Kết quả thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 và định hướng năm 2023

Chính sách
Năm 2022, nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp khó lường. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, nhưng căng thẳng địa chính trị, xung đột vũ trang và lạm phát tăng cao đã khiến đà phục hồi của nền kinh tế thế giới chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, bất ổn trên thị trường tài chính, tiền tệ. Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi nhanh, song vẫn còn nhiều khó khăn, áp lực kiểm soát lạm phát, tỷ giá, lãi suất, do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng năng lượng và biến động mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu; thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp nhiều biến động... Tuy nhiên, với sự chủ động trong điều hành và triển khai thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả, ngành Tài chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tài chính - NSNN.
aa

Năm 2022, nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp khó lường. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, nhưng căng thẳng địa chính trị, xung đột vũ trang và lạm phát tăng cao đã khiến đà phục hồi của nền kinh tế thế giới chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, bất ổn trên thị trường tài chính, tiền tệ. Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi nhanh, song vẫn còn nhiều khó khăn, áp lực kiểm soát lạm phát, tỷ giá, lãi suất, do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng năng lượng và biến động mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu; thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp nhiều biến động... Tuy nhiên, với sự chủ động trong điều hành và triển khai thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả, ngành Tài chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tài chính - NSNN.

1. Chủ động triển khai các giải pháp tài khóa linh hoạt, ứng phó hiệu quả, kịp thời với biến động trong và ngoài nước

1.1. Giải pháp thu NSNN

Cùng với việc tiếp tục thực hiện miễn, giảm thuế, phí, lệ phí theo các văn bản đã ban hành cuối năm 2021 có hiệu lực thi hành trong năm 20221, chính sách thu NSNN được tiếp tục mở rộng ưu đãi trong năm 2022 theo tinh thần Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội như giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 8% từ ngày 01/02/2022 đến hết ngày 31/12/2022, trừ một số hàng hóa, dịch vụ ít bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 như viễn thông, công nghệ thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... và các hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Trước diễn biến phức tạp của thị trường xăng, dầu thế giới, giá xăng, dầu tăng mạnh, gây áp lực lên lạm phát và hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước và đời sống Nhân dân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành các nghị quyết2 về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn. Cụ thể, giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol), dầu diesel, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn và giảm 70% đối với dầu hỏa từ ngày 01/4/2022; sau đó, tiếp tục giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu xuống mức sàn từ ngày 11/7/2022 đến hết ngày 31/12/2022. Đồng thời, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng cũng được điều chỉnh giảm từ mức thuế suất 20% xuống mức thuế suất 10% từ ngày 08/8/2022 để đa dạng hóa nguồn cung xăng nhập khẩu cho thị trường trong nước3. Ngoài ra, nhiều chính sách hỗ trợ khác cũng được ban hành như gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2022; gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh triển khai hóa đơn điện tử, đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng thu và chống thất thu NSNN, chống gian lận trục lợi thuế. Kể từ ngày 01/7/2022, toàn bộ doanh nghiệp và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên cả nước đã thực hiện đăng ký và chuyển đổi sử dụng hóa đơn điện tử. Đồng thời, Bộ Tài chính đã xây dựng Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài; đến nay, đã có 39 nhà cung cấp nước ngoài đăng ký, khai thuế và nộp thuế.

Với việc triển khai có hiệu quả các giải pháp chính sách tài khóa, đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phục hồi kinh tế, kết hợp với tăng cường công tác quản lý thu, đã tác động tích cực đến kết quả thu năm 2022. Thu NSNN cả năm ước đạt 1.803,6 nghìn tỷ đồng, vượt 27,8% dự toán. Trong đó, thu ngân sách trung ương vượt 25,8% dự toán; thu ngân sách địa phương vượt 29,9% dự toán. Tổng số tiền miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí cho doanh nghiệp và người dân ước tính đến hết tháng 12/2022 đạt khoảng 193,4 nghìn tỷ đồng; trong đó, gia hạn khoảng 105,9 nghìn tỷ đồng, miễn, giảm khoảng 87,5 nghìn tỷ đồng.


Các nhiệm vụ chi NSNN năm 2022 đã cơ bản hoàn thành mục tiêu đề ra. Lũy kế chi NSNN 12 tháng năm 2022 ước đạt 1.562,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87,5% dự toán; trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 82,8% dự toán, chi thường xuyên ước đạt 92,4% dự toán; đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi phát sinh theo tiến độ thực hiện của đơn vị sử dụng ngân sách; khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn.


1.2. Chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả

Chính sách chi NSNN được tiếp tục thực hiện theo hướng chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, ưu tiên nguồn lực ổn định an sinh xã hội. Chính phủ đã yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đề xuất phương án cắt giảm những khoản chi ngân sách trung ương đã được giao trong dự toán đầu tư nhưng đến ngày 30/6/2022 chưa phân bổ (trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định) để bổ sung nguồn lực thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế4. Đồng thời, chính sách chi NSNN được mở rộng thông qua việc tăng chi đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng, trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp vùng cũng như nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh của ngành Y tế; cấp bù lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ vay ưu đãi tín dụng; đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở trợ giúp xã hội, đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm; hỗ trợ lãi suất từ NSNN đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh5; hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động…

Các văn bản về chi đầu tư phát triển, tăng cường và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công tăng hiệu quả nguồn lực NSNN cũng được ban hành nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế6. Các hoạt động đầu tư công được theo dõi khá sát thông qua các kỳ họp của Chính phủ nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện dự án đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công7. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 28/6/2022 về việc phân bổ, cắt giảm, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2022 giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương nhằm tập trung, ưu tiên nguồn lực cho các dự án quan trọng, cấp bách.

Các nhiệm vụ chi NSNN năm 2022 đã cơ bản hoàn thành mục tiêu đề ra. Lũy kế chi NSNN 12 tháng năm 2022 ước đạt 1.562,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87,5% dự toán; trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 82,8% dự toán, chi thường xuyên ước đạt 92,4% dự toán; đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi phát sinh theo tiến độ thực hiện của đơn vị sử dụng ngân sách; khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn.

1.3. Bội chi NSNN được kiểm soát, nợ công đảm bảo trong ngưỡng Quốc hội cho phép

Với kết quả thu, chi NSNN nêu trên, cân đối ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được đảm bảo. Ước tính năm 2022, bội chi NSNN thực hiện (bao gồm Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội) đạt khoảng 4% GDP.

Cùng với việc đảm bảo mức bội chi NSNN, công tác quản lý nợ công cũng được chú trọng. Ngày 12/4/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 448/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quản lý nợ công 03 năm giai đoạn 2022 - 2024 và Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2022, với các mục tiêu chính là: (i) Đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay thông qua đa dạng hóa nguồn vốn và phương thức vay trong nước và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN, bao gồm huy động vốn vay để thực hiện các chính sách tài khóa hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ, đảm bảo trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt; (iii) Thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước.

Bộ Tài chính đã chủ động điều hành việc phát hành trái phiếu Chính phủ để sử dụng có hiệu quả ngân quỹ nhà nước. Năm 2022 đã thực hiện phát hành 214,7 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, với kỳ hạn bình quân 12,67 năm, lãi suất bình quân 3,48%/năm. Việc quản lý và sử dụng vốn vay được kiểm soát chặt chẽ, các khoản vay được thực hiện hiệu quả hơn, góp phần đảm bảo các chỉ tiêu an toàn về nợ công trong giới hạn Quốc hội cho phép. Đến cuối năm 2022, dư nợ công ước đạt 38% GDP, dư nợ Chính phủ ước đạt 34,7% GDP, dư nợ vay nước ngoài của quốc gia ước đạt 36,8% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ ước đạt 16,3% tổng thu NSNN; trong phạm vi Quốc hội cho phép. Kết quả tích cực từ phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - NSNN, quản lý, kiểm soát nợ công đã góp phần nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Năm 2022, Việt Nam tiếp tục được S&P Global Ratings nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+, “triển vọng ổn định”; và Moody's Investors Service nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn từ mức Ba3 lên mức Ba2, “triển vọng ổn định”.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với tình hình thực hiện NSNN năm 2022

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 vẫn còn tồn tại, hạn chế đáng chú ý như:

2.1. Tính ổn định, bền vững của thu NSNN chưa cao

Mặc dù tổng thể thu NSNN năm 2022 vượt so dự toán, song chủ yếu là tăng thu từ tiền sử dụng đất, thu dầu thô và hoạt động xuất, nhập khẩu. Bên cạnh đó, số thu nội địa trong những tháng cuối năm 2022 có xu hướng giảm tốc. Thu nội địa bình quân 5 tháng đầu năm đạt 130,8 nghìn tỷ đồng/tháng, từ tháng 6 đến nay thu bình quân chỉ đạt gần 100 nghìn tỷ đồng, trong đó thu tháng 9 chỉ còn 71,2 nghìn tỷ đồng, tháng 10 không kể các khoản thu kê khai thu theo quý nộp thì số thu chỉ đạt khoảng 70 nghìn tỷ đồng. Thu nội địa tháng 11 ước giảm khoảng 41 nghìn tỷ đồng so với tháng 10. Tính chung cả năm 2022, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN ước đạt khoảng 80%, giảm so với mức 83% của năm 2021. Nguyên nhân do một số ngành, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh (như sản xuất vật liệu xây dựng, sắt thép, thiết bị công nghệ; điện thoại di động; tivi các loại) thị trường tiêu thụ vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển tăng cao do ảnh hưởng của giá xăng dầu, nguyên liệu đầu vào, lãi suất, tỷ giá tăng, suy giảm kinh tế trên toàn cầu.

2.2. Giải ngân chi đầu tư phát triển còn chậm

Triển khai phân bổ dự toán chi NSNN chậm, nhất là các nhiệm vụ chi thuộc Chương trình phục hồi, Chương trình mục tiêu quốc gia; giải ngân vốn đầu tư công thấp, nhất là vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2022, giải ngân vốn đầu tư công nguồn NSNN ước đạt khoảng 434,47 nghìn tỷ đồng (bằng 74,09% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2021 là 77,30% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó, vốn trong nước ước đạt khoảng 423,08 nghìn tỷ đồng; vốn nước ngoài ước đạt 11,39 nghìn tỷ đồng.

Giải ngân vốn đầu tư công còn chậm và chưa đạt yêu cầu đặt ra do một số nguyên nhân sau:

(i) Tiến độ và chất lượng công tác lập, thẩm định, phê duyệt, giao phân bổ kế hoạch vốn đầu tư, việc lựa chọn dự án xây dựng danh mục, chuẩn bị danh mục đầu tư và chuẩn bị đầu tư còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao;

(ii) Giá nguyên, nhiên vật liệu, cước phí vận chuyển tăng cao, việc huy động các lao động, nhà thầu, máy móc, trang thiết bị cũng bị gián đoạn; công tác thi công và tích lũy khối lượng thường dồn vào cuối năm để nghiệm thu và phụ thuộc vào tiến độ của hợp đồng cung như tạm ứng vốn; (iii) Công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn; (iv) Tình trạng kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, đặc biệt là từ khâu chuẩn bị đầu tư; (v) Công tác giao chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công nguồn NSNN tại một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn chậm và thực hiện nhiều lần, đặc biệt là các chương trình mục tiêu.

2.3. Thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp khó khăn; niềm tin thị trường thấp, sụt giảm

Thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp biến động mạnh, một số ít doanh nghiệp vi phạm pháp luật về phát hành trái phiếu, thao túng chứng khoán đã tác động tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của thị trường và tâm lý nhà đầu tư, ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Chính phủ và doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán.

3. Định hướng chính sách tài khóa năm 2023

Theo dự toán NSNN năm 2023 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 69/2022/QH15 ngày 11/11/2022, tổng thu NSNN là 1.620,744 nghìn tỷ đồng; tổng chi NSNN là 2.076,244 nghìn tỷ đồng; bội chi NSNN (bao gồm cả phần cho Chương trình phục hồi) khoảng 4,42% GDP. Trong bối cảnh tình hình thế giới dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; ở trong nước, thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là nhiều hơn khi kinh tế Việt Nam có độ mở cao, kinh tế thế giới có nguy cơ suy thoái, để đạt được mục tiêu tài chính - ngân sách nêu trên, trong năm 2023, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước; dự báo và đánh giá đúng tình hình, nhận diện kịp thời các rủi ro; đề xuất giải pháp điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tài khóa, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và góp phần thúc đẩy phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, nghiên cứu, rà soát, đánh giá và sửa đổi, bổ sung các luật về thuế theo các định hướng của Đảng, Nhà nước và Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 nhằm hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách thuế phù hợp với các tiêu chuẩn của hệ thống thuế tốt theo thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu về nguồn lực để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030. Bên cạnh đó, thực hiện các giải pháp về quản lý thu NSNN và cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thu NSNN, đảm bảo thực hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra.

Ba là, chủ động rà soát lại nhu cầu chi và cơ cấu lại chi NSNN; sắp xếp các khoản chi theo thứ tự ưu tiên, thực hiện quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công thúc đẩy phục hồi nền kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là, kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN, nợ công, các nghĩa vụ nợ dự phòng của NSNN, nợ của chính quyền địa phương, đảm bảo an toàn tài chính quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Các khoản vay mới vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài chỉ sử dụng cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.

Năm là, hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế kiểm tra, giám sát đảm bảo sự vận hành ổn định, an toàn của thị trường tài chính và dịch vụ tài chính. Trong đó, đặc biệt quan tâm rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp; nâng cao tính công khai, minh bạch; tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường quản lý, giám sát và giảm thiểu các rủi ro cho thị trường; nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia.

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý giá; theo dõi sát diễn biến cung - cầu, thị trường, giá cả; làm tốt công tác phân tích, dự báo, xây dựng các kịch bản điều hành giá phù hợp với từng giai đoạn. Công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá điện, xăng dầu, cũng như các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác; điều tiết hài hòa lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước. Tăng cường thanh tra, kiểm tra giá, kết hợp với thuế để ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.

Bảy là, tập trung tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, khuyến khích đổi mới sáng tạo và quản trị theo chuẩn mực quốc tế.


Tám là, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số đồng bộ, đặc biệt là trong các ngành, lĩnh vực trực tiếp phục vụ người dân và doanh nghiệp.

1 Như: (i) Giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 31/12/2022; (ii) Giảm 50% lệ phí trước bạ khi đăng ký ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước; (iii) Giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022...
2 Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 ngày 23/3/2022 và Nghị quyết số 20/2022/UBTVQH15 ngày 06/7/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3 Nghị định số 51/2022/NĐ-CP ngày 08/8/2022 của Chính phủ .
4 Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 08/6/2022 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2022.
5 Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ NSNN đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
6 Công điện số 126/CĐ-TTg ngày 12/02/2022, Công điện số 307/CĐ-TTg ngày 19/5/2022, Công điện số 501/CĐ-TTg ngày 10/6/2022, Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 02/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
7 Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 08/4/2022, Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 03/5/2022, Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 07/3/2022 của Chính phủ.


Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2022), Báo cáo đánh giá công tác điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2022, triển khai nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2023.

2. Bộ Tài chính (2022), Báo cáo NSNN các tháng năm 2022.

3. Bộ Tài chính (2022), Báo cáo tình hình thanh toán vốn đầu tư nguồn NSNN lũy kế 6 tháng, ước thực hiện 7 tháng kế hoạch năm 2022.


TS. Nguyễn Như Quỳnh

Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính



https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Người dân chỉ được mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép

Người dân chỉ được mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép

Nhằm thiết lập một khung pháp lý điều chỉnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, giúp tăng cường quản lý hoạt động tài chính - ngân hàng, thị trường vàng, trung gian thanh toán, ngoại tệ..., ngày 25/12/2025 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026. Theo đó, người dân chỉ được thực hiện mua, bán vàng miếng SJC tại các tổ chức tín dụng (TCTD), doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.
Ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ năm 2026

Ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ năm 2026

Bài viết phân tích thực trạng ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, qua đó cho thấy tăng trưởng được duy trì ở mức cao, lạm phát trong tầm kiểm soát và hệ thống ngân hàng vận hành ổn định, đồng thời chỉ ra những rủi ro cấu trúc và hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ năm 2026 theo hướng linh hoạt nhưng thận trọng.
Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Việt Nam theo thông lệ quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất các điều kiện, lộ trình và bước đi phù hợp nhằm xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, tạo nền tảng cho chuyển đổi sang điều hành chính sách tiền tệ.
Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Bài viết đã phân tích một cách hệ thống kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, nhấn mạnh vai trò của khuôn khổ pháp lý, thiết kế lãi suất và biên độ, bộ công cụ điều tiết và cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Các kết quả phân tích cho thấy, hành lang lãi suất là một khuôn khổ linh hoạt, có khả năng thích ứng với các điều kiện thị trường khác nhau, song đòi hỏi nền tảng thể chế và kỹ thuật vững chắc để phát huy hiệu quả.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Xem thêm
Người dân chỉ được mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép

Người dân chỉ được mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép

Nhằm thiết lập một khung pháp lý điều chỉnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, giúp tăng cường quản lý hoạt động tài chính - ngân hàng, thị trường vàng, trung gian thanh toán, ngoại tệ..., ngày 25/12/2025 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026. Theo đó, người dân chỉ được thực hiện mua, bán vàng miếng SJC tại các tổ chức tín dụng (TCTD), doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.
Ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ năm 2026

Ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ năm 2026

Bài viết phân tích thực trạng ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, qua đó cho thấy tăng trưởng được duy trì ở mức cao, lạm phát trong tầm kiểm soát và hệ thống ngân hàng vận hành ổn định, đồng thời chỉ ra những rủi ro cấu trúc và hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ năm 2026 theo hướng linh hoạt nhưng thận trọng.
Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Đề xuất triển khai cơ chế hành lang lãi suất tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều kiện và bước đi

Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Việt Nam theo thông lệ quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất các điều kiện, lộ trình và bước đi phù hợp nhằm xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, tạo nền tảng cho chuyển đổi sang điều hành chính sách tiền tệ.
Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Bài viết đã phân tích một cách hệ thống kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, nhấn mạnh vai trò của khuôn khổ pháp lý, thiết kế lãi suất và biên độ, bộ công cụ điều tiết và cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Các kết quả phân tích cho thấy, hành lang lãi suất là một khuôn khổ linh hoạt, có khả năng thích ứng với các điều kiện thị trường khác nhau, song đòi hỏi nền tảng thể chế và kỹ thuật vững chắc để phát huy hiệu quả.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng