Kinh tế Việt Nam cần hợp lực cả chính sách phía cầu và phía cung

Chính sách
Để hỗ trợ cho các chính sách phía cầu, giảm áp lực lên lạm phát, Chính phủ cũng cần thúc đẩy cả những chính sách phía cung. Đây là thời điểm Chính phủ cần thực thi chính sách nghịch chu kỳ Tăng trư...
aa

Để hỗ trợ cho các chính sách phía cầu, giảm áp lực lên lạm phát, Chính phủ cũng cần thúc đẩy cả những chính sách phía cung.


Đây là thời điểm Chính phủ cần thực thi chính sách nghịch chu kỳ

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2020 đạt 1,81%, dù là mức thấp nhất trong hơn 10 năm qua, nhưng Việt Nam là một trong những nước hiếm hoi vẫn duy trì được tăng trưởng dương trong bối cảnh hầu hết các nước trong khu vực lẫn trên thế giới đều rơi xuống mức tăng trưởng âm.

Báo cáo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, kinh tế thế giới năm nay sẽ tăng trưởng âm 4,9%, trong khi 2 tháng trước dự báo chỉ âm 3%. Các nền kinh tế lớn trên thế giới đều sụt giảm sản lượng nghiêm trọng, như Hoa Kỳ có thể âm 8%, khu vực Euro âm 10,2%...

Mục tiêu của hầu hết các nước lúc này có lẽ là chống suy thoái hoặc cố gắng duy trì mức tăng trưởng dương đã là thành công lớn. Trong bối cảnh đó, nỗ lực duy trì được tăng trưởng dương trong năm nay của Chính phủ Việt Nam cũng đã là một thành công. Không những vậy, nếu lấy kinh tế thế giới làm “hệ quy chiếu”, thì tăng trưởng của Việt Nam vẫn là một điều đáng mong đợi đối với nhiều nước. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta đã thành công. Giai đoạn khó khăn nhất chưa hề qua đi. Tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm còn nhiều thách thức không kém nửa đầu năm.

Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách quan trọng để hỗ trợ nền kinh tế như Nghị định 41/2020/NĐ-CP, Nghị quyết số 42/2020/NQ-CP của Chính phủ, Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng… Có thể khẳng định, đến nay, Việt Nam đã có đầy đủ các giải pháp trên nhiều khía cạnh, từ tiền tệ đến tài khóa, từ tín dụng đến đầu tư, từ thúc đẩy kinh tế đến bảo đảm đời sống người dân… Ước tính tổng quy mô các gói hỗ trợ đã được đề xuất, nếu được triển khai đầy đủ, có thể tương đương 8,5% GDP.

Trên tinh thần chung, với các định hướng đã xác định, Thủ tướng Chính phủ đã đề xuất 5 mũi giáp công, đó chủ yếu là các chính sách phía cầu, gồm thu hút đầu tư các thành phần kinh tế trong nước; đẩy mạnh xuất khẩu; thúc đẩy đầu tư công; khuyến khích tiêu dùng nội địa; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Để có thể triển khai tốt, thiết nghĩ, nếu Chính phủ chỉ dùng loại vũ khí thông thường là không thể, mà phải dùng vũ khí hạng nặng, phải huy động tất cả “khí tài” của các chính sách tiền tệ, tài khóa, chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu một cách mạnh mẽ, đột phá; phải có sự phối hợp tác chiến và hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.

Về quan điểm, thiết nghĩ, hơn lúc nào hết, đây là thời điểm Chính phủ cần thực thi chính sách nghịch chu kỳ, bao gồm cả tài khóa và tiền tệ. Thực tế cho thấy, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, chấp nhận tăng bội chi và nợ công để chống suy thoái kinh tế. Điều chắc chắn là, thắt lưng buộc bụng trong bối cảnh hiện nay sẽ càng khiến nền kinh tế rơi vào suy thoái, thâm hụt ngân sách khi đó sẽ càng bị khuếch sâu hơn, nợ công đương nhiên sẽ tăng nhanh. Thông qua hiệu ứng số nhân, chính sách tài khóa sẽ giúp hỗ trợ và thúc đẩy các yếu tố khác của tổng cầu.

Khuyến khích tiêu dùng nội địa

Tiêu dùng hộ gia đình chiếm đến 68% tổng cầu của nền kinh tế. Do đó, các chính sách kích thích tiêu dùng khu vực hộ gia đình sẽ có tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế.

Số liệu cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2020 giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, thậm chí nếu trừ yếu tố giá thì giảm đến 5,3%. Điều này cho thấy, sức cầu của nền kinh tế đang khá yếu. Điều này phản ánh thu nhập thực tế hoặc thu nhập kỳ vọng giảm, hoặc người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu.

Thắt lưng buộc bụng là hành vi đúng ở góc độ cá nhân, hộ gia đình trong điều kiện kinh tế khó khăn, song ở góc độ tổng thể nền kinh tế, thì điều này không hẳn đã tốt, bởi không chỉ tổng tiết kiệm không tăng, mà còn khiến tổng cầu giảm, thu nhập giảm, tăng trưởng giảm.

Hơn lúc nào hết, Chính phủ cần tập trung thực hiện các chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa, chú ý kích cầu các mặt hàng sản xuất trong nước, ưu tiên người Việt Nam dùng hàng Việt Nam. Thực hiện các chính sách khuyến khích về tài khóa như miễn/giảm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước; về tiền tệ như ưu đãi tiếp cận và mở rộng hạn mức cho tín dụng tiêu dùng. Bên cạnh đó là các chính sách hỗ trợ thị trường, hỗ trợ phiếu thực phẩm miễn phí, giảm giá sản phẩm, giảm chi phí trung gian, chi phí lưu thông, chi phí hành chính, chi phí không chính thức…

Thúc đẩy đầu tư tư nhân

Bên cạnh tiêu dùng nội địa, đầu tư chiếm đến hơn 30% GDP của nền kinh tế, trong đó đầu tư tư nhân chiếm hơn 45% tổng đầu tư của nền kinh tế. Chính vì vậy, Chính phủ phải có các chính sách khuyến khích, thúc đẩy đầu tư tư nhân.

Theo đó, bên cạnh các chính sách đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, cải cách thủ tục hành chính, các công cụ thuế khóa và tiền tệ cần được phát huy trong ngắn hạn. Chẳng hạn, miễn thuế cho các khoản đầu tư mới, dự án mới triển khai/giải ngân thực tế từ nay đến hết năm 2020. Chính sách này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư/doanh nghiệp tận dụng cơ hội triển khai các dự án đầu tư mới, giải ngân thực tế để hình thành vốn vật chất, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Cùng với đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, chiếm 23% tổng đầu tư xã hội, cũng là một động lực quan trọng để duy trì tăng trưởng. Kiểm soát dịch thành công sẽ là một gói kích thích kinh tế vô hình. Các địa phương cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan chủ động lập danh sách nhà đầu tư tiềm năng, sáng tạo các cách tiếp cận nhà đầu tư, chuẩn bị sẵn các thủ tục, đi trước một bước các điều kiện và nguồn lực để tận dụng được các cơ hội, chớ để dịch bệnh qua đi mới hành động, vì lúc đó cơ hội sẽ không còn nữa.

Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công

Tăng cường đầu tư công để bù đắp sự sụt giảm của đầu tư tư nhân trong ngắn hạn, đồng thời tạo dựng nền tảng để đón đầu cơ hội phục hồi khi dịch bệnh được kiểm soát, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Vai trò của đầu tư công chưa bao giờ hiển hiện như lúc này.

Đầu tư công không chỉ giúp tạo ra các nền tảng để tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế trong dài hạn, mà ngay trong ngắn hạn, một lượng việc làm mới sẽ được mở ra trong quá trình triển khai dự án đầu tư công, nhờ đó bổ sung hoặc bù đắp sự sụt giảm việc làm do suy giảm đầu tư tư nhân, đảm bảo duy trì thu nhập và cung cấp mạng lưới an sinh xã hội cho người dân.

Theo đó, cần khơi thông “3 cái đọng” mà Thủ tướng đã nói, gồm vốn đọng, nợ đọng, thủ tục đọng. Xét cho cùng, thủ tục đọng chính là nguyên nhân của hai cái đọng còn lại. Do đó, cần phải gỡ ngay các cục rối về quy trình thủ tục để sớm triển khai các dự án trọng điểm quốc gia, tạo cú hích lớn cho nền kinh tế. Đồng thời, phải thúc đẩy các dự án quy mô nhỏ, đơn giản thủ tục, dễ thực hiện ở các địa phương để giải quyết bài toán an sinh xã hội. Trên tinh thần đó, các bộ, ngành và địa phương cần thực hiện nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công với tinh thần trách nhiệm cao nhất, khẩn trương và hiệu quả.

Các chính sách phía cung

Để hỗ trợ cho các chính sách phía cầu, giảm áp lực lên lạm phát, Chính phủ cũng cần thúc đẩy cả những chính sách phía cung. Theo đó, một số chính sách trọng tâm cần được thúc đẩy tích cực:

Thứ nhất là đẩy mạnh việc tháo gỡ các nút thắt về thể chế kinh tế đang còn dang dở, trong đó đặc biệt liên quan đến quyền tài sản, thực thi hợp đồng, cải cách thủ tục hành chính. Đặc biệt, cần cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ, tránh tụt hạng môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư quốc tế có chất lượng, năng cao năng lực nội sinh của thành phần kinh tế trong nước. Đồng thời với nhiệm vụ cải cách thể chế kinh tế thì phải song hành với nhiệm vụ tổ chức lại cấu trúc quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của đội ngũ lãnh đạo các cấp, cán bộ công chức để có thể tương thích với thể chế mới.

Thứ hai là cải cách thị trường lao động, cả ở phía cung lẫn phía cầu; các địa phương chủ động đào tạo lại lao động theo các kỹ năng phù hợp với các ngành/lĩnh vực/dự án định hướng thu hút đầu tư. Cải cách thị trường lao động cần gắn với nâng cao chất lượng vốn con người, đi cùng với tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chính phủ xem đây là chìa khóa lâu bền để có thể mở cánh cửa bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao trong thập niên tới.

Thứ ba là cải cách thị trường đất đai, bất động sản, trong đó tập trung mọi nỗ lực để giải phóng bằng được các điểm nghẽn về đất đai cho nhà đầu tư, nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án cả công lẫn tư.

Thứ tư là cải cách thị trường tài chính, bao gồm cải cách theo hướng giảm nhẹ các thủ tục, quy định tiếp cận vốn, giảm chi phí và lãi suất vay vốn thực chất cho người dân/doanh nghiệp, khuyến khích ngân hàng và doanh nghiệp tái cấu trúc lại nợ theo hướng bền vững, giảm chi phí tài chính, tăng cường độ sâu tài chính; đồng thời phát triển thị trường vốn, nới điều kiện tiếp cận dòng tiền trên thị trường vốn cho doanh nghiệp, giảm phụ thuộc vào các trung gian tài chính, ngân hàng thương mại.

Cuối cùng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng cần duy trì sự ổn định xã hội, thực hiện chính sách an dân và kiểm soát nền tảng vĩ mô. Nhân bối cảnh hiện nay để chấn chỉnh lại trật tự xã hội, kinh tế; phát huy sức mạnh và tinh thần dân tộc, nguồn lực của nhân dân, đón lấy thời cơ để thúc đẩy khởi nghiệp, tái khởi nghiệp...

Đỗ Thiên Anh Tuấn

Theo: baodautu.vn

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành