-tai-chinh-truoc-thiet-hai-do-thien-tai-155751.html

6. Đinh Tấn Phong (2023), Tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận chính sách tín dụng phát triển sản xuất của nông dân, https://thitruongtaichinhtiente.vn/thao-go-kho-khan-trong-tiep-can-chinh-sach-tin-dung-phat-trien-san-xuat-cua-nong-dan-52816.html

7. Đỗ Xuân Trường (2008), Hoạt động tín dụng với phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn,

https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-

cu/-/2018/862/hoat-dong-tin-dung-voi-phat-trien-kinh-te-trong-nong-nghiep%2C-nong-thon.aspx

8. VH (2023), Ngành nông nghiệp chịu tác động trước biến đổi khí hậu, https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nganh-nong-nghiep-chiu-tac-dong-truoc-bien-doi-khi-hau-652330.html


ThS. Trịnh Tường Khiêm (Trường Đại học Văn hiến)

Nguyễn Thị Thảo My, Trần Đại Nghĩa (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Xem thêm
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam