Công nghệ số và mô hình hoạt động của các ngân hàng trong tương lai

Công nghệ & ngân hàng số
Mô hình hoạt động là mô tả trừu tượng về cách một tổ chức hoạt động theo các quy trình, tổ chức và các miền công nghệ để hoàn thành chức năng của mình (De Vries và cộng sự, 2011). Đối với ngân hàng, khác với mô hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông thường, mô hình kinh doanh của ngân hàng mô tả cách ngân hàng đó tạo ra, cung cấp, mang đến giá trị cho khách hàng và duy trì điều đó trong cả một quá trình (Osterwalder và Pigneur, 2011).
aa

Mô hình hoạt động là mô tả trừu tượng về cách một tổ chức hoạt động theo các quy trình, tổ chức và các miền công nghệ để hoàn thành chức năng của mình (De Vries và cộng sự, 2011).

Đối với ngân hàng, khác với mô hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông thường, mô hình kinh doanh của ngân hàng mô tả cách ngân hàng đó tạo ra, cung cấp, mang đến giá trị cho khách hàng và duy trì điều đó trong cả một quá trình (Osterwalder và Pigneur, 2011). Trong khi các mô hình kinh doanh coi doanh thu, chi phí và kết quả là khả năng sinh lời, thì các mô hình hoạt động tập trung vào chi phí như một mục tiêu chính để chú trọng tính hiệu quả, đây được coi là một trong hai ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng (Crosby và cộng sự, 2013). Sự suy giảm lợi nhuận biên hiện nay đang thách thức nhiều ngân hàng phải xem lại mô hình hoạt động do giảm doanh thu biên trong khi chi phí biên lại không giảm. Ví dụ, chi phí biên của các ngân hàng tư nhân châu Á ở cùng mức như các thị trường Tây Âu phát triển (khoảng 60 bp1). Ngược lại, ngân hàng ở khu vực Mỹ Latinh và Trung Đông hoạt động với chi phí biên thấp hơn (khoảng 40bp) do chi phí nhân viên hỗ trợ, công nghệ thông tin (CNTT) và văn phòng thấp hơn hai khu vực trên (Vandenberghe et al., 2014). Trong danh mục chi phí, chi phí nhân sự đại diện cho tỷ trọng chủ yếu và phản ánh các tình huống khác nhau liên quan đến tỷ lệ chi phí/thu nhập với khoảng 80% ở Thụy Sĩ, 70% ở Đức, 60% ở Mỹ, 50% ở Thụy Điển và Luxemburg, 40% ở Singapore và Hồng Kông, còn Trung Quốc là 30% (Hintermann và cộng sự, 2014).


Sự phát triển đối với các mô hình hoạt động mới cho các ngân hàng có thể dẫn đến việc tổ chức lại toàn bộ hệ thống ngân hàng các quốc gia và toàn cầu

Bên cạnh chi phí nhân sự chiếm gần 60% tổng chi phí của các ngân hàng, chi phí CNTT chiếm tỷ trọng lớn thứ hai với khoảng 20% (Gopalan và cộng sự, 2012). Nhìn chung, các ngân hàng có chi phí CNTT cao nhất trong tất cả các ngành liên quan đến doanh thu. So với các ngành khác mà chi phí CNTT được dự đoán sẽ giảm (ô tô giảm 1%, ngành hóa chất giảm 3%), chi phí CNTT trong các ngân hàng được dự báo sẽ tăng với mức tăng hằng năm là 3% (BCG, 2013). Điều này được cho là do một số lượng lớn các hệ thống CNTT không đồng nhất với tuổi thọ tổng thể có thể lên đến hơn 40 năm.

Tác động đột phá ngày càng tăng của CNTT đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, mang lại những hệ quả như phi trung gian hóa, giảm thu nhập và tổ chức lại chuỗi giá trị với các tác nhân mới. Các công ty khởi nghiệp công nghệ tài chính (Fintech) và các tổ chức phi ngân hàng khác đang phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngành Ngân hàng với việc thiết lập hệ sinh thái mới với các tổ chức phi ngân hàng khác và các định chế khác trong ngành dịch vụ tài chính. Điều đó đang đặt ra những câu hỏi và thách thức đối với mô hình hoạt động của các ngân hàng.

Mô hình hoạt động của các ngân hàng cho đến nay vẫn chủ yếu dựa trên sự tích hợp mạnh mẽ theo chiều dọc của các quy trình quản lý, ngân hàng lõi và hoạt động hỗ trợ. Một sự phát triển gần đây được gọi là “siêu chuyên môn hóa” đã xuất hiện các dịch vụ cung ứng có xu hướng chi tiết hơn trong tương lai cũng như các mô hình cung ứng mới, như nguồn cung ứng cộng đồng. Do sự phát triển của CNTT (như công nghệ chuỗi khối (Blockchain)) và tiêu chuẩn hóa (như giao diện lập trình ứng dụng (API) mở), các ngân hàng hiện có thể thuê ngoài các dịch vụ ở cấp độ các nhiệm vụ đơn lẻ (ví dụ: DNA App Store). Việc nguyên tử hóa chuỗi giá trị này có thể dẫn đến các cấu trúc tổ chức phi tập trung hơn thứ chúng ta biết ngày nay.

Tổng hợp lại, ba xu hướng sau đây đặc trưng cho sự phát triển đối với các mô hình hoạt động mới cho các ngân hàng:

(1) Tăng cường quy định pháp lý: Quy định pháp lý đề cập đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng và thể hiện sự hội tụ giữa thị trường trong nước và nước ngoài (do các quy định trong nước và xuyên biên giới chặt chẽ hơn, chẳng hạn như FATCA hoặc Basel III). Ví dụ, theo một cuộc khảo sát đối với Liên minh châu Âu, ước tính chi phí liên quan đến các quy định là 8,6 tỷ EUR từ năm 2010 đến năm 2015 (Pukropski và cộng sự, 2013). Các danh mục dự án của nhiều ngân hàng chiếm hơn 50% chi phí liên quan các quy định. Các lĩnh vực đóng góp nhiều tác động pháp lý nhất là kiểm soát/quản lý rủi ro (56%), tuân thủ (54%), tài chính doanh nghiệp (52%), sửa đổi nội bộ (32%) và CNTT/tổ chức (27%). Mặc dù CNTT/tổ chức chỉ bị ảnh hưởng 27%, nhưng số tiền đầu tư tuyệt đối là cao nhất trong tất cả các lĩnh vực nói trên vì quy trình và CNTT là thành phần của tất cả các lĩnh vực khác. Việc đáp ứng của hệ thống với các yêu cầu của quy định mới được coi là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng (Crosby et al., 2013).

(2) Tăng cường phân cấp: Nhiều ngân hàng vẫn chưa chuyển đổi mô hình hoạt động của mình từ chuỗi giá trị tích hợp theo chiều dọc sang các mô hình phân rã, linh hoạt hơn như hiện nay, chẳng hạn như trong ngành ô tô. Một thước đo chính để đánh giá mức độ chuyên môn hóa là mức độ sản xuất nội bộ liên quan đến việc tạo ra giá trị tổng thể. Mặc dù không nhìn thấy năng lực cốt lõi trong các quy trình hỗ trợ và giao dịch, các ngân hàng vẫn thể hiện mức độ sản xuất nội bộ cao trong các lĩnh vực này. Ví dụ, các ngân hàng trực tiếp có mức sản xuất nội bộ trung bình là 50%, các ngân hàng nhỏ là 80% và các ngân hàng lớn là 70%. Một xu hướng chính là các dịch vụ không chỉ bắt nguồn từ các mối quan hệ cung ứng song phương, mà có xu hướng trở nên nhỏ hơn về độ chi tiết của chúng (Malone và cộng sự, 2011). Xu hướng “siêu chuyên môn hóa” này dẫn đến các mô hình tìm nguồn cung ứng hoàn toàn mới, chẳng hạn như nguồn cung ứng cộng đồng được kích hoạt thông qua các thị trường dịch vụ điện tử. Công ty Local Motors, Hoa Kỳ, một nhà cung cấp cho BMW, chỉ sử dụng 100 công nhân, trong khi có 40.000 nhà phát triển khác được sử dụng cung cấp cho các nhiệm vụ khác nhau.

(3) Tăng cường công nghiệp hóa: Thuật ngữ công nghiệp hóa bắt nguồn từ việc chuyển đổi xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp và tiếp tục phát triển với chủ nghĩa Taylor2. Nguyên tắc cơ bản là có thể đạt được hiệu quả cao thông qua việc xác định các hoạt động nhỏ, được tiến hành tương tự như những hoạt động mà Henry Ford (người sáng lập Công ty Ford Motor) đã giới thiệu với cách tiếp cận sản xuất hàng loạt đối với dây chuyền lắp ráp ô tô. Theo thời gian, công nghiệp hóa được bổ sung với các nguyên tắc khác, chẳng hạn như tiêu chuẩn hóa, tự động hóa và định hướng chất lượng. Việc áp dụng các nguyên tắc đó vào các ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển, vì việc tiêu chuẩn hóa các dịch vụ, chẳng hạn như các sản phẩm ngân hàng, vẫn chưa chín muồi như những chiếc đinh vít được sử dụng trong xe hơi. Tuy nhiên, ngành công nghiệp phần mềm trong những năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc áp dụng các cơ chế công nghiệp hóa vào ngành Ngân hàng. Ví dụ, một cuộc khảo sát đã xác định được 700 quy trình đầu cuối (end - to - end) trong các ngân hàng, trong đó khoảng một nửa có thể được tự động hóa hoàn toàn (Hirt và Willmott, 2014). Các dịch vụ như vậy đã được cung cấp thông qua các cửa hàng ứng dụng doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) như DNA App Store hoặc Yodlee ở Hoa Kỳ. Các công ty này cung cấp thị trường dịch vụ điện tử cho các ngân hàng và là nhà cung cấp nơi các ngân hàng có thể tùy chỉnh dịch vụ của họ.

Hiệu quả hoạt động sẽ trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng của các ngân hàng trong tương lai. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến kết quả cao trong hoạt động và chứng minh sự bền vững của các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới lấy khách hàng làm trung tâm. Điều này đang đặt ra những câu hỏi cho các nhà quản lý và điều hành về mô hình hoạt động của ngân hàng trong thời gian tới: (i) Mức độ ứng dụng tối đa các thông lệ tốt nhất trong công nghiệp hóa tại các ngành sản xuất hàng hóa vật chất vào trong lĩnh vực ngân hàng là bao nhiêu để áp dụng vào việc xây dựng các mô hình hoạt động của ngân hàng trong tương lai dựa trên các quy trình và dịch vụ được công nghiệp hóa? (ii) Làm thế nào để các dịch vụ có thể được chia thành nhiều phần chi tiết hơn và những mô hình tìm nguồn cung ứng mới nào có thể được áp dụng để các dịch vụ được tạo nguồn ở cấp độ của các nhiệm vụ đơn lẻ (siêu chuyên môn hóa) cho phép các mô hình tìm nguồn cung ứng sáng tạo?

(iii) Làm thế nào các quy trình ngân hàng và cấu ​​trúc ứng dụng (ngân hàng lõi) của nhiều nhà cung cấp có thể được chuẩn hóa để đáp ứng các yêu cầu công nghiệp hóa và cho phép các mô hình tìm nguồn cung ứng linh hoạt?

Sự phát triển đó có thể dẫn đến việc tổ chức lại toàn bộ hệ thống ngân hàng các quốc gia và toàn cầu hiện có. Các hệ quả đối với ngành Ngân hàng có thể được cấu trúc theo cấp độ đổi mới (gia tăng so với đột phá) và các quy trình ngân hàng lõi (hỗ trợ so với kinh doanh trực tiếp) và có khả năng dẫn đến những mô hình mới cho các ngân hàng.

Mặc dù sự chuyển đổi trong ngành Ngân hàng đặt ra những thách thức lớn đối với hiện trạng, nhưng nó chứa đựng nhiều cơ hội cho những tổ chức phải đối mặt với sự chuyển đổi này. Đến nay, vẫn có nhiều người xem Fintech chỉ như là “hệ thống chuyển động” mới, tương tự như sự thay đổi từ video ghi âm sang video youtube. Nhưng như lịch sử đã chỉ ra, việc chuyển đổi sang cơ sở hạ tầng mới thường hay dẫn đến việc cơ cấu lại cơ bản hiện trạng. Không phụ thuộc vào bất kỳ thành công hay thất bại nào của các ngân hàng đơn lẻ, sự chuyển đổi của Ngành đang dẫn đến thay đổi về chất như một phần cốt lõi của nền kinh tế toàn cầu ngày nay. Do đó, việc đầu tư nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu về hệ thống tài chính phát triển trong tương lai là rất cần thiết.

1 Điểm cơ bản = 1/100 của 1%.
2 Taylorism: Quản lý theo khoa học là lý thuyết quản lý dựa trên quá trình phân tích, tổng hợp các quy trình công việc nhằm nâng cao năng suất lao động.


Dương Quốc Anh
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn quản trị dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở tham chiếu đến Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng đối với quá trình xử lý dữ liệu cá nhân nói chung trong lĩnh vực ngân hàng.
Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

An ninh mạng toàn cầu đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược hàng đầu đối với mọi quốc gia, tổ chức và cá nhân. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các mối đe dọa tinh vi và khó lường trong không gian mạng. Các cuộc tấn công mạng không còn chỉ nhằm vào dữ liệu cá nhân mà đã mở rộng sang hạ tầng trọng yếu, hệ thống tài chính và cả an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao nhận thức và đầu tư vào các giải pháp bảo mật hiện đại trở thành yếu tố then chốt để đảm bảo một môi trường số an toàn, bền vững.
Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và rủi ro đặc thù khi nhận tài sản số làm tài sản bảo đảm, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị giúp tổ chức tín dụng an toàn trong việc cấp tín dụng và thu hồi nợ.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo tác nhân (Agentic AI) như một thế hệ trí tuệ nhân tạo tự chủ trong nâng cao chất lượng ra quyết định tài chính, với ba ứng dụng trọng tâm gồm lập hồ sơ rủi ro khách hàng, phê duyệt khoản vay dự đoán và quản lý kho quỹ tự động, qua đó mở ra tiềm năng chuyển đổi sâu sắc hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành