Mạng xã hội tích hợp dịch vụ thanh toán và công nghệ sổ cái phân tán

Công nghệ & ngân hàng số
Mặc dù sự phát triển tích cực trên nền tảng điện tử, công nghệ thông tin, số hóa, sử dụng công nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology - DLT) mang lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng và c...
aa

Mặc dù sự phát triển tích cực trên nền tảng điện tử, công nghệ thông tin, số hóa, sử dụng công nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology - DLT) mang lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính, tuy nhiên, việc sử dụng DLT hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn...

Bên cạnh đó, mạng xã hội tích hợp các dịch vụ thanh toán với lượng khách hàng khổng lồ và triển vọng của các công ty Fintech được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính quan tâm. Bài viết phân tích những vấn đề cấp bách của việc phát triển các dự án về dịch vụ tài chính dựa trên sự kết hợp giữa các khả năng của mạng xã hội hiện có và DLT, từ đó, đưa ra các phương thức và công cụ tạo cơ hội cạnh tranh, hợp tác của các ngân hàng với đối thủ mới.

1. Tiềm năng phát triển của mạng xã hội tích hợp DLT

Mạng xã hội tạo ra các hệ thống chuyển tiền C2C (Customer to Customer) cá nhân như Yandex.Money, Paypal, Yandex.Checkout, thanh toán qua Telegram Bots... với tốc độ tăng trưởng lên đến 1000% mỗi năm. Chức năng giao dịch thông qua các ngân hàng đối với người dùng mạng xã hội đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nơi trên thế giới, có thể kể đến như Quỹ Hỗ trợ Tài chính khoa học Nga với sự đồng tài trợ của Ngân hàng Saint Petersburg thông qua các mạng xã hội Vkontakte, Odnoklassniki...

Yếu tố quan trọng để phát triển mạng xã hội tích hợp DLT là tốc độ tăng trưởng nhanh chóng về doanh thu thương mại điện tử, các mô hình kinh doanh C2B (Consumer to Business). Hiện nay, các công nghệ tài chính thế hệ mới như tiền điện tử trong các hệ thống giao dịch dựa trên DLT, chủ yếu là Blockchain cũng đã, đang được các tổ chức quan tâm và phát hành, đồng thời được cộng đồng người tiêu dùng công nhận, ví dụ như Telegram (Công ty hợp doanh trách nhiệm hữu hạn ở Anh và Mỹ) đã giới thiệu đồng Gram để trao đổi giữa những người tham gia; Facebook đã tạo ra đồng Diem (trước đây có tên là Libra); mạng sổ cái phân tán Calibra... Đây cũng là xu hướng phát triển của một lĩnh vực dịch vụ tài chính mới tích hợp trên mạng xã hội cùng những thách thức đặt ra đối với lĩnh vực ngân hàng. Các DLT và việc sử dụng tiền điện tử làm công cụ để thực hiện thanh toán, chuyển tiền giữa các thành viên của mạng xã hội mang lại lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng về thu nhập. Các ngân hàng cần đánh giá các đặc điểm kỹ thuật và tiếp thị của các đối thủ cạnh tranh mới để tạo ra phản ứng thích hợp.

Một trong các đối thủ cạnh tranh tiềm năng mới của các ngân hàng đó là sự tích hợp ba công nghệ trao đổi thông tin: Mạng xã hội, hệ thống thanh toán (Payment System - PS) và DLT. Mỗi thành phần trong số đó có các thuộc tính đặc biệt, cung cấp giải pháp hiệu quả và tự chủ trong các nhiệm vụ cụ thể:

- PS là một cơ chế trao đổi dữ liệu chuyên biệt cao, cung cấp sự bình đẳng giữa những người tham gia tiếp cận dịch vụ, sự hiện diện của một nhà điều hành (trung tâm, cơ quan quản lý) chịu trách nhiệm về việc thực hiện giao dịch, giải quyết các xung đột, cả về kỹ thuật và pháp lý về cách tiếp cận và lợi ích của những người tham gia, tốc độ thực hiện các hoạt động, phí của các dịch vụ thanh toán...

- Mạng xã hội là một phương tiện truyền thông đại chúng, cung cấp hồ sơ của các nhóm người dùng theo các phân khúc sở thích. Mạng xã hội đang nhanh chóng chuyển đổi từ một công cụ để trao đổi dữ liệu công nghệ cao sang lĩnh vực giải trí. Thành phần lợi ích khác nhau của các thành phần xã hội sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống thanh toán tích hợp trong dự án thương mại.


- DLT là một hệ thống trao đổi dữ liệu, cung cấp cho trung tâm quản lý hành chính chịu trách nhiệm thực hiện các hành động giữa những người tham gia, lưu trữ, bảo mật đa dạng dữ liệu, thuật toán xác minh giao dịch (đồng thuận) có thể điều chỉnh sự bất bình đẳng, mối đe dọa quyền tập trung đối với một số lượng hạn chế người tham gia, những người sở hữu một phần lớn số dư, rủi ro biến động của tiền điện tử nội bộ...

2. Vấn đề hội nhập

Lợi thế cạnh tranh của mạng xã hội là số lượng lớn người dùng tiềm năng được thống nhất bởi mục đích chung do người tạo ra và người tham gia, ví dụ người dùng các dịch vụ tài chính trên mạng Facebook bị thu hút vào dự án dịch vụ thanh toán dựa trên tiền điện tử Diem cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ Visa, MasterCard, PayPal, Uber, eBay, Farfetch...

Mỗi giao dịch trên Blockchain được xác minh bởi thuật toán đồng thuận, về bản chất, nó thực thi chức năng trung gian, chịu một số rủi ro của liên kết ban đầu và cuối cùng của giao dịch thanh toán. Tùy chọn xây dựng thuật toán xác minh giao dịch là một dấu hiệu nổi bật của mỗi dự án quản lý sổ cái phân tán. Trong thuật toán đồng thuận, các nút mạng (người tham gia) có thể đóng vai trò quyết định, ảnh hưởng đến tốc độ giao dịch trong hệ thống, càng ít người thì càng nhanh và ngược lại. Đã có rất nhiều cơ chế đồng thuận (PoW, PoS, PoA...) chứng minh khả năng thích ứng DLT với các nhiệm vụ riêng tư (ưu tiên) của việc quản lý một sổ cái phân tán. Tuy nhiên, sự thỏa hiệp giữa tốc độ và phân quyền, xác minh nút mạng là không thể tránh khỏi, do đó, thanh toán tức thì trên Blockchain vẫn chưa thành hiện thực. Đây là một mâu thuẫn đáng kể giữa nhu cầu của một dịch vụ thanh toán và khả năng của DLT, vốn gắn bó chặt chẽ với các thuộc tính khách quan của sổ cái phân tán. Khả năng nhận ra những rủi ro như vậy cũng đang được xem xét cho một dự án đầy hứa hẹn tích hợp mạng xã hội, tính toán mạng ngang hàng P2P (Peer to Peer) và tiền điện tử.

Phần lớn các mạng xã hội thúc đẩy người dùng của họ tham gia vào cuộc đua cá nhân về số lượng người đăng ký, theo dõi, lượt xem..., đó là một phần không thể thiếu của văn hóa mạng xã hội. Vì vậy, các nhóm, các tầng lớp người dùng với các cấp (level) khác nhau được hình thành, được sử dụng, đặc biệt để kiểm soát dư luận, những điều này khác với chức năng, nhiệm vụ của ngành tài chính. Hoạt động chuyển tiền xuyên biên giới đa tiền tệ được yêu cầu bởi những người tham gia mạng xã hội đòi hỏi phải tính đến các khuôn khổ luật pháp và quy định kiểm soát tiền tệ, vì vậy, tính chuyên nghiệp của các ngân hàng, với tư cách là những người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ là một lợi thế khách quan. Tuy nhiên, chính tiền điện tử, với doanh thu bị quản lý lỏng ở cấp độ quốc tế có thể cho phép các mạng xã hội thúc đẩy hệ thống thanh toán riêng của họ, mặc dù là tạm thời trong thị trường này.

Truyền thông tương tác thực trên mạng xã hội có thể tạo cơ sở cho sự tin tưởng bổ sung giữa các bên trong giao dịch thanh toán. Mạng xã hội đã tích lũy một lượng lớn dữ liệu đa dạng về người dùng, bao gồm cả các mối quan hệ và đặc điểm hành vi của họ. Các nhà khai thác mạng có thể hệ thống hóa dữ liệu này và xử lý để tạo ra các thuộc tính xác thực người dùng. Các ngân hàng cũng đã sử dụng kênh thông tin này để xác minh, sàng lọc người vay, coi mạng xã hội là nhà cung cấp nguồn dữ liệu liên quan đến khía cạnh tài chính của khách hàng. Đây là yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển các dịch vụ tài chính trong mạng xã hội, cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng, nhưng không phải trong lĩnh vực phân phối thu nhập, mà là lĩnh vực khả năng tiếp cận thông tin để ra quyết định.

Một cách để có thể giảm thiểu mâu thuẫn giữa các thuộc tính khách quan của các phần dự án trong quá trình tích hợp là duy trì quyền tự chủ của các dịch vụ tài chính trong một hệ thống đa lớp được phát triển để trao đổi thông tin trên mạng xã hội. Chức năng thanh toán có thể tồn tại như một ứng dụng theo yêu cầu (app on demand), bỏ qua các thuộc tính phi tài chính của môi trường mạng xã hội, các luồng thông tin không liên quan như câu chuyện, ảnh, video, âm nhạc, thư rác... Ví dụ, Venmo (một dịch vụ thanh toán di động thuộc sở hữu của PayPal) là một trong các ứng dụng sử dụng mạng xã hội để gửi thông báo thanh toán. Venmo đồng bộ hóa ví điện tử của người dùng với tài khoản Facebook và tự động chuyển đổi các giao dịch được cam kết thành trạng thái Facebook. Tuy nhiên, với sự phát triển của dịch vụ tài chính theo hướng này, hình thức sử dụng sẽ không khác nhiều so với việc sử dụng các ứng dụng thanh toán Fintech khác, thậm chí so với các dịch vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại sẽ khó có khả năng cạnh tranh. Các ngân hàng vẫn giữ được lợi thế của mình bằng cách sử dụng cách tiếp cận bên thứ ba để thu hút người tiêu dùng mới từ nguồn người dùng khổng lồ mạng xã hội. Một số ngân hàng đã giới thiệu cơ chế giao diện lập trình ứng dụng (API) để chấp nhận đơn đăng ký các sản phẩm trên các mạng xã hội như VKontakte, Telegram, Viber, thậm chí Gazprombank đã trở thành đồng sở hữu của Vkontakte phát triển cùng với các đối tác công nghệ triển khai hệ thống thanh toán Vkontakte Pay.

Ngoài những người đại diện bởi các nhà sản xuất và mạng lưới thương mại lớn nhất hình thành thị trường B2C trên mạng xã hội, bản thân các mạng này cũng đang tích cực phát triển thị trường C2C nội bộ của họ. Kết hợp với sự phát triển rất nhanh chóng của thị trường cùng sự hỗ trợ của nhà nước, các ngân hàng nhận được một công cụ cạnh tranh mạnh mẽ với mạng xã hội trong lĩnh vực giao dịch chuyển khoản.

3. Đánh giá

Hoạt động của các dịch vụ tài chính trong môi trường mạng xã hội hiện nay dựa trên các công nghệ hiện đại, trong đó các ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian chính. Sự phát triển của các dịch vụ này trên mạng xã hội kích thích, hấp dẫn người tiêu dùng về các dịch vụ đa dạng. Mức độ bao phủ toàn cầu của mạng xã hội cho phép sự gia tăng nhanh chóng trong doanh thu của các dịch vụ tài chính trên nền tảng này.


Việc tích hợp mạng xã hội và DLT hiện tại khó có thể kích thích tăng trưởng doanh thu về dịch vụ thanh toán. Điều này là do về mặt công nghệ, Blockchain chưa mang lại lợi thế rõ ràng trong các hoạt động thanh toán hoàn chỉnh của tiền pháp định có giá trị xác lập bởi chính phủ. Tuy nhiên, việc chuyển đổi mạng xã hội đi kèm một loại tiền điện tử nội bộ, chỉ lưu hành trong mạng đó sẽ cho phép lưu thông tiền tệ dưới sự kiểm soát của chính nhà điều hành. Nếu các quản trị mạng tạo ra sự liên kết được cấp phép của riêng mình, sẽ tước đi thu nhập của các ngân hàng thương mại được tạo ra bởi lượng lớn người dùng mạng xã hội.

Các ngân hàng thương mại cần lựa chọn các phương thức và công cụ cạnh tranh hoặc hợp tác với các đối thủ mới. Có thể kể đến các lựa chọn cho hành vi như:

- Phát triển công nghệ dịch vụ tài chính - ngân hàng có thế mạnh về mạng xã hội: Giao diện người dùng đơn giản, thân thiện, tốc độ thực thi nghiệp vụ cao, bảo mật dữ liệu cá nhân, cá nhân hóa dịch vụ...

- Phát triển các dịch vụ mạng xã hội trong cơ sở dữ liệu khách hàng của mình dựa trên sự tin tưởng, lượng người dùng ngày càng tăng của ngân hàng di động, dịch vụ thông tin liên lạc để chuyển tiền.

- Phát triển các dịch vụ ngân hàng tích hợp vào mạng xã hội, mang lại lợi ích cho nhà điều hành mạng về chi phí giao dịch, dịch vụ được cấp phép cho người dùng và cơ quan quản lý kiểm soát các tiêu chuẩn KYC, AML.

- Hình thành kiến ​​thức và kỹ năng trong doanh thu thị trường tiền điện tử, để giảm thiểu rủi ro khi giới thiệu DLT trong lĩnh vực tài chính. Sự lựa chọn con đường được xác định bởi các yêu cầu của chủ sở hữu các ngân hàng thương mại.

DLT hiện đang gặp khó khăn trong sự phát triển của các dịch vụ tài chính trên mạng xã hội do những mâu thuẫn khách quan về các đặc điểm chức năng của mạng, dịch vụ thanh toán và Blockchain. Tuy nhiên, tiềm năng đã hình thành dựa trên số lượng người dùng sẵn có, vốn tài chính tích lũy và các khả năng cao khác để tạo ra cấu trúc ngân hàng của riêng mình là một mối đe dọa cạnh tranh thực sự đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại truyền thống. Các đặc điểm định lượng và chất lượng của các nhà điều hành khu vực tài chính đang thay đổi nhanh chóng, do đó, về bản chất, các ngân hàng phải tìm kiếm vị trí mới của mình, đề xuất các phương án phát triển trong cơ chế phân phối lại các dòng tài chính của mình để tiếp tục tồn tại và phát triển.

Tài liệu tham khảo:

1. How Gref promised to take his breakfast from Google and Amazon. RBC Strategy 2020.

2. Mabona Don, The growth of social media payment services, 2019.

3. Kuzmina A. The future of payments: taking a closer look at social networks, 2019.

4. Eremina Anna, Kantyshev Pavel, Petrova Olga, “The Central Bank can introduce its Quick Payment System into the domestic messenger”, 2019.

5. Evgeny Delyukin, What is known about the Facebook Libra cryptocurrency and why does Mark Zuckerberg need it, 2019.

6. How Raiffeisenbank provides loans through social networks and instant messengers, 2019).

7. Webb Alex, Facebook finally meets a regulator with bite, 2019.

8. Osipov I., Kinyakina E. Facebook launched its own cryptocurrency Libra, 2019.

9. Kharif Olga, Why Facebook is minting a coin and yow you can use it, 2019.

10. Fintech and financial services: initial considerations, 2018.

11. Newly-married I., Scoring in social networks, 2019.

12. Petukhova L. Digital footprint: how banks analyze customer social networks when issuing a loan, 2019.

13. Internet trading in Russia 2018.

14. Second payment directive Payment services (PSD 2) - Directive (EU).

15. Mariia Sigova, Valery Dolbezhkin, Artem Koltsov, “Objective contradictions in the integration of social networks, payments services and distributed ledger technology”, International Conference on Artificial Intelligence: Applications and Innovations (IC-AIAI), 2019.

ThS. Trần Thu Phương

Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên




https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Bài viết phân tích toàn diện việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, làm rõ các cơ hội, rủi ro và đề xuất khuôn khổ quản trị nhằm bảo đảm khai thác công nghệ này một cách hiệu quả, an toàn và bền vững.
Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Trong vài năm trở lại đây, thế giới chứng kiến sự phát triển của stablecoin neo theo các đồng tiền pháp định, nổi bật nhất, stablecoin neo theo USD chiếm áp đảo, nó không chỉ làm thay đổi cấu trúc thị trường tài sản số mà còn bắt đầu để lại dấu ấn đậm nét trên thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ - một trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu. Tại các khu vực đồng tiền khác cũng như Khu vực đồng Euro câu chuyện này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Bài viết phân tích một cách hệ thống cơ chế truyền dẫn của stablecoin neo theo Euro, các kịch bản tác động và đưa ra một số hàm ý chính sách.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành Ngân hàng, quy mô thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với dữ liệu tài chính và dữ liệu sinh trắc học. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng, khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam về quản trị và bảo vệ dữ liệu, đồng thời chỉ ra một số thách thức trong thực tiễn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), xử lý dữ liệu sinh trắc học và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái tài chính số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro dữ liệu cá nhân trong ngân hàng, cùng một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bảo đảm an toàn dữ liệu và củng cố niềm tin của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng số.
Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Thời gian qua, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro, phòng, chống gian lận, đồng thời góp phần nâng cao mức độ an toàn và niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch vụ thanh toán trên kênh số nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung.
Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích bản chất kinh tế, cơ chế rủi ro và tác động của stablecoin tới truyền dẫn chính sách tiền tệ, đồng thời thảo luận hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong việc xây dựng khuôn khổ quản lý phù hợp, gắn với phát triển tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và thúc đẩy đổi mới an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán, dữ liệu không chỉ là yếu tố hỗ trợ vận hành hệ thống mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số hiện đại, tiện ích và an toàn.
Ngân hàng mở và vấn đề quản trị dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Ngân hàng mở và vấn đề quản trị dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực cốt lõi trong nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Sự phát triển của ngân hàng mở phản ánh sự chuyển dịch quan trọng từ mô hình ngân hàng truyền thống sang hệ sinh thái tài chính dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, quá trình này đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể đối với quản trị dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa mục tiêu thúc đẩy cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền riêng tư. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa ngân hàng mở và quản trị dữ liệu cá nhân, so sánh ba mô hình quản trị dữ liệu tiêu biểu trên thế giới và đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng tiếp cận linh hoạt, kết hợp giữa mở dữ liệu và kiểm soát hiệu quả.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành