Ảnh hưởng của thông tin bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu

Thị trường tài chính
Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của thông tin bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu.
aa

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của thông tin bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu.

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của thông tin bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu. Sử dụng dữ liệu giá của 61 cổ phiếu được niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 trong giai đoạn từ năm 2012 - 2018, kết quả kiểm định thống kê cho thấy giá của các cổ phiếu đã tăng bình quân 0,2% ở phiên trước và 0,23% ở phiên sau ngày công bố thông tin bổ sung cổ phiếu vào danh mục.Thêm vào đó, nghiên cứu này còn ghi nhận sự đảo chiều của giá cổ phiếu ở phiên thứ 8 sau ngày công bố thông tin với mức giảm giá bình quân 0,26%. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng sự tăng giá của các cổ phiếu được duy trì và có xu hướng tăng trong 4 phiên liên tiếp sau ngày công bố thông tin. Tuy nhiên, giá của các cổ phiếu không có sự thay đổi vào ngày các cổ phiếu chính thức được niêm yết bổ sung vào rổ VN30.

1. Giới thiệu

Một trong những lý thuyết nền tảng giải thích cho sự thay đổi giá của các cổ phiếu đó là giả thuyết thị trường hiệu quả được đề xuất bởi Fama (1970). Theo Fama (1970), một thị trường được xem là hiệu quả khi tất cả các thông tin được phản ánh đầy đủ vào trong giá và khi đó, các nhà đầu tư sẽ không kiếm được lợi nhuận bất thường từ kinh doanh chênh lệch giá. Nói một cách khác, nếu thị trường là hiệu quả thì giá cổ phiếu sẽ không phụ thuộc vào việc chúng có được niêm yết bổ sung vào một chỉ số nào đó hay không. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều thị trường chứng khoán là không hiệu quả, thậm chí ở mức độ thấp nhất (weak form). Vì vậy, việc niêm yết bổ sung cổ phiếu vào danh mục thị trường có thể ảnh hưởng đến giá của chúng. Một vài nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy các bằng chứng để kết luận rằng việc niêm yết bổ sung cổ phiếu vào danh mục thị trường có ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu (Shleifer, 1986; Lynhch và Mendenhall, 1997; Chakrabarti và cộng sự, 2005).

Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường cận biên với quy mô còn khá khiêm tốn so với các thị trường trong khu vực. Để đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư về một chỉ số có tính đại diện tốt cho thị trường và để chuẩn bị cho việc phát triển các sản phẩm phái sinh, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) đã cho ra đời chỉ số VN30-Index vào ngày 6/02/2012. Theo quy định, danh mục được sử dụng để tính chỉ số VN30-Index bao gồm 30 cổ phiếu và được xem xét định kỳ 6 tháng/lần (loại cổ phiếu ra khỏi danh mục và bổ sung cổ phiếu mới vào danh mục), vào tháng 01 và tháng 07 hàng năm. Một câu hỏi được nhiều nhà đầu tư quan tâm là việc niêm yết bổ sung cổ phiếu vào danh mục VN30 có ảnh hưởng như thế nào đến giá của các cổ phiếu. Theo sự hiểu biết tốt nhất của nhóm tác giả, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố để trả lời cho câu hỏi trên. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là tìm kiếm các bằng chứng có giá trị khoa học cao để lấp đầy khoảng trống trên. Phần còn lại của bài viết được cấu trúc như sau: Mục 2 lược khảo một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài viết được trình bày ở Mục 5.

2. Lược khảo tài liệu

Bằng các phương pháp khác nhau, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục thị trường đến sự thay đổi giá của cổ phiếu. Shleifer (1986) nghiên cứu sự thay đổi giá của của các cổ phiếu khi thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục chỉ số S&P 500 được công bố trên thị trường chứng khoán NewYork. Sử dụng dữ liệu giá của 246 cổ phiếu, kết quả nghiên cứu cho thấy giá của các cổ phiếu tăng bình quân 3,0% tại ngày công bố thông tin bổ sung cổ phiếu vào danh mục S&P 500 và khoản lợi nhuận này được duy trì ít nhất là từ 10 đến 20 ngày tiếp theo. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng giá cổ phiếu không tăng vào giai đoạn 20 ngày trước khi thông tin công bố niêm yết bổ sung được công bố. Dù vẫn tồn tại các khoản lợi nhuận bất thường sau khi thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục S&P 500 được công bố, nhưng nghiên cứu này đã chứng minh rằng các khoản lợi nhuận bất thường sau đó sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng giao dịch của cổ phiếu cũng giảm dần. Khi xét trong dài hạn, lợi nhuận bất thường không còn nữa, khối lượng giao dịch cổ phiếu giảm đi hay đường cầu cổ phiếu sẽ dốc xuống.

Ngoài ra, Lynhch và Mendenhall (1997) đã đưa ra các bằng chứng mới cho thấy sự ảnh hưởng của thông tin thay đổi cổ phiếu trong danh mục S&P 500 đến giá cổ phiếu. Khác với Shleifer (1986), ngoài việc nghiên cứu sự thay đổi giá của các cổ phiếu mới được bổ sung, Lynhch và Mendenhall (1997) còn nghiên cứu sự thay đổi giá của các cổ phiếu bị loại ra khỏi danh mục S&P 500. Sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện với cửa sổ nghiên cứu bao gồm 10 phiên trước và sau ngày công bố thông tin thay đổi danh mục, kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận bất thường của nhóm cổ phiếu được niêm yết bổ sung tăng 3,8% tại ngày công bố thông tin và các cổ phiếu khi bị loại khỏi danh mục giảm 12,6%. Việc xuất hiện các khoản lợi nhuận bất thường là minh chứng cho thấy thị trường không hiệu quả. Tương tự, Cooper và Woglom (2003) nghiên cứu sâu hơn về sự thay đổi giá của các cổ phiếu trước thông tin được bổ sung vào chỉ số S&P 500. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng khi một công ty được bổ sung vào chỉ số S&P 500, giá cổ phiếu của nó tăng lên khi thông tin được công bố, lợi nhuận của cổ phiếu trở nên biến động hơn, và lợi nhuận của các cổ phiếu sẽ giảm xuống trong những tuần tiếp theo.

Ở một khía cạnh khác, Chakrabarti và cộng sự (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của thay đổi trong Tiêu chuẩn Quốc gia của MSCI cho 29 quốc gia trong giai đoạn 1998- 2001 đến sự thay đổi giá của của các cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá của các cổ phiếu có sự gia tăng sau khi thông tin bổ sung vào chỉ số được công bố. Ngược lại, các cổ phiếu bị rút khỏi các chỉ số có ​​sự sụt giảm mạnh về giá. Ngoài ra, nghiên cứu này còn kết luận rằng ảnh hưởng của thông tin bổ sung cổ phiếu vào danh mục thị trường đến giá của các phiếu mạnh và rõ ràng hơn ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển.


Liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam, Trương Đông Lộc và Bùi Đức Hoàn (2012) đã nghiên cứu sự thay đổi giá của 247 cổ phiếu khi được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ 01/07/2000 đến 31/7/2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá của các cổ phiếu đã tăng liên tục 3 phiên sau khi niêm yết với mức tăng lũy kế là 0,71% so với giá cơ sở (giá của phiên chào sàn). Ngoài ra, nghiên cứu này còn đi đến kết luận rằng xu hướng thị trường có những ảnh hưởng nhất định đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu sau niêm yết.

Tóm lại, các nghiên cứu được lược khảo ở trên đã cung cấp các bằng chứng về ảnh hưởng của thông tin niêm yết cổ phiếu bổ sung vào danh mục thị trường đến giá của các cổ phiếu. Cụ thể, giá của các cổ phiếu đều có phản ứng tích cực trước thông tin niêm yết bổ sung. Vì vậy, giả thuyết được đưa ra để thực hiện việc kiểm định trong nghiên cứu này là thông tin niêm yết bổ sung vào rổ VN30 có ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu.

3. Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu
3.1. Số liệu sử dụng

Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu là dữ liệu giá của các cổ phiếu được niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 trong giai đoạn từ 2012 đến 2018. Danh mục VN30 được xem xét định kỳ 6 tháng/lần (loại cổ phiếu ra khỏi danh mục và bổ sung cổ phiếu mới vào danh mục) vào tháng 01, tháng 7 hàng năm. Trong giai đoạn 2012 - 2018, danh mục này đã trải qua 13 lần điều chỉnh. Về mặt nguyên tắc, khi một cổ phiếu bị rút ra khỏi danh mục thì sẽ có một cổ phiếu khác được bổ sung vào sao cho bảo đảm được danh mục gồm 30 cổ phiếu. Trong suốt giai đoạn từ 2012 đến 2018, danh mục VN30 có 61 cổ phiếu được niêm yết bổ sung. Giá của các cổ phiếu được sử dụng trong nghiên cứu này là giá đóng cửa và được thu thập trên website của Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT (https://www.vndirect.com.vn). Giá của mỗi cổ phiếu khi được niêm yết bổ sung sẽ được thu thập trong 21 phiên liên tục (10 phiên trước, 10 phiên sau và ngày công bố thông tin).

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Để đo lường ảnh hưởng của việc niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study) tương tự như phương pháp đã được áp dụng bởi Lynch và Mendenhall (1997). Một cách cụ thể, ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung cổ phiếu vào danh mục VN30 được gọi là ngày sự kiện hay ngày công bố, ký hiệu AD (announcement date). Cửa sổ sự kiện (event window) được sử dụng trong nghiên cứu này là [-10,+10], 10 ngày trước và sau ngày thông tin niêm yết bổ sung được công bố , AD). Lợi nhuận (sự thay đổi giá) của các cổ phiếu được tính như sau:
rit = log (Pit) – log (Pi, t-1) ­
= log (Pit­/ Pi,t-1)
Trong đó:
rit: Lợi nhuận của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t.
Pit: Giá của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t.
Pi,t-1: Giá của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t-1.
Sau đó, để loại bỏ ảnh hưởng của những yếu tố khác đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, lợi nhuận bất thường (lợi nhuận do thông tin niêm yết bổ sung cổ phiếu tạo ra) được xác định như sau:
ARit = rit – rMt
Trong đó:
ARit (abnormal return): Lợi nhuận bất thường của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t;
rit: Lợi nhuận của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t.
rMt: Lợi nhuận thị trường ở phiên giao dịch t. Lợi nhuận thị trường được tính tương tự như lợi nhuận của từng cổ phiếu được mô tả ở trên.
Kế tiếp, lợi nhuận bất thường trung bình của từng phiên (average abnormal return - AAR) và lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế (cumulative average abnormal return - CAAR) các phiên của nhóm cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu được tính
như sau:
Trong đó:
AARt:: Lợi nhuận bất thường trung bình của mẫu tại thời
điểm t;
CAARn: Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của mẫu trong giai đoạn n;
N: Số quan sát trong giai đoạn nghiên cứu (61);
n: Số phiên trong giai đoạn nghiên cứu.
Cuối cùng, để đi đến kết luận việc niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 có ảnh hưởng hay không đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu kiểm định t sẽ được sử dụng.

4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Mức độ thay đổi giá của các cổ phiếu sau ngày công bố thông tin

Như đã trình bày ở phần trên, để nghiên cứu ảnh hưởng của của thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện. Trong giai đoạn nghiên cứu từ 2012 đến 2018, danh mục VN30 có 13 lần rà soát với 61 cổ phiếu bị loại ra và 61 cổ phiếu được bổ sung vào. Sự thay đổi giá của các cổ phiếu sau ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung được trình bày tóm tắt ở Bảng 1.


Kết quả phân tích thống kê được trình bày ở Bảng 1 cho thấy giá của các cổ phiếu đã tăng liên tục 4 phiên sau ngày công bố thông tin bổ sung cổ phiếu vào danh mục VN30 với mức tăng từ 0,48% ở phiên thứ nhất đến 1,60% vào phiên thứ 4. Sự tăng giá của các cổ phiếu lại tiếp tục sau khi cổ phiếu được chính thức bổ sung vào VN30 ở phiên thứ 6 và kéo dài đến phiên thứ 8 với mức tăng trung bình từ 1,57% đến 2,13%. Tuy nhiên, sự tăng giá của các cổ phiếu như đã trình bày ở trên ngoài yếu tố thông tin bổ sung cổ phiếu vào danh mục VN30, có thể còn do các yếu tố khác diễn ra đồng thời trên HOSE. Để loại trừ ảnh hưởng của những yếu khác đến giá cổ phiếu, nghiên cứu này sử dụng lợi nhuận bất thường và kiểm định t như đã trình bày ở phần phương pháp nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu liên quan đến lợi nhuận bất thường xung quanh ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung được trình bày ở phần tiếp theo.

4.2. Ảnh hưởng của thông tin niêm yết bổ sung đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu

Trên cơ sở tính toán lợi nhuận bất thường của 61 cổ phiếu được niêm yết bổ sung trong giai đoạn 2012 - 2018 qua 21 phiên giao dịch liên tục, lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu ở từng phiên đã được xác định. Ngoài ra, để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, giá trị thống kê t cũng được tính toán và trình bày chi tiết ở Bảng 2.


Kết quả kiểm định cho thấy giá cổ phiếu đã có sự thay đổi xung quanh ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung. Cụ thể là, trước ngày công bố thông tin (AD-1), giá của các cổ phiếu được niêm yết bổ sung đã tăng bình quân 0,2% (sau khi loại trừ các yếu tố khác). Sự tăng giá này có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Kết quả này hàm ý rằng có thể thông tin niêm yết bổ sung cổ phiếu vào danh mục VN30 đã bị rò rỉ ra bên ngoài trước khi nó được công bố chính thức. Vì vậy, thị trường đã phản ứng tích cực với thông tin này từ trước ngày công bố thông tin chính thức.

Phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây, kết quả phân tích thống kê được trình bày ở Bảng 2 còn chỉ ra rằng sau ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung giá của các cổ phiếu đã tăng bình quân 0,23% ở mức ý nghĩa thống kê 5%. Việc tăng giá này có thể là do các nhà đầu tư đánh giá các cổ phiếu được niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 là các cổ phiếu có tình hình cơ bản (sức khỏe tài chính, hiệu quả kinh doanh) tốt và thanh khoản cao. Hơn nữa, các cổ phiếu nằm trong danh mục VN30 thì cơ hội được chọn vào danh mục của các quỹ ETF (Exchange Traded Fund) càng cao. Kết quả nghiên cứu khá thú vị và hữu ích cho các nhà đầu tư được tìm thấy trong nghiên cứu này là sau khi tăng giá trong những phiên đầu tiên sau khi thông tin niêm yết bổ sung được công bố, giá cổ phiếu đã có sự đảo chiều ở phiên thứ 8 (AD+8). Cụ thể là, giá của các cổ phiếu được niêm yết bổ sung giảm 0,26% ở phiên thứ 8 tính từ khi thông tin niêm yết bổ sung được công bố.

Như vậy, có thể kết luận rằng thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 đã có ảnh hưởng tích cực đến giá của các cổ phiếu trên thị trường. Để quan sát xem sự thay đổi giá này duy trì trong bao lâu, nghiên cứu này thực hiện một bước tiếp theo là xác định lợi nhuận bất thường lũy kế của các cổ phiếu trong các giai đoạn sau ngày công bố thông tin. Lợi nhuận bất thường lũy kế trung bình của mẫu nghiên cứu ở các giai đoạn nghiên cứu được trình bày ở Bảng 3.


Qua kết nghiên cứu được trình bày ở Bảng 3 cho thấy sự tăng giá của các cổ phiếu được duy trì và có xu hướng tăng trong 4 phiên liên tiếp sau ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung. Cụ thể là, lợi nhuận bất thường bình quân lũy kế của các cổ phiếu đã tăng từ 0,23% ở giai đoạn AD+1 lên 0,57% ở giai đoạn AD+4. Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn cho thấy tại phiên cổ phiếu chính thức được bổ sung vào danh mục VN30 (AD+5), giá cổ phiếu có xu hướng giảm. Tuy nhiên, về mặt thống kê, sự giảm giá này lại không có ý nghĩa.

5. Kết luận

Nội dung chính của bài viết này là đo lường ảnh hưởng của thông tin niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu. Sử dụng dữ liệu giá của 61 cổ phiếu được niêm yết bổ sung vào danh mục VN30 trong giai đoạn từ năm 2012 - 2018, kết quả kiểm định thống kê cho thấy giá của các cổ phiếu đã có sự thay đổi xung quanh ngày công bố thông tin niêm yết bổ sung. Cụ thể là, trước ngày công bố thông tin giá của các cổ phiếu đã tăng bình quân 0,2% và tiếp tục tăng 0,23% ở phiên tiếp theo sau ngày công bố thông tin. Ngoài ra, nghiên cứu này còn ghi nhận sự đảo chiều của giá cổ phiếu ở phiên thứ 8 sau ngày công bố thông tin. Hơn thế nữa, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng sự tăng giá của các cổ phiếu được duy trì và có xu hướng tăng trong 4 phiên liên tiếp sau ngày công bố thông tin. Tuy nhiên, giá của các cổ phiếu không có sự thay đổi khi các cổ phiếu chính thức được niêm yết bổ sung vào rổ VN30.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Chakrabarti, R., Huang, W., Jayaraman, N., and Lee, J., 2005. Price and volume effects of changes in MSCI indices–nature and causes. Journal of Banking & Finance, 29(5), pp. 1237-1264.
2. Cooper, D. and Woglom, G., 2003. The S&P 500 effect: Not so good in the long run. The Journal of Investing, 12(4), pp. 62-73.
9. Fama, E. F., 1970. Efficient capital markets: A review of theory and empirical work, The Journal of Finance, 25(2), pp. 383-417.
3. Lynch, A. and R. Mendenhall, 1997. New evidence on stock price effects associated with changes in the S&P 500 Index. Journal of Business, 70, pp. 351-383.
4. Shleifer, A., 1986. Do Demand Curves for Stocks Slope Down? Journal of Finance, 41, pp. 579-590
5. Trương Đông Lộc và Bùi Đức Hoàn, 2012. Sự thay đổi giá của các cổ phiếu sau niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Ngân hàng, số 5, trang 44 – 47.

Lê Như Hiếu

PGS., TS. Trương Đông Lộc

Nguồn: TCNH số 19/2018

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Bài viết phân tích những thách thức lớn của thị trường tài chính toàn cầu năm 2025, từ gánh nặng nợ công gia tăng, khủng hoảng bất động sản tại các nền kinh tế chủ chốt đến rủi ro địa chính trị và an ninh tài chính, đồng thời đánh giá triển vọng và hàm ý chính sách trong bối cảnh mới.
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Bài viết phân tích tác động của phân mảnh kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp ngoại thương theo hướng xanh và bền vững, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng như hạ tầng chiến lược và đặt phát triển con người ở vị trí lõi để vừa củng cố năng lực cạnh tranh, vừa hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 với dấu ấn phục hồi mạnh mẽ, cải thiện chất lượng thể chế và bước tiến nâng hạng, đồng thời phân tích bối cảnh, cơ hội, thách thức và các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững và hội nhập sâu hơn trong năm 2026.
Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bài viết phân tích vị trí, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong ổn định vĩ mô và dẫn dắt tăng trưởng, kiến tạo không gian phát triển cũng như thúc đẩy các động lực mới của nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo

Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo

Bài viết phân tích vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế, làm rõ những điểm sáng trong giai đoạn 2021 - 2025, đặc biệt năm 2025, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành