Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên thị trường ngoại tệ và một số hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi
Trong 6 tháng đầu năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục đưa ra các thay đổi liên quan đến giá mua, bán USD... Tóm tắt: Trong 6 tháng đầu năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NH...
aa

Trong 6 tháng đầu năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục đưa ra các thay đổi liên quan đến giá mua, bán USD...

Tóm tắt:

Trong 6 tháng đầu năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục đưa ra các thay đổi liên quan đến giá mua, bán USD. Theo đó, từ việc không niêm yết tỷ giá mua bán giao ngay, ngừng giao dịch ngoại tệ giao ngay, cho đến việc giảm sâu tới 150 đồng đối với giá mua USD kỳ hạn 6 tháng. Những hành động của NHNN đã hàm ý về việc sẽ duy trì chính sách tỷ giá USD/VND ổn định; theo đó, đồng VND sẽ không bị định giá thấp, mà ngược lại, còn có khả năng tăng giá trong tương lai. Những điều chỉnh tỷ giá của NHNN là phù hợp với diễn biến thị trường, giải tỏa được nghi ngờ của Mỹ đối với việc Việt Nam thao túng tiền tệ nhằm chiếm ưu thế trong thương mại. Bên cạnh đó, việc ổn định tỷ giá cũng được coi như là công cụ hữu hiệu trong việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam. Đến tháng 8 năm 2021, NHNN chuyển sang mua USD giao ngay thay vì kỳ hạn 6 tháng cũng là tín hiệu cho thấy thị trường đã trở lại trạng thái bình thường.

Từ khóa: Chính sách tỷ giá, tỷ giá giao ngay, tỷ giá kỳ hạn, Việt Nam.

1. Bối cảnh chung và diễn biến tình hình

Năm 2020 là năm có nhiều biến động đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng. Dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia thực hiện chính sách bảo hộ thương mại, ví dụ, cấm xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu như lương thực và đồ bảo hộ y tế. Bên cạnh đó, các mặt hàng nhập khẩu thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thủy sản cũng được kiểm soát gắt gao nhằm tránh sự lây lan của dịch bệnh (Curran và cộng sự, 2021). Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, Chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”, xuất nhập khẩu Việt Nam đã có những tín hiệu phục hồi vào nửa cuối năm 2020 và tạo ra lực kéo thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế (Hình 1). Cụ thể, theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2020, tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 545,36 tỷ USD; trong đó, giá trị xuất khẩu tăng 7% và giá trị nhập khẩu tăng 3,7%. Cán cân thương mại trong tháng 12/2020 thâm hụt 252 triệu USD. Tính cả năm 2020, cán cân thương mại của Việt Nam đạt thặng dư 19,95 tỷ USD.


Có thể thấy, vào cuối năm 2020, tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu tăng lên đột biến. Theo công thức về mối quan hệ giữa tỷ giá, tỷ trọng hàng hóa và lạm phát là:


Nhìn vào công thức cho thấy, với các nhân tố khác không đổi (PD và P*M không đổi), các nhân tố làm cho mặt bằng giá chung tăng (P tăng), tức gây lạm phát, gồm:

Thực tế cho thấy, trong những tháng cuối năm 2020, tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu đã tăng mạnh, nên biện pháp kiểm soát tỷ giá E trở thành công cụ hữu hiệu trong việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam.

Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, quy định:

“Điều 15. Chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam

1. Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện điều tiết tỷ giá hối đoái thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ và thực hiện phương án can thiệp trên thị trường ngoại tệ.

2. Chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ”.

Theo đó, NHNN sẽ can thiệp vào thị trường hối đoái với mục tiêu ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, phù hợp với các mục tiêu chung của chính sách tiền tệ. Trên thực tế, tỷ giá VND trong năm 2020 được neo tương đối ổn định với USD (Hình 2). Các hành động can thiệp của NHNN là phù hợp với nguyên tắc thị trường, với thông lệ quốc tế và không vi phạm về “thao túng tiền tệ” (Phạm và Nguyễn, 2021).


Tuy nhiên, đến đầu năm 2021, NHNN đã bất ngờ không niêm yết tỷ giá ngoại tệ giao ngay và ngừng mua ngoại tệ giao ngay. Thay vào đó, NHNN yết tỷ giá kỳ hạn 6 tháng có thể hủy ngang đối với USD. Từ ngày 17/02/2021, NHNN đã giãn tần suất mua can thiệp trên thị trường ngoại hối chỉ còn 1 lần trên tuần và đến ngày 08/6/2021, NHNN ngừng áp dụng hủy ngang. Nhìn chung, vào thời điểm cuối tháng 6/2021 giá mua USD kỳ hạn 6 tháng đã được NHNN điều chỉnh giảm tối đa là 150 đồng so với giá USD giao ngay vào đầu năm 2021. Đầu tháng 8/2021, NHNN tiếp tục giảm giá mua USD trên Sở giao dịch NHNN nhưng đã ngưng hoạt động mua kỳ hạn mà chuyển sang mua USD giao ngay. Có thể tóm tắt hoạt động điều chỉnh giá mua USD của NHNN thành năm điểm chính:

Thứ nhất, ngừng yết giá mua USD giao ngay và ngừng mua ngoại tệ giao ngay.

Thứ hai, kéo dài thời gian mua USD kỳ hạn lên thành 6 tháng thay vì 3 tháng như trước đây.

Thứ ba, giá mua USD kỳ hạn 6 tháng được điều chỉnh giảm liên tục.

Thứ tư, hủy bỏ điều khoản có thể hủy ngang đối với các hợp đồng kỳ hạn được ký từ tháng 6/2021.

Thứ năm, vào ngày 11/8/2021, NHNN đã ra quyết định tiếp tục hạ giá mua USD và thay đổi phương thức mua kỳ hạn sang giao ngay.

2. Hàm ý của chính sách

Việc NHNN ngừng mua ngoại tệ giao ngay và liên tục giảm giá mua USD kỳ hạn là động thái cho thấy, NHNN đang muốn làm chậm lại việc tăng dự trữ ngoại hối nói chung, đặc biệt là USD. Hành động này sẽ có tác động trực tiếp làm cho tỷ giá USD/VND không tiếp tục tăng và có thể có xu hướng chững lại trong những tháng cuối năm 2021. Trên thực tế, vào ngày đầu tiên bỏ niêm yết tỷ giá USD giao ngay, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã có dấu hiệu giảm nhẹ. Việc NHNN cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép hủy ngang hợp đồng kỳ hạn thực chất là cho phép các NHTM có thể thanh lý hợp đồng kỳ hạn trước hạn, tức chuyển các hợp đồng kỳ hạn chưa đến hạn thành hợp đồng giao ngay. Do đó, ý nghĩa là công cụ chính sách của các hợp đồng kỳ hạn bị suy giảm. Do đó, ngày 08/6/2021, NHNN đã chính thức không cho phép hủy ngang các hợp đồng kỳ hạn đã ký kết, điều này hàm ý rằng, VND không chịu áp lực giảm giá trị trong 6 tháng cuối năm 2021. Về mặt học thuật, thì tỷ giá kỳ hạn chính là tỷ giá giao ngay dự tính của thị trường tại thời điểm đến hạn. Ta có công thức:


Việc NHNH ấn định tỷ giá kỳ hạn 6 tháng được ký kết vào giữa năm 2021 và đến hạn cuối năm 2021 được cho là thông điệp chính sách phát đi từ NHNN rằng: “tỷ giá giao ngay tại thời điểm cuối năm 2021 sẽ biến động xoay quanh tỷ giá giá kỳ hạn”. Như vậy, tỷ giá kỳ hạn đến hạn cuối năm 2021 có thể được xem là tỷ giá mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Như vậy, việc NHNN điều chỉnh giá mua USD kỳ hạn theo hướng không để VND giảm giá kỳ hạn có tác động đến việc ổn định tỷ giá USD/VND, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô mà không tạo ra lợi thế cạnh tranh thương mại không công bằng theo mục tiêu của chính sách tiền tệ đã đặt ra.

Thứ nhất, việc NHNN không niêm yết tỷ giá giao ngay và ngừng mua ngoại tệ giao ngay, mà thay vào đó là việc niêm yết giá mua kỳ hạn chứng tỏ NHNN đã chủ động và tự tin trong việc kiểm soát tỷ giá cho đến cuối năm 2021. Vì tỷ giá kỳ hạn chính là tỷ giá giao ngay kỳ vọng của thị trường tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn, điều này chứng tỏ NHNN có khả năng dự báo và kiểm soát tỷ giá USD/VND trong thời hạn tương đối dài mà không cần can thiệp vào thị trường ngoại hối trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, động thái điều chỉnh giảm giá mua kỳ hạn USD hàm ý việc củng cố giá trị của VND so với USD. Trên thực tế, tính đến tháng 4/2021, tỷ giá USD/VND đã tương đối ổn định khi tỷ giá trung tâm chỉ tăng 52 đồng, tương ứng với 0,3% so với đầu năm 2021 (Hình 3).


Hơn nữa, việc NHNN ngừng mua ngoại tệ giao ngay, tức ngừng can thiệp vào thị trường giao ngay (không còn là người can thiệp cuối cùng), đã tạo ra cơ chế thị trường thực sự trên thị trường ngoại tệ giao ngay; theo đó, tỷ giá giao ngay USD/VND sẽ biến động tự do theo quy luật cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.

Thứ hai, NHNN đã sử dụng tỷ giá như một công cụ hữu hiệu để kiềm chế lạm phát. Theo lý thuyết ngang giá sức mua (PPP), biến động tỷ giá được đo bằng công thức:


Do tác động của dịch Covid-19, lạm phát của Mỹ đã đạt mức 4,16% vào tháng 4 năm 2021 (Hình 4). Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng, đây chỉ là xu hướng nhất thời và lạm phát sẽ ổn định trở lại vào năm 2022. Các tổ chức như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ủy ban châu Âu và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đều đồng tình với FED và dự đoán rằng, mức lạm phát từ năm 2022 của Mỹ sẽ dao động trong mức 1,7 đến 2,5% một năm. Trong khi đó, mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm 2021 là 4%, phù hợp với dự báo của IMF, khi cho rằng mức lạm phát của Việt Nam sẽ được duy trì ổn định ở mức 4% một năm (Hình 5). Như vậy, theo Học thuyết ngang giá sức mua, thì tỷ giá USD/VND được kỳ vọng sẽ ổn định và có thể không tăng trong năm 2021. Đây được xem là cơ sở khoa học để NHNN tiến hành các hợp đồng kỳ hạn 6 tháng mua USD với mức tỷ giá thấp hơn tỷ giá giao ngay hiện hành. Hơn nữa, việc duy trì tỷ giá ổn định trong những tháng cuối năm còn có tác động đến việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm 2021.




Thứ ba, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng 66%, chiếm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả nước. So với 4 tháng đầu năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng 54% (Hình 6); đồng thời, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam đối với các mặt hàng thiết bị cơ giới, công cụ, linh kiện,… là những máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho đầu vào sản xuất trong nước. Do đó, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nếu tỷ giá CNY/VND tăng quá mức sẽ gây khó khăn thực sự cho các doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng, có thể dẫn đến đứt gãy chuỗi sản xuất của nền kinh tế nói chung và gây áp lực lạm phát cho nền kinh tế.


Xét về góc độ quan hệ tỷ giá, tương quan giá trị giữa USD và CNY là khó dự đoán, song xu hướng diễn biến thị trường từ cuối năm 2020 sang nửa đầu năm 2021 cho thấy, USD đang có xu hướng giảm giá với CNY (Hình 7). Điều này cũng logic về lý luận, đó là, lạm phát được dự báo trong năm 2021 của USD là 3,4% và CNY là 1,9%, nên USD được kỳ vọng sẽ giảm giá và CNY được kỳ vọng sẽ lên giá.



Xu hướng USD giảm giá so với đồng CNY trong thời gian qua cũng là nhân tố khiến cho NHNN phải có phản ứng chính sách kịp thời. USD giảm giá với CNY; trong khi đó, VND lại được neo giá trị với USD thì thực chất là VND cũng giảm giá với CNY và nếu NHNN tiếp tục để VND giảm giá với USD, thì VND thực chất là đã giảm 2 lần với CNY. Việc VND giảm giá sâu so với CNY là một lo ngại thực sự khi mà đầu vào cho nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc.

Như vậy, thông qua việc điều chỉnh giảm giá mua USD kỳ hạn trong những tháng cuối năm 2021, NHNN đã phát đi tín hiệu về chính sách tỷ giá mục tiêu là sẽ chủ động không để VND giảm giá so với USD. Kết quả là, VND tránh được việc phải giảm giá 2 lần so với CNY. Có thể nói, hành động điều chỉnh giá mua USD kỳ hạn 6 tháng của NHNN có tác động tích cực đến tình hình nhập khẩu, bảo đảm sản xuất của nền kinh tế được ổn định, không bị đứt gãy, nhất là trong bối cảnh đại dịch như hiện nay.

Thứ tư, về tương quan lãi suất và tỷ giá của USD và VND: Nhằm hạn chế tình trạng đô la hóa, Việt Nam đã có những biện pháp mang tính chính sách như Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015 của Thống đốc NHNN thì mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD là 0%. Mức lãi suất này là rất kém hấp dẫn nếu so với mức lãi suất tiền gửi bằng VND tại các NHTM. Mức lãi suất tiền gửi bằng VND kỳ hạn 1 năm dao động trung bình từ 5% đến 7%. Tuy nhiên, do lượng kiều hối và số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI chảy vào Việt Nam lớn, nên lượng USD ngoài ngân hàng và nhu cầu găm giữ ngoại tệ, đặc biệt là USD, sẽ là rất lớn (Phạm và Nguyễn, 2020). Do đó, hành động điều chỉnh giảm giá mua USD kỳ hạn của NHNN càng khiến cho USD kém hấp dẫn trong mắt người dân đang nắm giữ USD, là cơ hội để Việt Nam loại trừ tình trạng đô la hóa.

Thứ năm, hành động điều chỉnh tỷ giá mua USD kỳ hạn được xem là sự nỗ lực của NHNN trong đàm phán với Bộ Tài chính Mỹ. Năm 2020, Mỹ đưa Việt Nam và Thụy Sĩ vào danh sách điều tra các quốc gia “thao túng tiền tệ”. Theo đó, Mỹ cáo buộc Việt Nam can thiệp một chiều và kéo dài trên thị trường ngoại tệ nhằm hạ giá VND. Tuy nhiên, với hành động không niêm yết tỷ giá giao ngay và không mua giao ngay USD, thì các NHTM đã bị hạn chế trong việc bán USD giao ngay cho NHNN. Thay vào đó, việc niêm yết kỳ hạn USD là minh chứng chứng tỏ NHNN sẽ không can thiệp vào thị trường một cách liên tục. Với các hợp đồng kỳ hạn 6 tháng cho thấy, NHNN sẽ chỉ can thiệp vào thị trường ngoại tệ với chu kỳ 6 đến 12 tháng. Như vậy, hành động của NHNN đã hạn chế vi phạm tiêu chí về “can thiệp” của Bộ Thương mại Mỹ. Hơn thế nữa, việc liên tục có những đợt điều chỉnh giảm giá mua USD kỳ hạn cho thấy, trong tương lai, tỷ giá USD/VND được giữ ổn định hoặc giảm. Do đó, NHNN đã xóa bỏ đi nghi ngờ của Mỹ về việc can thiệp vào thị trường nhằm điều chỉnh giảm giá VND, từ đó kích thích hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới nói chung và sang Mỹ nói riêng. Sự nỗ lực này đã được đền đáp khi vào ngày 19/7/2021, NHNN và Bộ Tài chính Mỹ đã đạt được tuyên bố chung về vấn đề chính sách tiền tệ của Việt Nam. Bà Yellen, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ đã đánh giá cao những nỗ lực và cam kết của NHNN trong việc điều hành chính sách tỷ giá, cũng như giải quyết được các lo ngại về “thao túng tiền tệ” từ Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam.

Thứ sáu, những động thái mới nhất của NHNN cho thấy, các hành động trước đó đã thực sự có những kết quả tích cực và thị trường đã trở lại trạng thái bình thường. Ngày 11/8/2021, NHNN đã giảm giá mua vào USD trên Sở Giao dịch NHNN và ngừng mua hợp đồng kỳ hạn, quay trở lại mua USD giao ngay.

Hành động tiếp tục giảm giá mua USD trên Sở Giao dịch NHNN vào ngày 11/8/2021 đã tiếp tục củng cố tín hiệu về chính sách tỷ giá mục tiêu là sẽ không để USD tăng giá so với VND cho đến hết năm 2021. Không những thế, do tỷ giá liên ngân hàng đã giảm 1% tính từ lần điều chỉnh giảm giá mua USD kỳ hạn 6 tháng của NHNN, việc NHNN tiếp tục giảm giá mua USD là hoàn toàn phù hợp với diễn biến của thị trường trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ đang dồi dào.

Bên cạnh đó, hành động ngừng mua ngoại tệ kỳ hạn, chuyển sang mua USD giao ngay của NHNN là biểu hiện cho thấy, thị trường đã trở lại trạng thái bình thường. Với việc thành công đưa ra tuyên bố chung về vấn đề chính sách tiền tệ giữa Mỹ và Việt Nam vào ngày 19/7/2021, cáo buộc “thao túng tiền tệ” và các đe dọa về áp dụng biện pháp hạn chế thương mại đã chính thức được phía Mỹ gỡ bỏ. Trong bối cảnh này, các hành động điều chỉnh tỷ giá, can thiệp vào thị trường ngoại tệ của NHNN là vô cùng cần thiết nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo tính thông suốt của thị trường ngoại tệ giao ngay, nơi mà NHNN với vai trò người mua bán cuối cùng là điều không thể thiếu. Thực vậy, việc ngừng mua USD kỳ hạn, chuyển sang mua USD giao ngay sẽ giúp cho thị trường được bổ sung một lượng VND tức thời, từ đó tạo điều kiện giúp cho các NHTM có thể tiếp tục hạ lãi suất. Bên cạnh đó, cũng nhờ vào khoản cung tiền lớn và ngay lập tức này, thanh khoản hệ thống được kỳ vọng sẽ duy trì trạng thái dồi dào, từ đó bình ổn được lãi suất liên ngân hàng.

3. Kết luận

Tỷ giá là một biến số kinh tế, vừa là sản phẩm cung cầu của thị trường và vừa chịu tác động chính sách của chính phủ. Việc đồng nội tệ được định giá cao hay định giá thấp có thể tạo ra ưu thế hay bất lợi trong cạnh tranh thương mại với các nước. Việt Nam là nước đang phát triển, có nền kinh tế thị trường với độ mở cửa cao, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đạt gấp 2 lần GDP; do đó, tỷ giá đã trở thành nhân tố quan trọng, tác động nhanh và mạnh đến hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Việc điều hành chính sách tỷ giá của NHNN không những nhằm tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, kiềm chế lạm phát, mà còn bảo đảm công bằng trong cạnh tranh thương mại giữa các nước. Đây được xem là sự thành công của Việt Nam đã được phía Hoa Kỳ hoan nghênh và đánh giá cao. Đồng thời, thông qua hoạt động trên thị trường ngoại hối, NHNN đã phát đi tín hiệu rõ ràng về chính sách tỷ giá mục tiêu trong nửa cuối năm 2021.

Tài liệu tham khảo:

1. Curran, L., Eckhardt, J. and Lee, J. (2021) ‘The trade policy response to COVID-19 and its implications for international business’, critical perspectives on international business.

2. Hải quan Việt Nam (2021), Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng/2020, retrieved on July 24th 2021, from ID=1901&Category=Tin%20v%E1%BA%AFn%20th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch>.

3. Ngân hàng Nhà nước (2015), Quyết định số 2589/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng Đô la Mỹ của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngăn hàng nước ngoài, ban hành ngày 17/12/2015.

4. Pham, M.H. và Nguyen, V.T. (2021) ‘Một số đánh giá về cáo buộc thao túng tiền tệ của

Hoa Kỳ đối với Việt Nam’. Kinh tế và Phát triển, 285, 2.

5. U.S Department of Treasury (2021), Joint Statement from the U.S. Department of the Treasury and the State Bank of Vietnam, retrieved on July 24th 2021, from .

6. U.S inflation forecast, retrieved on July 21st 2021, from .

7. Vietnam: Inflation rate from 1986 to 2026, retrieved on July 21st 2021, from .

8. Một số tài liệu liên quan khác.


GS., TS. Nguyễn Văn Tiến
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, Trưởng khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng

ThS. Đỗ Phú Đông

Giảng viên Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Huy động vốn qua thị trường tài sản cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới tại Việt Nam

Huy động vốn qua thị trường tài sản cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới tại Việt Nam

Để thị trường tài sản có thể đóng góp tích cực hơn cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới, cần hình thành một hệ sinh thái chính sách đồng bộ và nhất quán, bao gồm minh bạch hóa thông tin thị trường, hoàn thiện hệ thống dữ liệu về giao dịch và giá trị tài sản, nâng cao chất lượng định giá và phát triển các công cụ tài chính trung gian...
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình hoạt động của ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đạo đức mới như thiên vị thuật toán và sự thiếu minh bạch.
Tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại công ty niêm yết trong bối cảnh mới

Tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại công ty niêm yết trong bối cảnh mới

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh: Doanh nghiệp cần chủ động, minh bạch thực hiện chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Thực tiễn cho thấy, mặc dù nhiều công ty niêm yết đáp ứng đúng quy định về số lượng và tiêu chuẩn của thành viên độc lập, nhưng vẫn tồn tại tình trạng bổ nhiệm hình thức, chưa phát huy hiệu quả giám sát thực chất. Do đó, việc hoàn thiện tiêu chuẩn, điều kiện và vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị là cần thiết để nâng cao chất lượng giám sát, đảm bảo tính minh bạch trong quản trị và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của các công ty niêm yết theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Quản lý phát triển xã hội thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể Nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, Nhân dân là chủ thể quyết định...
Nghịch lý tài chính trong thực thi ESG tại doanh nghiệp Việt Nam: Hàm ý đối với tín dụng xanh

Nghịch lý tài chính trong thực thi ESG tại doanh nghiệp Việt Nam: Hàm ý đối với tín dụng xanh

Nghiên cứu làm rõ thực trạng triển khai ESG tại doanh nghiệp Việt Nam, cho thấy sự phân hóa mạnh giữa các tập đoàn lớn và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đặc biệt trong khả năng thu thập dữ liệu, quản trị phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn báo cáo quốc tế. Phát hiện “nghịch lý tài chính” - khi doanh nghiệp dù hạn chế nguồn lực vẫn xem ESG như một khoản đầu tư chiến lược nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn - khẳng định ESG đã trở thành động lực tài chính mới chứ không chỉ là yêu cầu tuân thủ.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững tại Agribank

Áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững tại Agribank

Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và lộ trình xây dựng Báo cáo Phát triển bền vững của Agribank theo các chuẩn mực quốc tế, qua đó làm rõ vai trò của báo cáo như một công cụ chiến lược giúp nâng cao minh bạch môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG), tăng khả năng tiếp cận vốn xanh và uy tín thương hiệu.
Xem thêm
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng