Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam và một số hàm ý chính sách

Quốc tế
Bài viết thông qua phân tích nhanh các cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2020 - 2023 và trên cơ sở số liệu nghiên cứu kinh tế vĩ mô, nhận diện những hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất một số hàm ý về chính sách cho mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững...
aa

Tóm tắt: Trên cơ sở sử dụng dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổng cục Thống kê… bài viết tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến tính bền vững và mức độ đóng góp của nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Các vấn đề khác như tình trạng cán cân vãng lai, mức độ quan trọng của lỗi và sai sót cũng được đưa ra thảo luận.

Từ khóa: Cán cân thanh toán quốc tế, cán cân vãng lai, chính sách, bền vững.

VIETNAM’S BALANCE OF PAYMENTS AND SOME POLICY IMPLICATIONS

Abstract: Based on the use of statistical data from the World Bank (WB), International Monetary Fund (IMF), General Statistics Office... the article focuses on analyzing issues related to sustainability and the level of contribution of FDI to Vietnam’s economic growth. Other issues such as the current account balance situation and the significance of errors and omissions were also discussed.

Keywords: Balance of payments, current account balance, policy, sustainability.

1. Đặt vấn đề

Năm 2024 sắp kết thúc. Nhìn lại kết quả đạt được nhờ sự nỗ lực và quyết sách của Chính phủ trong điều hành nền kinh tế, sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, vượt qua những thăng trầm, hệ lụy khốc liệt của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung, cũng như những khó khăn nội tại của hệ thống tài chính - ngân hàng trong nước nói riêng; nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì một mức tăng trưởng đáng khích lệ so với các nước. Các gói kích cầu lãi suất, đặc biệt trong công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư FDI, trên một phương diện nào đó đã được xem là một trong những cứu cánh kịp thời đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung. Bài viết thông qua phân tích nhanh các cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2020 - 2023 và trên cơ sở số liệu nghiên cứu kinh tế vĩ mô, nhận diện những hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất một số hàm ý về chính sách cho mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững mà chúng ta đang hướng đến.

2. Các phân tích về cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam

Bài nghiên cứu bắt đầu từ các số liệu của cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2020 - 2023. Nguồn dữ liệu nghiên cứu phần lớn lấy từ IMF và WB, do những dữ liệu khả dụng công khai từ các cơ quan Việt Nam cập nhật chưa được đầy đủ, kịp thời. Một số chỉ tiêu có thể có những sai lệch so với các số liệu công bố của các cơ quan liên quan.

2.1. Về cán cân vãng lai

Thông qua dữ liệu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2020 - 2023, đây là thời gian tâm điểm của đại dịch Covid-19, cán cân thương mại Việt Nam vẫn giữ trạng thái thặng dư liên tục trong 4 năm, ngoại trừ có sự sụt giảm vào năm 2021 (từ mức 30,70 tỉ USD năm 2020 xuống còn 17,47 tỉ USD năm 2021). Tuy nhiên, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục mức thặng dư cán cân thương mại vào năm 2022, với mức thặng dư 29,40 tỉ USD.

Về cán cân vãng lai, nhìn chung đã gia tăng thặng dư trong giai đoạn 2020 - 2023, từ mức 15,10 tỉ USD vào năm 2020 lên 25,10 tỉ USD năm 2023. Tuy nhiên, giữa hai thời điểm đó, mặc dù cán cân thương mại vẫn duy trì mức thặng dư khá tốt, thì cán cân vãng lai lại chứng kiến mức thâm hụt 4,63 tỉ USD vào năm 2021 (năm cao điểm của đại dịch Covid-19) và chỉ thặng dư 1,40 tỉ USD vào năm sau đó. Thống kê cho thấy, nguyên nhân chính là do mức gia tăng cao của thâm hụt cán cân dịch vụ, ở mức hơn 15 tỉ USD; theo đánh giá, phần lớn do sự hạn chế cạnh tranh của dịch vụ vận tải ngoại thương Việt Nam so với các nước, trong khi kiều hối, luồng tài chính chủ yếu để bù đắp thâm hụt cán cân ngoại thương thời kỳ trước năm 2020 lại tăng chậm, thậm chí sụt giảm trong hai năm 2021 - 2022.

Cập nhật một số dữ liệu mới nhất cho thấy, cán cân thương mại của Việt Nam tiếp tục thặng dư khoảng 2,29 tỉ USD trong tháng 9/2024, nâng tổng xuất siêu của nước ta 9 tháng năm 2024 lên khoảng 20,79 tỉ USD. Thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, cũng trong 9 tháng đầu năm 2024, đã có hơn 24,78 tỉ USD vốn FDI chảy vào Việt Nam, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

2.2. Về dòng vốn FDI

Theo lý thuyết, cán cân vãng lai là một trạng thái lý tưởng để diễn tả quan hệ nợ nần của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nếu cán cân vãng lai thặng dư thì chúng ta nợ nước ngoài ít hơn nước ngoài nợ chúng ta, và ngược lại. Thâm hụt cán cân vãng lai có thể được bù đắp bằng thặng dư của cán cân tài chính, trong đó, chúng ta mong muốn rằng, với mục tiêu ổn định và cân bằng kinh tế vĩ mô, những nguồn bù đắp đó phải là những nguồn dài hạn và ổn định. Thế nhưng, như trên đã phân tích, dù trong bối cảnh kinh tế rất khó khăn, chúng ta gần như không còn nhu cầu bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai nữa, vì lẽ cán cân vãng lai trong giai đoạn trên đã liên tục thặng dư, chỉ ngoại trừ năm 2021 là thâm hụt ở mức 4,63 tỉ USD.

Trong rất nhiều năm, FDI là dòng vốn chủ yếu để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai. Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp của dòng vốn FDI vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam kể từ sau chính sách mở cửa, trong việc chuyển giao công nghệ, tạo ra việc làm cho người lao động, đóng góp vào ngân sách quốc gia… Có thể thấy, dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2020 - 2023 vẫn tăng trưởng mạnh mẽ trong bối cảnh thu hút FDI trên toàn cầu suy giảm. Điều đó đã thể hiện khả năng phục hồi và sức hấp dẫn của Việt Nam với tư cách là điểm đến đầu tư và đối tác thương mại, với những điều kiện khá thuận lợi như sự dịch chuyển chuỗi cung ứng; sự phát triển cơ sở hạ tầng với những đầu tư đáng kể của Chính phủ trong các năm 2022 - 2023 giúp hoàn thành các dự án lớn, đặc biệt là dự án đường cao tốc; bên cạnh đó, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp dành cho các dự án sản xuất lớn cũng đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn của FDI.

Bảng 1: Đóng góp của FDI trong nền kinh tế

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhìn lại các chỉ tiêu đánh giá đóng góp của FDI trong nền kinh tế Việt Nam (Bảng 1) cho thấy, ấn tượng nhất có lẽ là đóng góp cho xuất khẩu, với tỉ trọng 74,4% năm 2022 và 73,1% vào năm 2023. Trong khi đó, đóng góp cho tăng trưởng GDP từng chiếm tỉ lệ cao nhất là 30,45% vào năm 2017, đã sụt giảm xuống mức còn 22,10% vào năm 2023. Tương tự, tỉ trọng trong tổng thu ngân sách đạt mức cao nhất vào năm 2016 với 14,40%, đến năm 2023 chỉ còn khoảng 8,50%. Như vậy, thành tích nổi bật nhất của các doanh nghiệp FDI là đóng góp cho xuất khẩu với tỉ trọng áp đảo và ngày càng gia tăng, trong khi đó, đóng góp vào tăng trưởng GDP và ngân sách đã chứng kiến một sự sụt giảm tương đối.

Cũng theo Bảng 1, mức độ phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào khu vực FDI trong lĩnh vực xuất khẩu vẫn còn lớn khi kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI (kể cả dầu thô) vẫn chiếm khoảng 73% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Các mặt hàng điện tử sản xuất từ FDI cũng chiếm tỉ trọng rất cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam, lên tới 99% tổng kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2024. Tuy vậy, giá trị gia tăng hàm chứa trong các sản phẩm xuất khẩu của FDI vẫn còn ở mức rất thấp, do hoạt động sản xuất chủ yếu là gia công, lắp ráp. Ngành sản xuất điện tử, công nghệ cao của FDI lại là một ngành nhìn chung không ổn định trong tổng cầu, do yếu tố phát triển công nghệ như vũ bão sẽ có những tác động khó lường đến vòng đời sản phẩm, từ đó dẫn đến đặc điểm khó dự báo thị trường của người tiêu dùng trung gian, cũng như người tiêu dùng cuối cùng. Đó là chưa kể đến những căng thẳng và bất định của hệ thống địa chính trị toàn cầu hiện nay.

Bên cạnh đó, theo Tổng cục Thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 7,5 - 8,5% tổng số thu ngân sách nội địa và có xu hướng giảm trong 3 năm trở lại đây. Báo cáo của Bộ Tài chính hằng năm cũng ghi nhận quá nửa số doanh nghiệp FDI vào Việt Nam báo lỗ. Trong năm 2021, có tới 14.293 doanh nghiệp báo lỗ, chiếm 55%; số doanh nghiệp lỗ, lũy kế là 16.258, chiếm 62%.

Bảng 2: Tỉ trọng đóng góp đầu tư toàn xã hội (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đi sâu hơn nữa, chúng ta thử phân tích vai trò đóng góp của các doanh nghiệp FDI trong đầu tư toàn xã hội. Bảng 2 cho thấy tỉ trọng đóng góp của FDI, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế nhà nước vào vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2022. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước giữ vị thế chủ đạo trong đóng góp vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi đó, FDI lại tương đối sụt giảm, từ mức 18,22% vào năm 2016 xuống còn 16,21% năm 2022; năm 2023 là khoảng 16% (theo Tổng cục Thống kê).

Phân tích thêm dòng vốn FDI ròng (FDI Net Inflows) cho thấy, giá trị đầu tư trực tiếp vào một nền kinh tế được thực hiện bởi các nhà đầu tư không cư trú. Dữ liệu của WB thông qua Hình 1 thể hiện tỉ lệ dòng vốn FDI ròng so với GDP cao nhất ở mức 11,90% và 9,70% lần lượt vào các năm 1994 và 2008, nhưng đã sụt giảm đáng kể, chỉ ở mức 4,3% vào năm 2023.

Như vậy, nếu kết hợp phân tích về vai trò của FDI vào xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam cho thấy, trong ngắn hạn, FDI là một thành phần quan trọng nhưng vẫn tiềm ẩn sự không ổn định trong tổng cầu. Còn trong dài hạn, sự không ổn định, kể cả sụt giảm đáng kể của tỉ lệ dòng vốn FDI ròng/GDP cho thấy, FDI chưa thực sự chứng minh được sự đóng góp bền vững cho việc gia tăng thêm năng lực sản xuất, cũng như đóng góp bền vững vào tăng trưởng kinh tế. (Hình 1)

Nguồn: Dataworldbank.org
Nguồn: Dataworldbank.org

2.3. Cán cân tổng thể - lỗi và sai sót

Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2007 -2012

Đơn vị tính: Tỉ USD

Nguồn: IMF
Nguồn: IMF

Phụ lục 1 cho chúng ta thấy cán cân vãng lai và cán cân tài chính cộng gộp đã thặng dư liên tục trong các năm 2020 - 2023. Như vậy, đáng lý ra chúng ta sẽ có những cán cân tổng thể thặng dư tương ứng, thế nhưng, con số âm của lỗi và sai sót xuất hiện nhiều năm trên cán cân thanh toán quốc tế kể từ năm 2007 (xem thêm Bảng 2B, với dữ liệu minh họa từ năm 2007 - 2012). Năm 2022, con số âm của lỗi và sai sót hiển thị ở mức kỷ lục (-33,61 tỉ USD), kết quả là cán cân tổng thể bị thâm hụt 22,74 tỉ USD, được bù đắp bởi thay đổi dự trữ ngoại hối (xem Hình 2).

Hình 2: Thay đổi dự trữ ngoại hối giai đoạn 2018 - 2023

Đơn vị tính: Tỉ USD

Nguồn: WB
Nguồn: WB

Không chỉ trực tiếp tạo ra những thâm hụt của cán cân tổng thể, lỗi và sai sót còn gián tiếp tạo ra những tổn thất lớn cho quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia thông qua cơ chế bù đắp. Việc điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỉ giá hối đoái chắc chắn sẽ chịu những tác động tiêu cực ngoài ý muốn, đặc biệt trong các tình huống đảo chiều của đầu tư nước ngoài.

Theo nguyên tắc hạch toán kép, khoản mục lỗi và sai sót cần thiết để bảo đảm rằng các tài khoản trong cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia luôn có tổng bằng 0. Có những cách giải thích cho các nguyên nhân phát sinh thực tế của lỗi và sai sót. Đầu tiên, đó là độ trễ có thể xảy ra cho các giao dịch không được ghi nhận vào thời điểm thanh toán thực tế. Thứ hai là các giao dịch riêng lẻ đã được định giá không đúng, kể cả bằng nội tệ và ngoại tệ. Nguyên nhân thứ ba có thể đến từ việc ước lượng sai về số lượng của các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú. Ngoài ra, lỗi và sai sót còn có thể đến từ những bất cập trong tiến trình tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. Lỗi và sai sót cũng phát sinh từ sự không hoàn hảo trong dữ liệu thống kê nguồn, cũng như trong việc tổng hợp các tài khoản của cán cân thanh toán quốc tế. Nghiên cứu sâu sắc hơn về nguyên nhân của “vấn nạn” lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam chắc chắn là một chủ đề rất đáng quan tâm, tuy nhiên, nó vượt xa khuôn khổ bài viết này. Trên thực tế, các nguyên nhân có thể là các hợp đồng khống mua bán cổ phần, vốn góp, tư vấn, vay nợ giữa người cư trú và không cư trú... làm lỗi và sai sót ngày càng gia tăng.

3. Một số hàm ý về chính sách

Phân tích dòng vốn FDI ròng/GDP phía trên cho thấy, để FDI thực sự đóng góp bền vững vào việc gia tăng thêm năng lực sản xuất, cũng như đóng góp bền vững vào tăng trưởng kinh tế trong nước, thì Việt Nam cần phải có các chính sách chiến lược nhằm thu hút những dòng FDI chất lượng hơn, có khả năng đóng góp bền vững cho tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, các lĩnh vực ưu tiên cần bắt buộc có những đóng góp về giá trị gia tăng cao, với những cam kết về chuyển giao công nghệ, tạo sự lan tỏa cụ thể. Bên cạnh đó, chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia cũng cần có những quyết sách và giải pháp mạnh mẽ hơn để giải quyết những yếu kém về cơ cấu trong nước, thể hiện qua sự phụ thuộc quá nhiều vào ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI, mối liên kết lỏng lẻo giữa các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu và phần còn lại của nền kinh tế, cùng với sự phát triển khá mờ nhạt của nền công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, cần nới lỏng và giải tỏa các rào cản pháp lý đối với doanh nghiệp nội địa trong sự phát triển song hành và bình đẳng với các doanh nghiệp FDI.

Về sự sụt giảm trong đóng góp cho ngân sách nhà nước, việc hơn 50% doanh nghiệp FDI hoạt động chưa có lãi chắc chắn liên quan đến vấn đề chuyển giá. Do đó, cần củng cố và hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động chuyển giá, ban hành các phương pháp xác định giá chuyển giao phù hợp với đặc thù kinh tế Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bảng 3: Đóng góp vào GDP của các nhóm ngành kinh tế (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đối với nhóm ngành thương mại dịch vụ đã có những mức tăng trưởng tương đối tích cực kể từ sau đại dịch Covid-19 (Bảng 3), thâm hụt cán cân dịch vụ khá cao trong những năm gần đây đã có tác động tiêu cực đến tình trạng thặng dư của cán cân vãng lai. Do đó, chiến lược phát triển thương mại dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế và kinh doanh vận tải biển, trong mối liên kết với phát triển hạ tầng vận tải đường bộ và đường sắt, cần có những chính sách mang tính đột phá theo định hướng phát triển của các ngành dầu khí, hàng hải, du lịch... như đã xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030.

Nguyên nhân chính của lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam là việc một lượng lớn ngoại tệ đã bị hút ra khỏi thị trường thông qua những giao dịch, những kênh không chính thức... Với xu hướng ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế quốc tế, trong bối cảnh các giao dịch điện tử, các sản phẩm Fintech ngày càng phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc, các chính sách kiểm soát dòng tiền, kiểm soát ngoại hối, chính sách tự do hóa tài khoản vãng lai, tài khoản vốn cũng như các chế tài kiểm soát thực thi đối với các ngân hàng thương mại... đang rất cần có những thiết chế mới, kịp thời, cùng với việc điều chỉnh các vấn đề đã không còn phù hợp.

Phụ lục 1: Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2020 - 2023

Đơn vị tính: Triệu USD

Nguồn: IMF
Nguồn: IMF

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. https://www.adb.org

2. https://www.imf.org

3. https://www.sbv.gov.vn

4. https://gso.gov.vn

5. https://www.worldbank.org

PGS., TS. Trương Quang Thông

Tin bài khác

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy