Công cụ nới lỏng định lượng trong khủng hoảng Covid-19

Nghiên cứu - Trao đổi
Nới lỏng định lượng là một công cụ “phi truyền thống” mà qua đó, các NHTW làm tăng.... 1. Sự ra đời của công cụ nới lỏng định lượng Nới lỏng định lượng là một công cụ “phi truyền thống” mà qua đó,...
aa

Nới lỏng định lượng là một công cụ “phi truyền thống” mà qua đó, các NHTW làm tăng....

1. Sự ra đời của công cụ nới lỏng định lượng

Nới lỏng định lượng là một công cụ “phi truyền thống” mà qua đó, các NHTW làm tăng cung tiền thông qua các hoạt động mua bán tài sản trên thị trường và làm thay đổi bảng cân đối tài sản của mình. Sở dĩ được gọi là công cụ “phi truyền thống” vì các NHTW lớn thường điều hành chính sách tiền tệ một cách “truyền thống” bằng cách thay đổi lãi suất điều hành, thường là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn, từ đó, thông qua sự cứng nhắc của giá cả để tác động tới lãi suất dài hạn và cuối cùng là đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Tuy nhiên, có một rào cản đối với công cụ lãi suất danh nghĩa, đó là, tồn tại một mức sàn hiệu quả (effective lower bound, thông thường là 0% hoặc nhận giá trị âm nhẹ tùy vào từng NHTW) khiến cho dư địa giảm lãi suất điều hành một cách tùy ý trở nên bất khả thi. Khi mặt bằng lãi suất đã rất thấp và tiệm cận mức sàn hiệu quả này, các NHTW sẽ phải thực hiện thay đổi vị thế chính sách tiền tệ theo cách khác, hay thay đổi cung tiền trực tiếp về lượng thông qua các hoạt động mua bán tài sản của mình.

Nhiều người sẽ cho rằng công cụ nới lỏng định lượng có nguồn gốc từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và được thực hiện lần đầu tiên bởi Fed nhưng chính xác hơn thì công cụ nới lỏng định lượng (Quantitative easing - QE) đã được sử dụng lần đầu tiên bởi Ngân hàng Trung ương (NHTW) Nhật Bản vào những năm 2001. Trong những năm đầu thế kỷ 21, kinh tế Nhật Bản phải gồng mình chống chịu với đà suy giảm tăng trưởng cùng mức lạm phát rất thấp và đến tháng 3/2001, NHTW Nhật Bản quyết định thực hiện nới lỏng định lượng, tăng cung tiền bằng cách thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, hướng tới mục tiêu là tăng dự trữ của các NHTM tại NHTW. Với sự kiện khủng bố ngày 11/9, các thị trường tài chính toàn cầu chịu sức ép lớn, NHTW Nhật Bản quyết định đẩy mạnh hoạt động này, đưa dự trữ của các NHTM lên mức 12,5 nghìn tỷ Yên, tức là, hơn gấp đôi so với thời gian đầu thực hiện QE. Ngoài ra, NHTW Nhật Bản còn thực hiện can thiệp không trung hòa đối với sức ép lên giá của đồng Yên để tiếp tục làm tăng cung đồng nội tệ. Tuy nhiên, các biện pháp này của NHTW Nhật Bản sau này được đánh giá là có rất ít tác động tích cực tới nền kinh tế và Nhật Bản đã phải chấm dứt chương trình nới lỏng định lượng này sau 5 năm triển khai vào tháng 3/2006 kể cả trong tình trạng giảm phát.

Đến tận những năm 2008, khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ lan rộng ra toàn thế giới, các NHTW bắt đầu rơi vào tình trạng tương tự như NHTW Nhật Bản năm 2001 khi lãi suất chính sách danh nghĩa đã tiệm cận mức sàn hiệu quả, công cụ nới lỏng định lượng mới được sử dụng trở lại và đã cho thấy những tác dụng nhất định đối với nền kinh tế. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thực hiện nới lỏng định lượng thông qua 4 chương trình riêng biệt trong khoảng giai đoạn từ cuối năm 2008 tới 2014. Fed lần đầu thông báo về một chương trình mua tài sản với quy mô lớn vào tháng 11/2018 (gói QE1) với dự định mua 600 tỷ USD trái phiếu và chứng khoán được đảm bảo bởi bất động sản (mortgage-backed securities - MBS) do các đơn vị của Chỉnh phủ Mỹ phát hành. Tới năm 2009, Fed mở rộng gói QE1 lên tới 1,75 nghìn tỷ USD, trong đó, 1,25 nghìn tỷ USD dành cho MBS, 200 tỷ trái phiếu doanh nghiệp và 300 tỷ trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, gói QE1 thực tế đã không đủ mạnh để tạo ra một sự phục hồi kinh tế đáng kể, tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng GDP của Mỹ liên tục được công bố thấp hơn dự kiến và dẫn tới sự ra đời của chương trình nới lỏng định lượng thứ 2 (QE2). Vào tháng 11/2010, Fed thông báo về việc tiếp tục mua 600 tỷ USD trái phiếu chính phủ dài hạn và kết thúc vào tháng 6/2011. Nối tiếp gói QE2, một chương trình được coi là biến thể của nới lỏng định lượng đã được Fed áp dụng có tên là Chương trình kéo dài kỳ hạn được thông báo vào tháng 9/2011. Fed quyết định sẽ mua 400 tỷ USD (sau khi được kéo dài vào tháng 6/2012 tăng lên thành 667 tỷ USD) trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn trên 6 năm và bán khối lượng tương ứng các trái phiếu có kỳ hạn dưới 3 năm. Chương trình này được coi là biến thể của nới lỏng định lượng vì trên thực tế, bảng cân đối kế toán của Fed không hề tăng lên nhưng mục tiêu của nó lại tương đồng với các gói QE1 và QE2 khi đã làm giảm nguồn cung các tài sản dài hạn, hay nói cách khác, loại bỏ bớt rủi ro kỳ hạn trên thị trường. Gói QE3 thậm chí còn được bắt đầu trước khi Chương trình kéo dài kỳ hạn kết thúc. Tháng 9/2012, Fed bắt đầu mua MBS với khối lượng 40 tỷ USD mỗi tháng và không đặt ra ngày kết thúc. Từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc vào tháng 10/2014, Fed có sự thay đổi tốc độ mua tài sản trong từng thời điểm và kết thúc gói QE3, tổng cộng Fed đã mua 1,5 nghìn tỷ USD tài sản các loại. NHTW châu Âu (ECB) sử dụng nới lỏng định lượng từ tháng 5/2009 nhưng mục đích chính của các gói nới lỏng định lượng lại là ổn định thị trường tài chính trước những lo ngại về việc tan rã của EU. Mãi đến tháng 1/2015, ECB mới sử dụng nới lỏng định lượng để hỗ trợ các điều kiện kinh tế vĩ mô nói chung với việc thông báo gói mua tài sản bắt đầu từ tháng 3 với tốc độ 60 tỷ Euro mỗi tháng. Đến năm 2013, Thống đốc NHTW Nhật Bản (BoJ) Kuroda đã khởi động một chương trình mới, trong đó, mỗi năm BoJ sẽ mua 50 nghìn tỷ Yên trái phiếu chính phủ với kỳ hạn trung bình là 7 năm và 1 nghìn tỷ Yên cổ phiếu và bất động sản (năm 2014, tăng lên 80 nghìn tỷ và 3 nghìn tỷ). Ngoài ra, tháng 9/2016, BoJ còn thông báo một chương trình biến thể nhằm kiểm soát đường cong lợi tức khi BoJ sẽ thực hiện mua vào không giới hạn để đảm bảo lợi tức trái phiếu chính phủ 10 năm xoay quanh 0%.

Có nhiều ý kiến khác nhau về tác động của các chương trình nới lỏng định lượng để hỗ trợ kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nhưng rõ ràng, kết quả phục hồi kinh tế của các quốc gia này tốt hơn Nhật Bản những năm 2001. Tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Anh hồi phục tốt, kinh tế khu vực EU cũng được cải thiện dù không quá ấn tượng, chỉ có kinh tế Nhật Bản cho thấy các vấn đề tương đối dai dẳng khi lạm phát ở mức quá thấp. Có nhiều lý do đưa ra để lý giải về sự không thành công của chương trình nới lỏng định lượng của Nhật Bản, có thể tóm tắt như sau: (i) NHTW Nhật Bản hướng mục tiêu của mình vào dự trữ của các NHTM gửi tại NHTW bằng cách chủ yếu mua các trái phiếu chính phủ có kỳ hạn ngắn khiến cho tác động tới bảng cân đối tài sản của hệ thống NHTM không thay đổi nhiều khi các giao dịch này đơn thuần chỉ là việc hoán đổi 2 loại tài sản ngắn hạn với mức sinh lợi gần tương đương (trái phiếu chính phủ và dự trữ) và không tác động tới các hoạt động cho vay với nền kinh tế thực; (ii) Thực tế thì NHTW Nhật Bản cũng có thực hiện mua các trái phiếu chính phủ dài hạn nhưng quy mô không đủ lớn và theo Baig và đồng nghiệp (2003) thì khối lượng nới lỏng định lượng của Nhật Bản không đủ lớn để làm làm thay đổi kỳ vọng về lạm phát và lãi suất trong nền kinh tế; (iii) Việc định hướng kỳ vọng, hay nói cách khác, sự cam kết mạnh mẽ của NHTW về duy trì trạng thái chính sách tiền tệ nới lỏng cho đến khi mục tiêu lạm phát trở lại không đạt hiệu quả cao khi uy tín của NHTW Nhật Bản là chưa đủ (Svensson, 2005); (iv) Hệ thống ngân hàng của Nhật Bản đang trong quá trình vật lộn với nợ xấu, tái cấu trúc và giảm đòn bẩy tài chính nên hiệu quả các kênh truyền dẫn yếu đi. Nhìn chung, trong khủng hoảng tài chính thế giới 2008, công cụ nới lỏng định lượng đã hoàn thành được vai trò của mình là bước đệm nâng đỡ nền kinh tế trong khủng hoảng và tạo đà hồi phục trong giai đoạn hậu khủng hoảng.

2. Công cụ nới lỏng định lượng trong khủng hoảng COVID-19

Dịch bệnh COVID-19 xảy ra vào cuối năm 2019 và 2020 đã đem lại một thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới khi các hoạt động kinh tế đều bị đình trệ ở các mức độ khác nhau nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Theo dự báo mới nhất của IMF tại Triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook - WEO 4/2020), tăng trưởng kinh tế toàn cầu và của hàng loạt nền kinh tế phát triển đều giảm sâu. Tuy nhiên, IMF cũng dự báo rằng sự phục hồi sẽ diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ khi tăng trưởng kinh tế năm 2021 hồi phục mạnh mẽ. Rõ ràng sự hồi phục này tích cực hơn nhiều so với tình trạng kinh tế giảm sút kéo dài vài năm hậu khủng hoảng kinh tế thế giới 2008. Có nhiều lý giải ủng hộ cho lập luận này như tính chất thời kỳ của dịch bệnh (sẽ không còn là mối lo nếu tìm ra thuốc đặc trị hoặc vaccine), cấu trúc kinh tế thay đổi (sự phát triển của thương mại điện tử và phương thức sản xuất) hay khả năng thích ứng tốt hơn của các quốc gia. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được sự đóng góp của các chính sách quyết liệt từ các quốc gia, trong đó, có các chính sách tiền tệ bao gồm việc mạnh tay cắt giảm lãi suất điều hành và các chương trình nới lỏng định lượng. Dưới đây là một vài nét nổi bật của các chương trình nới lỏng định lượng trong khủng hoảng COVID-19 so với trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008.

2.1. Về quy mô

Nếu như năm 2008, các chương trình nới lỏng định lượng còn tương đối mới với không chỉ thị trường mà còn với cả nhà làm chính sách thì sự thành công của công cụ này sau đó đã khiến cho các NHTW thực hiện nó với một lộ trình tương đối thận trọng. Ví dụ như Fed đã thực hiện tới 4 gói QE tất cả hay như ECB mua tài sản theo tháng với giá trị vỏn vẹn 60 tỷ EUR mỗi tháng. Với tâm lý “dò đá qua sông” để vừa kiểm nghiệm hiệu quả của công cụ này vừa tránh những tác động tiêu cực của nó, một số chương trình nới lỏng định lượng đã bị cho là không đủ quy mô cần thiết. Một nghiên cứu của chính Fed tại thành phố San Francisco cho rằng gói QE2 của Mỹ chỉ có tác dụng làm tăng trưởng kinh tế 0,28% so với mức thành công 2,6% của gói QE1 dù cho gói QE1 đã bị đánh giá là thiếu hiệu quả. Có lẽ vì thế mà để đối phó với đại dịch COVID-19, Fed đã đưa ra một chương trình nới lỏng định lượng khổng lồ bên cạnh 2 lần mạnh tay cắt giảm lãi suất Fed Fund trong các phiên họp bất thường. Đầu tiên là cam kết mua thêm ít nhất 500 tỷ USD trái phiếu Chính phủ và 200 tỷ USD chứng khoán bảo lãnh bởi các khoản vay bất động sản (MBS) để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng. Trong một động thái mở rộng các chương trình hỗ trợ của mình, ngày 23/3, Fed cho biết sẽ mua khối lượng không giới hạn trái phiếu chính phủ và MBS để đảm bảo rằng thị trường sẽ vận hành trơn tru và hiệu lực của chính sách tiền tệ được đảm bảo. Hay như trường hợp của ECB, một gói cứu trợ khẩn cấp nhằm phòng chống tác hại của dịch bệnh đã được tuyên bố với giá trị lên tới 750 tỷ Euro thông qua chương trình mua chứng khoán của cả khu vực công và khu vực tư nhân cũng là gói hỗ trợ kinh tế lớn chưa từng có trong lịch sử của khu vực châu Âu.

2.2. Về công cụ

Không chỉ tăng về quy mô, các NHTW cũng sử dụng đa dạng các công cụ nới lỏng định lượng hơn so với trong khủng hoảng tài chính 2008. Trước hết chúng ta cần nhìn nhận vai trò của công cụ nới lỏng định lượng ngay giữa tâm bão khủng hoảng trước hết đó là đảm bảo thanh khoản và sự vận hành trơn tru của thị trường. Chỉ số đo lường sức mạnh của Đồng Đôla (DXY) tăng cao trong giai đoạn khủng hoảng cho thấy nhu cầu về đồng Đôla tăng lên. Năm 2008, chỉ số DXY có giai đoạn tăng gần 15% và sau đó, giảm lại khi Mỹ tung ra gói QE1. Năm 2020, DXY trong vòng 10 ngày giữa tháng 3 đã tăng hơn 8,3%, đạt đỉnh lịch sử 103 điểm vào ngày 20/3 khi tình hình dịch bệnh có dấu hiệu bùng phát mạnh trên quy mô toàn cầu và đặc biệt là tại nước Mỹ. Cần nhắc lại rằng khủng hoảng 2008 là cuộc khủng hoảng tài chính, đối tượng chịu thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất là các tổ chức tài chính và việc Fed cũng như các NHTW khác làm đó là tạo thanh khoản cho các tổ chức tài chính này bằng cách mua lại các tài sản mà các tổ chức này đang nắm giữ, bao gồm trái phiếu chính phủ và MBS. Nhưng khủng hoảng COVID-19 thì không phải là khủng hoảng tài chính, mà là một cuộc khủng hoảng kinh tế đúng nghĩa khi nó đánh sập các hoạt động kinh tế thực chứ không gói gọn trong khu vực tài chính. Các nhà máy sản xuất, các hộ kinh doanh, nhà hàng, khu vui chơi, các hoạt động giải trí đều phải hủy, hoãn hoặc thay đổi phương thức để phòng tránh sự lây lan của dịch bệnh. Các doanh nghiệp, hộ gia đình, người lao động mất nguồn thu, hay nói cách khác họ mất “thanh khoản” để chi trả cho những nhu cầu của mình: chi phí mặt bằng, nhân công, điện nước và các chi phí cố định trả trước khác đối với doanh nghiệp và chi phí lương thực thực phẩm, điện nước, thuê nhà đối với hộ gia đình và người lao động. Do vậy, cùng là mục đích cung cấp thanh khoản nhưng dưới thời khủng hoảng COVID-19, công cụ nới lỏng định lượng phải trải rộng đối tượng thụ hưởng bao gồm cả các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các quỹ hưu trí và các khu vực khác trong nền kinh tế chứ không gói gọn trong hệ thống tài chính.

Một bước đi lịch sử chưa từng có của Fed để đối phó với khủng hoảng COVID-19 đã được thực hiện: mua trái phiếu doanh nghiệp. Dù là Fed chỉ mua trái phiếu doanh nghiệp hạng đầu tư với giá trị tối đa 10% giá trị trái phiếu hiện hành của mỗi công ty thông qua 2 cơ chế là Cơ chế tín dụng doanh nghiệp trên thị trường sơ cấp và thứ cấp (Primary và Secondary Corporate Credit Facility) như thông báo của mình ngày 23/3, nhưng nó cho thấy sự cam kết mạnh mẽ của Fed trong việc đảm bảo sự vận hành của các thị trường. Trước Fed, ECB hay BoE đã thực hiện mua trái phiếu doanh nghiệp hạng đầu tư từ những năm 2016, nhưng quy mô tương đối nhỏ và không hướng đến mục tiêu thanh khoản nhiều bằng mục tiêu tăng trưởng. Không chỉ mua trái phiếu doanh nghiệp, Fed cũng đã cho ra đời nhiều cơ chế khác nhau, hướng tới các đối tượng thụ hưởng khác nhau nhưng cùng có chung một mục tiêu là tạo ra một bước đệm về thanh khoản hỗ trợ các khu vực trong nền kinh tế để tránh những sự phá sản không cần thiết hoặc việc sa thải nhân công ồ ạt có thể dẫn đến sự bất ổn của thị trường tài chính và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

2.3. Về sự đồng bộ

Trước khi dịch bệnh COVID-19 lan rộng ra ngoài Trung Quốc, đã có rất nhiều luồng quan điểm cho rằng chính sách tiền tệ là “kẻ ngoài cuộc” trong các chính sách vĩ mô hỗ trợ kinh tế. Việc thay đổi chính sách tiền tệ chủ yếu hướng tới các biến số về tiêu dùng, đầu tư, tức là, phía cầu của nền kinh tế, chứ không có tác động nhiều tới tổng cung, vốn là hàm số của các biến như lao động, vốn, kỹ thuật. Còn nhiều người tin rằng dịch bệnh COVID-19 là một cú sốc cung trong ngắn hạn khi nguồn nguyên liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu bị ảnh hưởng do Trung Quốc tạm đóng cửa những nhà máy sản xuất chế tạo của mình. Tuy nhiên, khi dịch bệnh COVID-19 lây lan trên quy mô toàn cầu thì các hoạt động tiêu dùng, đầu tư cũng chính thức bị ảnh hưởng, tổng cầu trong nền kinh tế giảm sút và thanh khoản căng thẳng khiến cho vai trò của chính sách tiền tệ ngày càng trở nên quan trọng. Dù vậy, để đạt hiệu quả toàn diện, một mình chính sách tiền tệ hay tài khóa đơn lẻ sẽ là không đủ. Về phía chính sách tiền tệ, mục tiêu ưu tiên là đảm bảo thanh khoản và sự vận hành bình thường của các thị trường tài chính, qua đó, đảm bảo nguồn vốn lưu thông tới các khu vực của nền kinh tế. Nhưng đối với các đối tượng ở mức độ tiếp cận tài chính thấp hoặc không sử dụng dịch vụ tài chính thì chính sách tiền tệ không có khả năng tác động tới nhóm đối tượng này và đây là lúc chính sách tài khóa với các gói hỗ trợ trực tiếp phát huy vai trò của mình. Ngoài ra, mọi nỗ lực nới lỏng của chính sách tiền tệ sẽ trở nên vô nghĩa nếu tình hình dịch bệnh không được kiểm soát và chỉ có chính sách tài khóa với những gói tăng chi tiêu công cho các lĩnh vực y tế, nghiên cứu, khám chữa bệnh, mua sắm trang thiết bị phòng dịch… mới có thể thực hiện nhiệm vụ này. Ngoài chính sách tài khóa, các NHTW cũng thực hiện nới lỏng cả các chính sách an toàn vĩ mô như hạ các tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo, nới lỏng các chỉ số an toàn vốn để hỗ trợ các tổ chức tín dụng có thể đẩy mạnh thêm các khoản vay đối với nền kinh tế, hỗ trợ tăng hiệu quả các chính sách nới lỏng. Nhìn chung, với quy mô tác động toàn diện của khủng hoảng COVID-19, chính sách nới lỏng tiền tệ đã, đang và sẽ được vận hành song song với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

2.4. "Tác dụng phụ" của công cụ nới lỏng định lượng

Không thể phủ nhận hiệu quả của các công cụ nới lỏng định lượng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu với bằng chứng về sự phục hồi nhanh chóng và kéo dài tương đối của các nền kinh tế lớn, điển hình là Mỹ. Trong khủng hoảng COVID-19, rõ ràng các động thái nới lỏng định lượng cũng đã cho thấy những tác dụng nhất định trong ngắn hạn: căng thẳng thanh khoản đồng Đôla Mỹ dịu xuống trên thị trường toàn cầu, các thị trường chứng khoán hồi phục và tâm lý thị trường được cải thiện với những cam kết mạnh mẽ của các NHTW. Tuy nhiên, không một chính sách kinh tế nào hoàn hảo, nhìn lại bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, một số “tác dụng phụ” của công cụ nới lỏng định lượng có thể gọi tên

như sau:

- Lạm phát: Trên lý thuyết, việc NHTW cung thêm tiền ra nền kinh tế sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, thậm chí là siêu lạm phát, vốn trái ngược với các mục tiêu kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế của các NHTW. Dù mục tiêu ưu tiên trước mắt là đảm bảo thanh khoản và duy trì sự vận hành thông suốt của hệ thống tài chính nhưng nếu sự sử dụng quá mức các công cụ nới lỏng định lượng cũng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 thì có thể thấy, việc tăng cung tiền qua các gói công cụ nới lỏng định lượng không hề tạo ra siêu lạm phát dù tốc độ mở rộng quy mô bảng cân đối tài sản của các NHTW là khá nhanh bởi 2 lý do: (i) sự tăng trưởng cung tiền phần nào được kiềm chế bởi các chính sách an toàn vĩ mô đã góp phần hạn chế quá trình tạo tiền thông qua hệ thống ngân hàng (chiếm khoảng 90% tổng cung tiền ở Mỹ và châu Âu) và (ii) áp lực giảm phát khi nhu cầu chi tiêu và đầu tư trong nền kinh tế giảm xuống. Do vậy, để có thể đánh giá được nguy cơ lạm phát gây ra bởi chính sách nới lỏng định lượng cần phải xem xét tác động tổng thể của các áp lực giảm phát và các biện pháp hạn chế sự tạo tiền thông qua ngân hàng thương mại tới tổng mức

cung tiền.

- Hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ: Với việc các điều kiện tài chính được nới lỏng rất nhiều tại các quốc gia phát triển, các quốc gia đang phát triển và các thị trường mới nổi sẽ phải đối mặt với luồng vốn đầu tư nóng từ nước ngoài, tác động đến lãi suất, tỷ giá, tiềm ẩn bong bóng các thị trường tài sản và sự mất độc lập về điều hành chính sách tiền tệ. Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ như Moore (2013) đã ước tính rằng mức giảm 100 và 13 điểm cơ bản của lợi tức trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm gây ra bởi QE1 và QE2 đã làm tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào các thị trường mới nổi và trực tiếp làm giảm lần lượt 17 và 2 điểm cơ bản lợi tức trái phiếu của các thị trường này hay Tillmann (2015) cho rằng các chương trình mua tài sản quy mô lớn đã làm cho thanh khoản toàn cầu dư thừa và một phần của nó đã chảy vào các nền kinh tế mới nổi, làm tăng áp lực lên giá đồng nội tệ, kích thích các thị trường tài sản tăng trưởng và làm dấy lên lo ngại về một chu kỳ tăng trưởng bùng nổ như những thập niên 80 và 90.

- Sự phân bố không đều nguồn lực: Một trong những vấn đề của nới lỏng định lượng vấp phải nhiều ý kiến trái chiều trong khủng hoảng tài chính đó là lượng tiền mà các NHTW bơm ra thị trường tập trung hỗ trợ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính và hướng tới sự giải cứu các thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ và thị trường vốn (công cụ chính của nới lỏng định lượng là trái phiếu chính phủ và các chứng khoán bảo đảm bởi các khoản vay mua bất động sản). Các ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư tư hay các nhà đầu tư nhỏ lẻ nhận thấy việc đầu tư vào các thị trường tài sản sẽ ít rủi ro hơn do được hỗ trợ bởi các NHTW sẽ hướng dòng tiền vào các thị trường này thay vì các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thực, dẫn tới năng suất lao động không tăng, thu nhập của người lao động không được cải thiện và chênh lệch giàu nghèo giữa những người giàu có nắm giữ nhiều tài sản tài chính và người lao động ngày càng lớn và giảm thiểu phúc lợi xã hội.

3. Hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới đang hội nhập càng sâu và rộng, việc điều hành chính sách tiền tệ ở một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển không chỉ là những bài học kinh nghiệm quý giá mà còn có tác động trực tiếp tới việc điều hành chính sách tiền tệ trong nước của các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, việc thực hiện các chương trình nới lỏng định lượng tương tự như ở các quốc gia phát triển là không cần thiết và không hợp lý do:

- Mặt bằng lãi suất Việt Nam vẫn còn cao: Một trong những lý do các biện pháp nới lỏng định lượng được sử dụng là do dư địa về việc giảm lãi suất điều hành đã không còn khi lãi suất mục tiêu đã chạm mức sàn hiệu quả. Tại Việt Nam, kể cả sau khi giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế ứng phó với dịch bệnh COVID-19 thì các mức lãi suất điều hành là lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn vẫn lần lượt ở mức 3,5% và 5%, tức là, vẫn còn tương đối nhiều dư địa để tiếp tục nới lỏng khi cần thiết.

- Nguy cơ lạm phát: Các quốc gia phát triển có cơ sở để sử dụng các công cụ nới lỏng khi mặt bằng lạm phát trong nước ở mức thấp, kỳ vọng lạm phát được neo giữ tốt và áp lực giảm phát do sụt giảm chi tiêu và đầu tư. Tuy nhiên, tại Việt Nam, dù NHNN đã làm rất tốt công tác điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu do Chính phủ và Quốc hội đề ra nhưng việc tăng cung tiền một cách nhanh chóng chắc chắn sẽ tiềm ẩn những rủi ro lạm phát tăng cao trở lại khi đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền yếu, chưa được chấp nhận chuyển đổi rộng rãi trên thế giới. Ngoài ra, sự mất giá đồng nội tệ còn có thể gây ra gánh nặng cho nợ quốc gia và mục tiêu kiểm soát trần nợ công.

- Các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường vốn chưa phát triển: Các chương trình nới lỏng định lượng thành công một phần do sự vận hành trơn tru của các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường vốn. Tại Việt Nam, ngoài công cụ trái phiếu chính phủ, công cụ trái phiếu doanh nghiệp hay các sản phẩm tài chính khác chưa thật sự phát triển cả về quy mô và chất lượng để có thể trở thành công cụ mục tiêu của NHNN.

- Thanh khoản chưa quá căng thẳng: Trong giai đoạn kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, kênh đầu tư thông qua tiết kiệm ngân hàng vẫn là một lựa chọn an toàn với mức lãi suất thực dương vào khoảng 3 - 4%. Trong khi đó, nhu cầu về vốn mở rộng sản xuất kinh doanh lại bị hạn chế cùng việc điều tiết tiền tệ linh hoạt thông qua nghiệp vụ thị trường mở của NHNN đã đảm bảo thanh khoản đầy đủ cho hệ thống các tổ chức tín dụng.

Để ứng phó với dịch bệnh Covid-19, NHNN đã điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng nghiệp vụ thị trường mở, duy trì và ổn định thanh khoản, ổn định tâm lý TCTD, duy trì mặt bằng lãi suất liên ngân hàng phù hợp; tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ, linh hoạt mua/bán ngoại tệ can thiệp thị trường một cách chủ động nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp; Ngày 17/3/2020, NHNN đã giảm đồng bộ 0,5 - 1%/năm lãi suất điều hành để phát tín hiệu mạnh mẽ tới thị trường về định hướng điều hành giảm lãi suất, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho TCTD; giảm 0,25 - 0,3%/năm trần lãi suất huy động và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay nhằm tiếp tục hỗ trợ giảm chi phí vốn vay của khách hàng. Đây là những giải pháp cấp thiết, kịp thời và phù hợp được các tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận trong bối cảnh kinh tế bị đình trệ, các chuỗi cung ứng bị đứt gẫy ở nhiều mức độ do các biện pháp giãn cách xã hội phòng ngừa dịch bệnh COVID-19 trên phạm vi toàn cầu; qua đó, đã góp phần hỗ trợ mạnh mẽ việc ngăn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế, và ổn định kinh tế vĩ mô... Các giải pháp nới lỏng thận trọng nhưng có tính chủ động cao, đúng liều lượng, đúng đối tượng của NHNN không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp và người dân giảm thiểu bớt gánh nặng tổn thất từ dịch bệnh COVID-19 trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, nguồn thu giảm sút; mà còn tạo tiền đề để doanh nghiệp và người dân tiếp tục tiếp cận được nguồn vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng với giá rẻ hơn so với trước dịch bệnh, từ đó có cơ hội khắc phục, vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt. Các giải pháp nới lỏng này của NHNN nhằm tạo điều kiện ưu đãi, hướng dòng vốn vào những ngành sản xuất, kinh doanh, những lĩnh vực tạo nhiều công ăn, việc làm để đẩy nhanh tốc độ phục hồi nền kinh tế, duy trì và khôi phục an sinh xã hội trong và sau khi dịch bệnh diễn ra.

Trong thời gian tới, NHNN cần tiếp tục theo dõi sát tình hình diễn biến mới của dịch bệnh, các diễn biến trên thị trường tiền tệ, ngoại tệ trong nước cùng các diễn biến trên các thị trường tài chính, hàng hóa trên thế giới để sử dụng đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ nền kinh tế vượt qua các tác động tiêu cực do dịch bệnh COVID-19.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Fed San Francisco (2001): “Economic letter”.

Lam, R (2011): “Bank of Japan’s Monetary Easing Measures: Are They Powerful and Comprehensive?”, IMF Working Paper.

Moore, J., S. Nam, M.Suh and A.Tepper (2013): “Estimating the impacts of U.S LSAPs on emerging market economies’ local currency bond markets”, Staff Report No.595, Federal Reserve Bank of New York.

Tillmann, P (2015): “Unconventional Monetary Policy and the Spillovers to Emerging Markets”, Justus-Liebig-University Gießen, Germany.

https://www.federalreserve.gov/covid-19.htm

https://www.ecb.europa.eu/press/blog/date/2020/html/ecb.blog200319~11f421e25e.en.html


Đào Minh Thắng

Theo TCNH số 11/2020

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành