Công nghệ thông tin BIDV - Dặm dài phát triển

Hoạt động ngân hàng
Những thành tựu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) luôn gắn liền với phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong suốt 30 năm qua... Ứng dụng...
aa

Những thành tựu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) luôn gắn liền với phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong suốt 30 năm qua...


Ứng dụng CNTT đã thúc đẩy quá trình đổi mới nghiệp vụ ngân hàng nhằm phát triển sản phẩm dịch vụ mới, thuận tiện và thực sự hướng tới khách hàng. Ứng dụng CNTT cũng mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động kinh doanh của BIDV nhờ khả năng giao dịch tập trung, trực tuyến, khả năng tự động hóa cao trong nhiều lĩnh vực xử lý thông tin ngân hàng...

Những dấu ấn trưởng thành về CNTT của BIDV

Giai đoạn 1991 - 2001, CNTT BIDV được hình thành và xử lý phân tán: Đây là giai đoạn BIDV chính thức đưa CNTT vào phục vụ hoạt động, từng bước vi tính hóa các quy trình quản lý dữ liệu thủ công. Hệ thống CNTT ở giai đoạn này còn phân tán, chủ yếu thực hiện trên các máy trạm và các mạng cục bộ tại chi nhánh, quỹ tiết kiệm. Sự kết nối trong hệ thống chủ yếu thông qua các file báo cáo. Tuy vậy, nhờ ứng dụng CNTT, năng suất lao động của BIDV không ngừng tăng. Hầu hết các sản phẩm CNTT giai đoạn này được cán bộ CNTT của BIDV tự xây dựng và triển khai.

Tháng 7/1991, BIDV chính thức thành lập bộ phận điện toán thuộc phòng Điện toán thống kê với 3 cán bộ và 2 chiếc máy tính đầu tiên đánh dấu sự hiện diện của CNTT trong hoạt động của BIDV. Đến tháng 7/2000, Ban Công nghệ tin học được thành lập với 5 phòng chức năng và 50 cán bộ. Mạng lưới cơ sở gồm 4 phòng điện toán và 58 tổ điện toán ở các chi nhánh, với 220 cán bộ làm công tác tin học.

Về hạ tầng kỹ thuật, từ 2 chiếc máy tính đầu tiên, BIDV nhanh chóng đầu tư trang bị máy tính tới các chi nhánh lớn. Đến năm 2001, BIDV đã có trên 2.500 máy tính, 250 máy chủ và trên 100 mạng LAN tại Hội sở chính và chi nhánh. Mạng WAN kết nối giữa Hà Nội - Đà Nẵng – Thành phố Hồ Chí Minh và kết nối toàn bộ mạng LAN của các chi nhánh.

Từ năm 1991 đến năm1994, CNTT bắt đầu được ứng dụng với một số phần mềm phục vụ công tác quản lý kế toán, lập cân đối kế toán hằng ngày, quản lý giao dịch trên máy tính phục vụ huy động tiết kiệm bảo đảm bằng vàng. Đến năm 1995, hoạt động CNTT của BIDV đã có những đổi mới đáng kể với việc triển khai các chương trình giao dịch ngân hàng SIBA, hệ thống máy tính tại các chi nhánh được nối mạng LAN.

Đến năm 1996, hoạt động CNTT của BIDV bắt đầu có sự chuyển biến mạnh mẽ với chương trình ứng dụng Core Banking IBS (do cán bộ CNTT của BIDV tự phát triển). Với sự trợ giúp đắc lực của CNTT, BIDV là một trong bốn ngân hàng đầu tiên của Việt Nam tham gia tổ chức thanh toán liên ngân hàng toàn cầu SWIFT. Năm 1997, triển khai thành công hệ thống thanh toán tập trung (T4).

Giai đoạn 2002 - 2005, BIDV hiện đại hóa hệ thống CNTT ngân hàng: BIDV đã hiện đại hóa được hệ thống CNTT trong giai đoạn này. Lần đầu tiên BIDV triển khai một dự án CNTT lớn theo chuẩn mực quốc tế với sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới thông qua dự án Hiện đại hóa hệ thống thanh toán ngân hàng. CNTT đã làm thay đổi toàn bộ mô hình tổ chức và quy trình quản lý ngân hàng theo hướng tập trung. BIDV triển khai thành công và về đích sớm nhất trong 6 tiểu dự án Hiện đại hóa hệ thống thanh toán ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Lần đầu tiên tại Việt Nam, khách hàng gửi tiền một nơi rút được nhiều nơi ở BIDV.

Trung tâm CNTT được thành lập ngày 08/11/2001 và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/2002 đánh dấu sự trưởng thành về mô hình tổ chức và lực lượng CNTT. Đến năm 2005, BIDV có gần 400 kỹ sư, kỹ thuật viên CNTT. Từ năm 2002 đến năm 2005, BIDV tập trung mọi nguồn lực thực hiện hiện đại hóa và hệ thống thanh toán để trang bị Core Banking nhằm nâng cao khả năng ứng dụng, giảm thời gian xử lý, tăng tiện ích cho khách hàng. Trong năm 2003, hệ thống T4 được nâng cấp, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bởi hệ thống T5 với nhiều ưu điểm vượt trội.

Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ATM: Bắt đầu thử nghiệm từ năm 1998 tại Sở Giao dịch 1, đến tháng 6/2002, dịch vụ thẻ BIDV-ATM được chính thức khai trương phục vụ khách hàng. Cuối năm 2005, BIDV đã phát hành trên 293.000 thẻ, mạng lưới ATM đạt 200 máy triển khai tại 40 chi nhánh, đứng thứ 2 về thị phần sau Vietcombank.

Giai đoạn 2006 - 2018, CNTT tạo sự khác biệt, nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV: BIDV đã không ngừng cải tiến đổi mới mô hình hoạt động, trong đó có mô hình quản lý CNTT, chuyển dần từ mô hình quản lý CNTT phân tán sang quản lý CNTT tập trung, tách bạch giữa quản trị CNTT và triển khai, vận hành hệ thống CNTT, từng bước hoàn thiện mô hình ứng dụng CNTT hiện đại, đưa hàng loạt các giải pháp CNTT ngân hàng hiện đại vào ứng dụng, cung cấp ngày càng nhiều các sản phẩm dịch vụ ngân hàng chất lượng cao đến khách hàng. Hoạt động CNTT của BIDV từng bước trưởng thành và khẳng định vai trò là một trong các công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV.

Tháng 10/2006, Ban Công nghệ được thành lập, thể hiện rõ nét hơn tính chuyên nghiệp trong hoạt động CNTT tại BIDV với chức năng tham mưu cho lãnh đạo BIDV trong hoạch định xây dựng chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển CNTT toàn ngành, quản lý và phát triển hệ thống CNTT.

Về hạ tầng, phần mềm ứng dụng và các sản phẩm ứng dụng CNTT, trên cơ sở hoàn thành triển khai và đưa vào sử dụng trong toàn hệ thống BIDV hệ thống Core Banking - SIBS hiện đại từ ngày 22/10/2005, hoạt động CNTT giai đoạn 2006 đến nay đã được triển khai đồng bộ, có nhiều bước tiến vững chắc, đáp ứng yêu cầu xu thế phát triển CNTT chung và hội nhập.

BIDV đã xây dựng và triển khai được hệ thống CNTT hiện đại, hỗ trợ tích cực tất cả các mảng hoạt động của BIDV như kết nối thành công Banknetvn, kết nối thanh toán thẻ VISA; đưa Trung tâm dự phòng thảm họa tại Hải Dương vào hoạt động; đưa vào sử dụng Blade Server, SAN,...; triển khai gói sản phẩm như @Securites cho các công ty chứng khoán, hệ thống ngân hàng điện tử (Internet Banking - Smart Banking); năm 2013 triển khai thành công chương trình hạch toán tự động điện chuyển tiền trong nước thay thế cho việc xử lý giao dịch thủ công, nhờ đó, 100% khối lượng giao dịch của toàn hệ thống được xử lý tập trung, hoàn toàn tự động tại Hội sở chính, không gây thất thoát, tốc độ thanh toán nhanh, rủi ro tác nghiệp giảm nhiều, tiết kiệm chi phí cho toàn hệ thống gần 21 tỷ đồng/năm; năm 2014 - 2015, BIDV đã hoàn thành triển khai và đưa vào sử dụng các hệ thống ứng dụng CNTT hiện đại, như: Hệ thống Thông tin quản lý MIS, hệ thống Kondor, hệ thống CNTT cốt lõi cho BSC, Leasing, Hệ thống MPA, ERP, phòng chống rửa tiền, đào tạo trực tuyến, quản lý văn bản; hoàn thành triển khai hệ thống Contact Center; hoàn thành việc sáp nhập hệ thống CNTT của ngân hàng MHB.

Giai đoạn 2019 đến nay, CNTT nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới vào chuyển đổi tự động hóa, ngân hàng số: BIDV tiếp tục đẩy mạnh phát triển các dịch vụ hỗ trợ hoạt động ngân hàng bán lẻ như bổ sung các dịch vụ mới cho hệ thống dịch vụ tin nhắn biến động số dư tài khoản BSMS, Smart Banking, Pay+…; tăng vị thế của BIDV trong việc mở rộng kết nối thanh toán với các đối tác khách hàng, là ngân hàng đầu tiên triển khai mở rộng thanh toán song phương với Bảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn quốc, với Kho bạc Nhà nước, Hải quan…; ứng dụng BPM trong phát triển chương trình Quản lý luân chuyển hồ sơ phần mềm, ứng dụng Robotics RPA trong nhiều hoạt động tác nghiệp giúp tăng năng suất lao động và rút ngắn thời gian thực hiện; nghiên cứu áp dụng nền tảng công nghệ mới vào hoạt động phát triển phần mềm như xây dựng frame work, kiến trúc Micro service, cổng thông tin DPL (Data Publish Layer),…;

Năm 2020, BIDV tiếp tục triển khai những phần mềm đem lại hiệu quả cao như: Ngân hàng lưu ý giám sát, Quản lý khoản vay Covid, hệ thống chuyển tiền ACH; phát triển thêm nhiều kênh phân khối tới khách hàng như BIDV Ezone, Hành trình khách hàng, máy giao dịch thông minh B-smart; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới phục vụ phát triển ngân hàng số như mô hình xử lý Single Sign-on cho Internet Banking, hệ thống BIDV API, ứng dụng Blockchain trong phát hành Thư tín dụng; hoàn thành triển khai một số dự án quan trọng như dự án ECM số hóa và quản lý tài liệu chuyên nghiệp, dự án RLOS, dự án TF.

Đặc biệt, trong bối cảnh diễn biến dịch Covid-19 phức tạp, Trung tâm CNTT đã xây dựng phương án duy trì hoạt động theo 3 cấp độ đảm bảo triển khai kế hoạch kinh doanh liên tục. Đồng thời, BIDV triển khai giải pháp họp trực tuyến Cisco Webex chỉ trong vòng 01 tháng trong giai đoạn giãn cách xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, với tổng số 2.130 phiên họp.


Trung tâm CNTT nhận Huân chương Lao động Hạng Ba - Năm 2016

Thành quả và bảng vàng danh hiệu

Qua 30 năm hình thành và phát triển, hoạt động CNTT tại BIDV đã đạt được những thành tựu quan trọng, được các tổ chức trong và ngoài nước thừa nhận là một trong những ngân hàng có nền CNTT mạnh hàng đầu Việt Nam. Uy tín và vị thế của CNTT BIDV trong quan hệ hợp tác, triển khai các hoạt động về CNTT với các đối tác, các hãng và khách hàng được đánh giá cao. Đồng thời, CNTT từng bước đáp ứng và phục vụ tốt yêu cầu quản lý và kinh doanh của BIDV; luôn giữ vai trò chủ đạo, là yếu tố then chốt phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ, nâng cao tính cạnh tranh, tăng trưởng và đổi mới mô hình hoạt động của BIDV khi Việt Nam bước vào hội nhập quốc tế.

BIDV đã xây dựng được một hệ thống ứng dụng CNTT có quy mô lớn và tương đối hiện đại; chiến lược phát triển CNTT của BIDV ngày càng cụ thể, bám sát định hướng, chiến lược kinh doanh ngân hàng; mô hình quản trị CNTT hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế; hạ tầng CNTT được xây dựng vững mạnh, hoạt động ổn định và đáp ứng được nhu cầu hoạt động của ngân hàng; đội ngũ cán bộ CNTT BIDV không ngừng phát triển, đào tạo bài bản và khẳng định thương hiệu (hầu hết các cán bộ CNTT đều được đào tạo bài bản có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ, kỹ sư CNTT; nhiều cán bộ trong số đó được đào tạo từ các trường CNTT có tiếng trên thế giới).

Công tác hỗ trợ, quản trị vận hành hệ thống đã được thưc hiện một cách bài bản, an toàn và thông suốt trong điều kiện quy mô hệ thống và số lượng giao dịch tăng trưởng liên tục hằng năm trên 20%. CNTT đẩy nhanh và hỗ trợ tích cực quá trình kinh doanh đối ngoại phục vụ phát triển, hội nhập; hỗ trợ tích cực hoạt động của các đơn vị thành viên, đơn vị có vốn góp của BIDV trong và ngoài nước.



Một số giải thưởng về CNTT của BIDV

*. BIDV là ngân hàng được đánh giá cao nhất về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT tại Việt Nam (Vietnam ICT Index), trong 10 năm tham gia Vietnam ICT Index, BIDV có tới 8 lần được đánh giá và xếp hạng Nhất.

*. Giải thưởng “Ngân hàng Việt Nam tốt nhất về công nghệ và vận hành 2015” do Tạp chí Ngân hàng Tài chính châu Á - Asian Banking and Finance (ABF) trao tặng.

*. Giải thưởng Best Mobile Banking Support 2018 dành cho chương trình BIDV Smart Banking do Tạp chí quốc tế uy tín International Finance Magazine (IFM).

*. Hàng năm (từ năm 2016 trở lại đây) đều có những chương trình, sản phẩm tự xây dựng đạt được giải thưởng Sao Khuê do VINASA đánh giá, xếp hạng và công nhận đối với các sản phẩm dịch vụ xuất sắc, uy tín hàng đầu của ngành công nghệ phần mềm và dịch vụ CNTT Việt Nam.

*. Giải thưởng Ngân hàng điện tử tiêu biểu các năm 2014 và 2019 và do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp với Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) tổ chức.

*. Top 5 ngân hàng được quan tâm nhất - chương trình giải thưởng Ngân hàng điện tử yêu thích - MyEbank 2014 - do Báo điện tử VnExpress tổ chức.

*. Hệ thống IBank đã được giải thưởng Sản phẩm dịch vụ giải pháp công nghệ số tiêu biểu tại chương trình Vietnam Digital Awards 2019.

*. CNTT BIDV còn xuất sắc đạt Giải thưởng Lãnh đạo CNTT xuất sắc khu vực Đông Dương năm 2009 và Giải thưởng Lãnh đạo CNTT xuất sắc khu vực Đông Nam Á năm 2010, 2013…



Nguyễn Thanh Long

Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin - BIDV


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích sự chuyển đổi sâu sắc của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương (NHTW) trong kỷ nguyên dữ liệu, qua đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao năng lực thống kê phục vụ hiệu quả hoạch định chính sách.
Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Bài viết phân tích sự phát triển của khu vực tổ chức tài chính phi ngân hàng (NBFI) trong bối cảnh siết chặt các tiêu chuẩn mực quản lý và giám sát của hệ thống ngân hàng truyền thống (Basel II, Basel III), làm rõ các kênh liên kết hai chiều với hệ thống ngân hàng và cảnh báo rủi ro hệ thống từ các cú sốc thanh khoản, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ giám sát vĩ mô thận trọng vượt ra ngoài phạm vi ngân hàng truyền thống nhằm bảo đảm ổn định tài chính.
Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Bài viết làm rõ vai trò quản lý, điều tiết hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh Khu vực 1 (NHNN Khu vực 1) trong việc khai thác hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2024, qua đó góp phần huy động, phân bổ nguồn lực và củng cố nền tảng tài chính cho phát triển kinh tế Thủ đô theo hướng bền vững.
Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Xem thêm
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành