Các nhân tố tác động đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam

Bài viết khoa học chuyên sâu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam, thông qua việc áp dụng mô hình lí thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT2) của Venkatesh, Thong và Xu (2012). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 715 người tiêu dùng Việt Nam.
aa

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam, thông qua việc áp dụng mô hình lí thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT2) của Venkatesh, Thong và Xu (2012). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 715 người tiêu dùng Việt Nam. Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA), cùng với phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM) được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có bốn biến số ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi là: Kì vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, động lực thụ hưởng và tri thức của khách hàng. Có hai yếu tố tác động tiêu cực đến ý định hành vi là yếu tố kì vọng hiệu quả và các điều kiện thuận lợi. Hai biến số ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng là ý định hành vi và các điều kiện thuận lợi. Dựa trên kết quả đạt được, tác giả nêu một số khuyến nghị chính sách nhằm gia tăng ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số ở Việt Nam.


Từ khóa: Ví kĩ thuật số, UTAUT, ý định hành vi.

FACTORS AFFECTING BEHAVIORAL INTENTION AND BEHAVIOR OF USING DIGITAL WALLETS IN VIETNAM

Abstract: The study was conducted to identify factors that influence behavioral intention and behavior of using digital wallets in Vietnam, through applying the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (UTAUT2) by Venkatesh, Thong, and Xu (2012). Research data was collected from 715 Vietnamese consumers. Cronbach's Alpha testing methods, Exploratory Factor Analysis (EFA), along with linear structural model analysis (Structural Equation Modeling - SEM) were used in this study. The results of this study show that there are four variables that have a positive influence on behavioral intention: Effort expectancy, social influence, hedonic motivation and customer knowledge. There are two factors that have a negative impact on behavioral intention: Performance expectancy and favorable conditions. There are two variables that positively affect use behavior: Behavioral intention and favorable conditions. There are two factors that positively affect use behavior in descending order: Behavioral intention and favorable conditions, there is one factor that negatively affects use behavior is security and privacy. Based on the results achieved, the author makes policy recommendations to increase behavioral intention and behavior of using digital wallets in Vietnam.

Keywords: Digital wallet, UTAUT, behavioral intention.

1. Giới thiệu

Ví kĩ thuật số là phần mềm nằm trên thiết bị của người mua và chứa tiền kĩ thuật số, chứng chỉ kĩ thuật số cùng với chữ kí số để lập hóa đơn, chuyển tải thông tin thanh toán cho các giao dịch trực tuyến (Aparna, 2017).

Theo Hà Văn Dương (2022), ví kĩ thuật số có thể coi là sự kết hợp giữa tài khoản và cổng thanh toán. Người dùng có thể nạp trước một số tiền nhất định của họ vào ví kĩ thuật số và sử dụng tiền của họ để thực hiện các giao dịch trực tuyến hoặc ngoại tuyến với các nhà cung cấp chấp nhận ví kĩ thuật số làm cơ chế thanh toán. Dịch vụ ví kĩ thuật số cung cấp cho người dùng sự tiện lợi khi thanh toán với một khoản phí nhỏ và thường được tính là tỉ lệ chiết khấu cho người bán. Do đó, ví kĩ thuật số cho phép người dùng lưu trữ tiền, theo dõi thanh toán và lập lịch sử giao dịch trên các thiết bị kĩ thuật số như điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính.

Vì vậy, ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số ở Việt Nam có nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, khuyến khích tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính ở Việt Nam.

2. Tổng quan lí thuyết và mô hình nghiên cứu

2.1. Ý định hành vi, hành vi sử dụng dịch vụ ví kĩ thuật số và mô hình UTAUT2

Theo Hà Văn Dương (2022), dịch vụ ví kĩ thuật số là những thực thể cung cấp các giao dịch không liên quan đến trao đổi tiền vật lí, thông qua các chế độ kĩ thuật số hoặc trực tuyến. Mục tiêu chính của ý định hành vi và hành vi sử dụng dịch vụ ví kĩ thuật số là tăng cường sự dễ dàng khi thực hiện các giao dịch trực tuyến. Giao dịch ví kĩ thuật số được cung cấp thông qua các kênh kĩ thuật số như Internet, điện thoại di động, máy rút tiền tự động, thiết bị điểm bán hàng và các thiết bị kĩ thuật số khác. Trong một nghiên cứu về khoa học hành vi có thể áp dụng dịch vụ kĩ thuật số, Ke và cộng sự (2018) đã chỉ ra rằng, hành vi của người dùng thường được định hình bởi các lực lượng và thành kiến tâm lí, bản năng, xã hội, cảm xúc và nhận thức tiềm ẩn. Do đó, các chiến lược dựa trên hành vi có thể được sử dụng để thu hút người dùng hướng tới thói quen giao dịch ví kĩ thuật số. Nghiên cứu của Yucha và cộng sự (2020) đã minh họa rằng, giao dịch ví kĩ thuật số có tác động đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng và sự gia tăng tỉ lệ sử dụng ví kĩ thuật số trên thị trường trực tuyến, do nhiều tiện ích được cung cấp thông qua các ứng dụng thông minh. Aditya và Ekyawan (2021) phân tích hành vi của người dùng trong việc sử dụng ví và chỉ ra rằng, việc sử dụng ví kĩ thuật số đã trở thành một hoạt động hoặc thói quen mới trong cộng đồng. Verma và Farooqi (2021) đã phát hiện ra rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi bắt nguồn từ logic của người tiêu dùng trong việc chấp nhận ví kĩ thuật số. Najib và Karima (2022) đã nghiên cứu ý định hành vi của người dùng trong việc chấp nhận ví kĩ thuật số thông qua UTAUT2 để xác định kì vọng về hiệu quả, điều kiện thuận lợi, động lực thụ hưởng, giá trị, thói quen tác động đến ý định hành vi của người dùng trong việc chấp nhận ví kĩ thuật số. Do đó, ý định hành vi của người dùng là biểu hiện của sự sẵn sàng thực hiện hành vi của mỗi người dùng đối với việc sử dụng ví kĩ thuật số.

Mô hình UTAUT2 giải thích sự chấp nhận và sử dụng công nghệ thông tin của người dùng. Mô hình này kết hợp tám lí thuyết về chấp nhận công nghệ, đó là: Lí thuyết về hành động hợp lí, mô hình động lực, mô hình chấp nhận công nghệ, mô hình kết hợp chấp nhận công nghệ và lí thuyết về hành vi có kế hoạch, mô hình sử dụng máy tính cá nhân, lí thuyết khuếch tán đổi mới và nhận thức xã hội. Mô hình UTAUT2 là một phần mở rộng của UTAUT được phát triển bởi Venkatesh và cộng sự (2012), bao gồm các biến kiểm duyệt và phụ thuộc như: Kì vọng hiệu quả, kì vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, động lực thụ hưởng, giá trị, thói quen, ý định hành vi và hành vi sử dụng.

2.2. Mô hình nghiên cứu

Từ điều kiện thực tế sử dụng ví kĩ thuật số ở Việt Nam, dựa trên cơ sở lí thuyết của mô hình UTAUT2, tổng hợp cơ sở lí thuyết liên quan đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số để đề xuất mô hình nghiên cứu. Đồng thời, tác giả kết hợp thảo luận với chuyên gia về các biến quan sát, mô hình nghiên cứu ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam được đề xuất như Hình 1. Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

Hình 1: Mô hình đề xuất


H1: Kì vọng hiệu quả có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H2: Kì vọng nỗ lực có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H3: Ảnh hưởng xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H4a: Các điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H4b: Các điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H5: Động lực thụ hưởng có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H6: Giá trị có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (-).

H7a: Thói quen có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H7b: Thói quen có ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H8: Bảo mật và quyền riêng tư có ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

H9: Ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam (+).

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu định tính được sử dụng để khám phá các yếu tố cấu thành ý định chấp nhận và sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường trong mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua các cuộc thảo luận trực tiếp với các chuyên gia về các biến quan sát.

Đối với nghiên cứu định lượng, đây là nghiên cứu dựa trên triết lí thực chứng để xem xét các quần thể hoặc mẫu nhất định. Thông qua việc áp dụng mô hình UTAUT2, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam. Tám biến số độc lập bao gồm: Kì vọng hiệu quả, kì vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, các điều kiện thuận lợi, động lực thụ hưởng, giá trị, thói quen, bảo mật và quyền riêng tư. Biến phụ thuộc là hành vi sử dụng và biến kiểm duyệt là ý định hành vi như được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Các biến độc lập, kiểm duyệt và phụ thuộc trong nghiên cứu



Nguồn: Venkatesh và cộng sự (2012), Hà Văn Dương (2022) và đề xuất của tác giả

Thiết kế nghiên cứu giải thích sẽ được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập được từ người tiêu dùng tại Việt Nam. Điều kiện cần thiết và khả thi để tham gia cuộc khảo sát là những người tiêu dùng đang thực hiện các giao dịch thanh toán bằng ví kĩ thuật số và phương pháp chọn mẫu có chủ đích đã được sử dụng.

3.2. Mẫu và dữ liệu nghiên cứu

Đối tượng trong nghiên cứu này là những người tiêu dùng đang thực hiện các giao dịch thanh toán bằng ví kĩ thuật số tại Việt Nam. Cỡ mẫu được xác định bằng cách sử dụng phương pháp của Hair và cộng sự (2015) (số lượng mục câu hỏi là 52 nên quy mô mẫu tối thiểu trong nghiên cứu này là 10 x 52 = 520 người trả lời). Do đó, số lượng 715 mẫu được thu thập từ khách hàng đảm bảo đủ cỡ mẫu của nghiên cứu này. Nghiên cứu sử dụng các kĩ thuật phân tích dữ liệu bao gồm phân tích thống kê mô tả và kiểm tra giả thuyết. Ngoài ra, việc thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các công cụ nghiên cứu và phân tích dữ liệu mang tính định lượng để kiểm tra giả thuyết đã được đặt ra. Nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định tương quan để xác định mức độ mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều biến.

Dữ liệu nghiên cứu thu được từ khách hàng thông qua phương pháp phỏng vấn và phân phối bảng câu hỏi đóng. Bảng câu hỏi có hai phần để thu thập dữ liệu. Phần đầu tiên của bảng câu hỏi là về các đặc điểm nhân khẩu học của khách hàng bao gồm độ tuổi, giới tính, kinh nghiệm, trình độ học vấn và mức thu nhập. Phần thứ hai của bảng câu hỏi trình bày các nội dung đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đo lường các biến, bao gồm điểm 1 có nghĩa là hoàn toàn không đồng ý và điểm 5 có nghĩa là hoàn toàn đồng ý.

Bảng câu hỏi được gửi tới 715 người tiêu dùng đang thực hiện giao dịch thanh toán bằng ví kĩ thuật số ở các khu vực phía Nam Việt Nam. Người tiêu dùng được lựa chọn bằng kĩ thuật chọn mẫu có chủ đích để chọn người tiêu dùng dựa trên các tiêu chí đáp ứng mục đích của nghiên cứu. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS và AMOS và dữ liệu thu thập từ khảo sát người tiêu dùng được đánh giá bằng phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, EFA và SEM.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Thống kê nhân khẩu học (Bảng 2)

Bảng 2: Thống kê nhân khẩu học


Nguồn: Dữ liệu thu thập của tác giả

4.2. Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha (Bảng 3)

Bảng 3: Kiểm tra độ tin cậy



Nguồn: Tính toán của tác giả từ SPSS 25


4.3. Phân tích EFA

Kết quả phân tích EFA đối với các biến độc lập, hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) đạt 0,816 lớn hơn 0,5. Kết quả kiểm định Bartlett là 15.891,683 và kết quả này có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Như vậy, giả thuyết ma trận tương quan giữa các biến là ma trận đồng nhất bị bác bỏ, các biến có tương quan với nhau và thỏa mãn điều kiện phân tích nhân tố.

Phân tích EFA cho các biến độc lập với số lượng quan sát = 715; Phương pháp trích: Phân tích thành phần chính. Kết quả cho thấy, có 10 yếu tố được giữ lại (vì giá trị Eigenvalue > 1) (Bảng 4, 5).

Bảng 4: Phân tích EFA đối với các biến độc lập


Nguồn: Tính toán của tác giả từ SPSS 25

Bảng 5: Ma trận xoay các thành phần

đối với các biến độc lập


Nguồn: Tính toán của tác giả từ SPSS 25


Kết quả phân tích EFA cho các biến phụ thuộc; Hệ số KMO đạt 0,672 lớn hơn 0,5, kết quả của kiểm định Bartlett là 907,026 và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Như vậy, giả thuyết ma trận tương quan giữa các biến là ma trận đồng nhất bị bác bỏ, các biến có tương quan với nhau và thỏa mãn điều kiện phân tích nhân tố.

Kết quả phân tích EFA cho thấy, có hai yếu tố được giữ lại. Thành phần mà giá trị riêng của nó nhỏ nhất và lớn hơn 1 là thành phần 2 (Eigenvalue = 1,625) và có hai yếu tố được xác định như thể hiện trong Bảng 6.

Bảng 6: Phân tích EFA đối với các biến phụ thuộc

Nghiên cứu thực hiện ma trận xoay cho các biến phụ thuộc. Kết quả này cũng cho thấy, các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,5 và không có nhân tố mới nào được khám phá như có thể thấy trong Bảng 7.

Bảng 7: Ma trận xoay các thành phần đối với biến phụ thuộc


Nguồn: Tính toán của tác giả từ SPSS 25

4.4. Mô hình cấu trúc tuyến tính

Phương pháp phân tích SEM thông qua phần mềm AMOS được sử dụng để kiểm tra sự phù hợp của mô hình nghiên cứu. Kết quả ước lượng của mô hình đề xuất được thể hiện trong Hình 2. Các chỉ số bao gồm: Chi-square = 2.302,393; df = 1206; p = 0,000; Chi-bình phương/df = 1,909; CFI = 0,912; TLI = 0,905; GFI = 0,903; RMSEA = 0,037; PCLOSE = 1.000. Do đó, mô hình nghiên cứu đề xuất đạt được sự tương thích với dữ liệu thị trường.

Hình 2: Mô hình cấu trúc tuyến tính

Nguồn: Phân tích của tác giả từ AMOS 24.


Sử dụng tiêu chuẩn tin cậy 95% (Sig. < 0,05), dấu hiệu về mối quan hệ của biến PV đối với biến BI là 0,202 > 0,05, biến PV không ảnh hưởng đến biến BI; dấu hiệu về mối quan hệ của biến HA đối với biến BI là 0,103 > 0,05, biến HA không ảnh hưởng đến biến BI; dấu hiệu về mối quan hệ của biến HA đối với biến UB là 0,052 > 0,05, biến HA không ảnh hưởng đến biến UB; dấu hiệu về mối quan hệ của biến CK đối với biến UB là 0,113 > 0,05, biến HA không ảnh hưởng đến biến UB; dấu hiệu về mối quan hệ của biến RT đối với biến UB là 0,312 > 0,05, biến RT không có ảnh hưởng đến biến UB. Các biến còn lại đều có Sig. < 0,05 nên các mối quan hệ này có ý nghĩa, kết quả trong Bảng 8.

Bảng 8: Hệ số hồi quy


Nguồn: Phân tích của tác giả từ AMOS 24

Trong sáu biến có ảnh hưởng đến BI lần lượt có bốn biến ảnh hưởng tích cực đến BI như: EE, SI, HM và CK, có hai biến tác động tiêu cực đến BI đó là biến PE và FC. Trong ba biến ảnh hưởng đến biến UB thì có hai biến ảnh hưởng tích cực đến biến UB theo thứ tự giảm dần là BI và FC, có một biến ảnh hưởng tiêu cực đến biến UB là biến SP như trong Bảng 9.

Bảng 9: Hệ số hồi quy chuần hóa


Nguồn: Phân tích của tác giả từ AMOS 24

Phương pháp Bootstrap được sử dụng để đánh giá mức độ mạnh mẽ của mô hình lí thuyết. Nghiên cứu này sử dụng số lượng mẫu lặp lại N = 1.000. So sánh giá trị C.R (Critical Ratios) với 1,96 (vì 1,96 là giá trị của phân phối chuẩn tại 0,9750). C.R < 1,96, p-value > 5%, do đó, mô hình ước tính có thể đáng tin cậy như có thể thấy trong Bảng 10.

Bảng 10: Phương pháp Bootstrap


Nguồn: Phân tích của tác giả từ AMOS 24

5. Kết quả và thảo luận

5.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi

Các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi: Có bốn biến ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi, đó là: Kì vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, động lực thụ hưởng và tri thức của khách hàng. Các kết quả này phù hợp với dấu hiệu dự kiến của giả thuyết ​​và kết quả của Venkatesh và cộng sự (2012). Việc sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán làm tăng hiệu quả giao dịch của khách hàng. Thời gian sử dụng ví kĩ thuật số có thể giúp người tiêu dùng tăng tốc giao dịch thanh toán, cải thiện đáng kể chất lượng giao dịch thanh toán do không mất nhiều thời gian và an toàn hơn. Việc sử dụng ví kĩ thuật số giúp người tiêu dùng dễ dàng tìm hiểu thông tin thanh toán, giúp người tiêu dùng luôn có đầy đủ thông tin thanh toán và tăng hiệu quả trong giao dịch thanh toán. Vì vậy, đây là biện pháp đáng tin cậy để cải thiện việc sử dụng ví kĩ thuật số, giúp người tiêu dùng đạt được hiệu quả cao hơn mà không cần nỗ lực nhiều trong các dịch vụ thanh toán của Việt Nam.

Có hai yếu tố tác động tiêu cực đến ý định hành vi: Đó là yếu tố kì vọng hiệu quả và các điều kiện thuận lợi. Kết quả này không phù hợp với dấu dự kiến ​​và các giả thuyết, không phù hợp với nghiên cứu của Venkatesh và cộng sự (2012). Tại Việt Nam, ví kĩ thuật số đã được quy định trong một số văn bản pháp luật trong những năm gần đây, thể hiện dưới dạng ví kĩ thuật số và thẻ trả trước, việc nhận dạng khách hàng được thực hiện bởi các ngân hàng. Thách thức đối với các giao dịch ví kĩ thuật số và dữ liệu khách hàng phải chính xác, tránh tình trạng mạo danh, xác thực thông tin khách hàng. Bên cạnh đó, các giao dịch thanh toán tại Việt Nam vẫn còn giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt, điều này đã ảnh hưởng đến việc sử dụng ví kĩ thuật số trong giao dịch thanh toán. Do đó, kì vọng hiệu quả có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng ví kĩ thuật số ở Việt Nam.

5.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng

Có hai biến số ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng và mức độ ảnh hưởng giảm dần lần lượt là ý định hành vi và các điều kiện thuận lợi. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu được thực hiện bởi Venkatesh và cộng sự (2012), phù hợp với dấu kì vọng và các giả thuyết trong nghiên cứu này. Trong khi, bảo mật và quyền riêng tư có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam. Kết quả này không phù hợp với dấu dự kiến của các giả thuyết và kết quả nghiên cứu của Hà Văn Dương (2022).

Qua phân tích cho thấy, việc sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán đem lại lợi ích cho khách hàng cùng với những giao dịch thanh toán được đảm bảo các điều kiện thanh toán. Do đó, sự sẵn sàng của các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán ví kĩ thuật số hoặc hỗ trợ kĩ thuật cho việc sử dụng hệ thống sẽ thúc đẩy hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của khách hàng tại Việt Nam. Việc sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán làm tăng hiệu quả giao dịch của khách hàng khi các giao dịch thanh toán được đảm bảo điều kiện giao dịch. Thực tế cho thấy, nhiều khách hàng cho rằng, thông tin giao dịch vẫn chưa được bảo mật và an toàn khi họ sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán. Do đó, bảo mật và quyền riêng tư là các nhân tố có tác động tiêu cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam.

6. Một số khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả nêu một số khuyến nghị nhằm gia tăng ý định hành vi và thúc đẩy hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam như sau:

Thứ nhất, ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực đáng kể đến ý định hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là các nhà cung cấp ví kĩ thuật số nên tận dụng tác động của ảnh hưởng xã hội để cung cấp ví kĩ thuật số, tạo niềm tin cho người tiêu dùng hiện tại, cung cấp các giao dịch chất lượng thông qua việc sử dụng ví kĩ thuật số. Vì vậy, các nhà cung cấp ví kĩ thuật số nên làm cho các nền tảng ứng dụng của ví kĩ thuật số trở nên phổ biến, như: Chú trọng xây dựng hình ảnh nhà cung cấp ví kĩ thuật số, sử dụng các phương tiện hiện đại để quảng cáo, khuyến mại, chăm sóc người dùng một cách chuyên nghiệp… Nhà cung cấp ví kĩ thuật số cần triển khai các chiến dịch tiếp thị sử dụng những người có ảnh hưởng từ công chúng, đây cũng là một điểm sáng trong việc gia tăng ý định và hành vi của người dùng đối với việc sử dụng ví kĩ thuật số. Điều này sẽ giúp các nền tảng ứng dụng ví kĩ thuật số lan rộng đến nhiều người dùng và việc duy trì cơ sở người dùng lớn, cũng như thu hút người dùng mới là rất quan trọng.

Thứ hai, kì vọng nỗ lực trong sử dụng ví kĩ thuật số có thể giúp người tiêu dùng đẩy nhanh các giao dịch thanh toán, có thể cải thiện đáng kể chất lượng kết quả giao dịch thanh toán do không mất nhiều thời gian, có thể đảm bảo an toàn hơn cho các giao dịch ngân hàng, giúp khách hàng luôn có đầy đủ thông tin thanh toán và tăng hiệu quả trong các giao dịch thanh toán. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cần nghiên cứu phát triển các dịch vụ có khả năng tương thích cao với nhiều thiết bị cũng như có khả năng mở rộng và phát triển trong tương lai, đa dạng hóa các tiện ích của dịch vụ thanh toán điện tử để phù hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng. Do đó, khi các ngân hàng thương mại và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ngày càng cải thiện việc sử dụng ví kĩ thuật số sẽ giúp người tiêu dùng đạt được hiệu quả cao hơn trong các hoạt động thanh toán, đồng thời, nâng cao ý định và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam.

Thứ ba, các tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán và các ngân hàng thương mại cần hiểu rõ mức độ của động cơ thụ hưởng đối với ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam. Thường xuyên nâng cấp hệ thống để đảm bảo giao dịch được thực hiện nhanh chóng, chính xác trong những giao dịch thanh toán hoặc xử lí ngay các vấn đề phát sinh nếu có, cũng như đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng và sẵn sàng hỗ trợ khách hàng khi cần thiết. Điều này giúp nhiều người tiêu dùng cảm thấy thoải mái, thích thú khi sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán. Bên cạnh đó, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các ngân hàng thương mại cần tìm hiểu người tiêu dùng muốn gì và cần gì để chăm sóc khách hàng kịp thời, giúp họ không chỉ đơn thuần được cung cấp dịch vụ thanh toán mà còn tạo cảm giác thoải mái và hiệu quả nhất có thể. Chính những điều này đã khiến người tiêu dùng ngày càng gia tăng ý định sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam.

Thứ tư, để tạo ra ý định hành vi thực sự của người tiêu dùng, một trong những yếu tố cốt lõi được đặt lên hàng đầu là tri thức của khách hàng. Đối với ví kĩ thuật số, tri thức giúp gia tăng hiệu quả trong các dịch vụ thanh toán, đồng thời, hiểu rõ các giải pháp phi ngân hàng dựa trên ví kĩ thuật số được sử dụng tại các ngân hàng thương mại. Những điều này tạo điều kiện cần thiết cho việc sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng và tác động tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam.

Thứ năm, điều kiện thuận lợi được coi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến việc tạo lập và duy trì bền vững hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người dùng tại Việt Nam. Mức độ sẵn sàng của ví kĩ thuật số hoặc hỗ trợ kĩ thuật cho việc sử dụng ví kĩ thuật số của nhà cung cấp dịch vụ phải đảm bảo an toàn và bảo mật cho người dùng. Họ cần đảm bảo các điều kiện sử dụng ví kĩ thuật số trong các giao dịch thanh toán của người dùng. Các điều kiện thuận lợi được đặt lên hàng đầu nhằm tạo ra hành vi sử dụng thực sự và tác động tích cực đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam.

Thứ sáu, ý định hành vi được coi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán và các ngân hàng thương mại nên cải thiện tính hữu ích của dịch vụ thanh toán, tập trung vào ví kĩ thuật số, đảm bảo khả năng tiếp cận tài chính với chi phí thấp và ngày càng mở rộng danh mục và khả năng kĩ thuật số của họ. Đây là những cách tốt nhất để các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, mang lại nhiều tiện ích hơn. Những kết quả này là mối quan tâm hàng đầu đối với các dịch vụ thanh toán, góp phần cải thiện hành vi sử dụng ví kĩ thuật số của người tiêu dùng tại Việt Nam.

Thứ bảy, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân hàng thương mại cần nâng cao trải nghiệm khách hàng, thiết kế nền tảng ứng dụng ví kĩ thuật số đáp ứng những tiêu chuẩn tối ưu về chất lượng dịch vụ để người tiêu dùng có thể đăng nhập và thực hiện các giao dịch thanh toán một cách dễ dàng, thuận tiện. Cần sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, đơn giản, các thiết bị kết nối Internet phải đảm bảo an toàn trong giao dịch thanh toán. Đồng thời, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân hàng thương mại hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách thức sử dụng dịch vụ thanh toán bằng văn bản, video, trực tuyến, điện thoại hoặc tại quầy khi người tiêu dùng yêu cầu. Qua đó, giúp người tiêu dùng ngày càng quen với việc sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam.

Thứ tám, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân hàng thương mại nghiên cứu phát triển các dịch vụ thanh toán ví kĩ thuật số có khả năng tương thích cao với nhiều thiết bị, liên kết với thanh toán trực tuyến phải sẵn sàng cũng như có khả năng mở rộng và phát triển trong tương lai. Đồng thời, cập nhật kịp thời, nhanh chóng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới trên các kênh trực tuyến, mở rộng liên kết giao dịch thanh toán với nhiều đối tác để người tiêu dùng thuận tiện hơn trong giao dịch thanh toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Aditya and Ekyawan (2021). Consumer Behavior Analysis in Using the Digital Payment Application. Proceedings of the 5th Global Conference on Business, Management and Entrepreneurship (GCBME 2020), pages 524-528. Paris, France. Publisher: Atlantis Press.

2. Aparna, A. (2017). e-Wallet - The Smart Walletwork’s. Joseph’s Journal of Multidisciplinary Studies, 1(1), pages 54-56.

3. BIS (2020). Central bank digital currencies: Foundational principles and core features. Retrieved from: https://www.bis.org/publ/othp33.pdf

4. Carat, G. (2002). ePayment systems database - Trends and Analysis - Electronic Payment Systems Observatory (ePSO). European Commission Joint Research Centre.

5. DBS Indonesia (2019). The 5 Differences Between E-money and E-wallet. Truy cập tại: https://www.dbs.id/id/sme/businessclass/articles/innovation-and-technology/the-5differences-between-e-money-and-e-wallet

6. Hà Văn Dương (2022). Giáo trình Tiền kĩ thuật số và công nghệ Blockchain. Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

7. Hair, J. F., Celsi, M., Money, A., Samouel, P., and Page, M. (2015). The Essentials of Business Research Methods, 3rd edition. Publisher: Routledge. New York.

8. Hulin, C., Netemeyer, R., and Cudeck, R. (2001). Can a Reliability Coefficient Be Too High? Journal of Consumer Psychology, 10(1), pages 55-58.

9. Ke, W., Chung, D., Li, W., & Furgiuele, J. (2018). How behavioral science can unleash digital

payments adoption. Available at: https://www.simon-kucher.com/sites/default/files/2018-12/SimonKucher_Report_Payment%20Adoption_Final_0.pdf

10. Najib and Karima (2022). Factors Affecting the Adoption of Electronic Payment Technology in Service Applications Online Transportation in Indonesia. Proceedings of the International Conference on Applied Science and Technology on Social Science 2021 (iCAST-SS 2021). pages 24-30. Paris, France. Publisher: Atlantis Press.

11. Ratner, B. (2009). The correlation coefficient: Its values range between +1/-1, or do they? Journal

of Targeting, Measurement and Analysis for Marketing, 17(2), pages 139 - 142.

12. Verma, A., & Farooqi, R. (2021). Determining Factors Influencing Behavioral Intention For

Usage Of Digital Remittances - A Conceptual Model. In 11th Annual International Conference on Industrial Engineering and Operations Management. The State of Michigan, America. Publisher: IEOM.

13. Venkatesh, V., Thong, J. Y. L, and Xu, X. (2012). Consumer Acceptance and Use of Information Technology: Extending the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology. MIS Quarterly, 36(1), pages 157-178.

14. Yucha, N., Setiawan, S., Muttaqiin, N., Ekasari, R., & Mauladi, K. F. (2020), Digital Payment SystemAnalysis of Buying Decision in Indonesia. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7 (10), pages 323-328.


TS. Nguyễn Thị Thúy
Đại học Thăng Long

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó cho thấy niềm tin vào ngân hàng số, khả năng kiểm soát tài chính và mức độ số hóa dịch vụ đang trở thành những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng tài chính hiện đại.
Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) tại Việt Nam, qua đó góp phần làm rõ cơ sở thực nghiệm và đề xuất các hàm ý chính sách đối với quản lý và phát triển mô hình này trong thời gian tới.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, chỉ ra “nghịch lý tiếp cận tài chính” khi tín dụng thực tế được cải thiện nhưng mức độ cảm nhận của doanh nghiệp không thay đổi, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết sử dụng bộ dữ liệu từ Khảo sát Môi trường Kinh doanh và Hiệu quả Doanh nghiệp (BEEPS) của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) và Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2018 - 2025 để phân tích vai trò của điều kiện kinh tế vĩ mô đối với quyết định quản lý năng lượng và theo dõi phát thải CO₂ của doanh nghiệp, qua đó làm rõ những động lực và rào cản cấu trúc trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thông qua bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 59.846 doanh nghiệp tại 68 quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2025, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với các đặc tả trọng số khác nhau và phân tích theo châu lục. Từ đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò khác biệt của cấu trúc sở hữu đối với quyết định giảm phát thải của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ sự chi phối của điều kiện tài chính và bối cảnh thể chế trong việc thúc đẩy hành động khí hậu ở cấp độ doanh nghiệp.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng