Vai trò của Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam trong hỗ trợ tăng tính liên kết hệ thống

Hoạt động ngân hàng
Bài viết phân tích vai trò và hoạt động của Hiệp hội QTDND trong tăng cường liên kết hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, chỉ ra các hạn chế hiện tại và đề xuất giải pháp khắc phục.
aa

Tóm tắt: Bài viết này tập trung nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam (Hiệp hội QTDND) trong tăng cường tính liên kết hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Bài viết chỉ ra những hạn chế hiện nay của các QTDND; đồng thời phân tích các hoạt động hỗ trợ của Hiệp hội QTDND, qua đó, đề xuất một số giải pháp khắc phục.

Từ khóa: Tính liên kết hệ thống, hệ thống QTDND, Hiệp hội QTDND.

THE ROLE OF VIETNAM ASSOCIATION OF PEOPLE'S CREDIT FUNDS IN SUPPORTING GREATER SYSTEM INTEGRATION

Abstract: This article focuses on examining the role, functions, responsibilities of Vietnam Association of People’s Credit Funds in supporting People's Credit Fund to improve system integration. The article highlights the current limitations of People’s Credit Funds and analyzes the supporting activities by Association of People’s Credit Funds. Based on this analysis, several solutions are proposed to address existing challenges.

Keywords: System integration, People’s Credit Funds system, Association of People’s Credit Funds.

Hệ thống QTDND được thành lập theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ triển khai Đề án thí điểm thành lập QTDND, thuộc loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) là hợp tác xã, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh tập thể và từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cải thiện đời sống nhân dân.

Ngày 10/10/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, theo đó, chỉ đạo hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của các QTDND theo hướng chuyển dần từ mô hình bao gồm QTDND, QTDND khu vực và QTDND Trung ương sang mô hình chỉ còn QTDND cơ sở và QTDND Trung ương.

Đến năm 2013, theo quy định của Luật Các TCTD và Thông tư số 31/2012/TT-NHNN ngày 26/11/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về Ngân hàng Hợp tác xã, theo đó, QTDND Trung ương đã chuyển đổi thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) với hoạt động chủ yếu là điều hòa vốn và thực hiện các hoạt động ngân hàng đối với thành viên là các QTDND.

Sau 30 năm hoạt động, hệ thống QTDND và Co-opBank đã không ngừng hoàn thiện, phát triển và chứng minh là một tổ chức có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương, hỗ trợ các đối tượng thuộc tài chính toàn diện tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng.

Trong dòng chảy phát triển hệ thống, Hiệp hội QTDND chính thức được thành lập từ năm 2006, là tổ chức xã hội nghề nghiệp do các QTDND tự nguyện thành lập nhằm mục đích tập hợp, động viên các hội viên hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ đào tạo; kết nối hội viên với cơ quan quản lý Nhà nước; tuyên tuyền cơ chế chính sách của Nhà nước tới các hội viên, đồng thời tổ chức liên kết giữa các hội viên nhằm hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần đảm bảo cho hệ thống QTDND hoạt động an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững. Tính đến tháng 02/2025, Hiệp hội QTDND đã có 1.147 hội viên, bao gồm: Co-opBank là hội viên lớn, hội viên sáng lập Hiệp hội QTDND và 1.146 QTDND (chiếm 97,2% tổng số QTDND trên cả nước). Về cơ bản, kể từ khi thành lập đến nay, Hiệp hội QTDND đã phát huy được vai trò và nhiệm vụ của mình, đặc biệt có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tính liên kết hệ thống đối với hội viên là các QTDND và Co-opBank.

1. Hiệp hội QTDND cung cấp nền tảng giao lưu, hợp tác và tăng tính tuân thủ

Nhìn lại sự phát triển của hệ thống QTDND có thể thấy rõ thế mạnh của các QTDND so với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các đối tượng yếu thế. Hệ thống QTDND hoạt động ở nhiều địa bàn mà ở đó các NHTM khó tiếp cận. Hơn nữa, các QTDND bám sát người dân trên địa bàn, được người dân tin cậy nên thuận lợi hơn trong việc tuyên truyền, tư vấn tài chính. Tuy nhiên, các lợi thế này dần mất đi khi các NHTM ứng dụng mạnh mẽ công nghệ 4.0 vào sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Điều này đòi hỏi các QTDND phải có giải pháp phù hợp với tình hình mới, đổi mới hoạt động, nâng cao sức hút đối với thành viên. Liên kết hệ thống là một trong những giải pháp quan trọng để hỗ trợ các QTDND gia tăng tính cạnh tranh.

Nhận thức rõ những thách thức hoạt động của hệ thống QTDND trong tiến trình phát triển, ngay từ khi đi vào hoạt động, Hiệp hội QTDND đã tập trung tạo ra môi trường để các QTDND có thể gặp gỡ, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Hằng năm, Hiệp hội QTDND tổ chức các khóa đào tạo, khảo sát thực tế để hỗ trợ các QTDND nâng cao trình độ, năng lực quản trị và nghiệp vụ. Các khóa học này là môi trường rất quan trọng để các QTDND giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau về quản lý và xử lý vướng mắc, qua đó đồng bộ hóa các hoạt động trong hệ thống.

Từ năm 2020 - 2024, Hiệp hội QTDND đã tổ chức được 29 khóa học về nghiệp vụ cho 2.442 học viên, 05 khóa đào tạo bồi dưỡng cấp chứng chỉ kế toán trưởng cho 407 học viên đang làm việc tại QTDND, 28 khóa học chuyên sâu cho 2.698 học viên với các nội dung như: Kiến thức pháp luật liên quan đến quan hệ dân sự; chiến lược cạnh tranh trong nền kinh tế số; kỹ năng lãnh đạo; hướng dẫn áp dụng ba loại thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân và các vướng mắc liên quan đến hoạt động QTDND; hướng dẫn đọc báo cáo tài chính, quản trị rủi ro, chuyển đổi số hệ thống QTDND từ nhận thức đến hành động; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng và cách thức khắc phục tại các QTDND...

Thực hiện Văn bản số 1203/NHNN-TTGSNH ngày 27/02/2023 của NHNN về việc hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến QTDND, năm 2023 - 2024, Hiệp hội QTDND đã phối hợp chặt chẽ với Co-opBank và các cơ sở đào tạo tổ chức 20 khóa đào tạo với 02 nội dung cơ bản là “Nghiệp vụ tín dụng” và “Kiểm soát, kiểm toán nội bộ”. Các khóa đào tạo đã thu hút được 4.743 học viên trong toàn hệ thống QTDND, góp phần nâng cao năng lực và trình độ cho lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ của QTDND, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và tư vấn giải quyết những vấn đề phức tạp trên thực tế mà các QTDND đang gặp phải. Trong suốt thời gian diễn ra các khóa học, học viên không chỉ tiếp thu được những kiến thức mới mà còn đánh giá rất cao về công tác tổ chức của Hiệp hội QTDND với phương thức đào tạo đổi mới, chất lượng giảng viên cũng như kiến thức mới đã mang lại nhiều điều bổ ích cho các QTDND.

Bên cạnh đó, Hiệp hội QTDND cũng thường xuyên có những văn bản khuyến nghị, cung cấp thông tin về các quy định, chính sách mới trong lĩnh vực hoạt động của QTDND và cảnh báo tình hình thay đổi thị trường, nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến hoạt động của QTDND qua các hình thức như gửi văn bản, gửi thư, đăng trên trang Web của Hiệp hội. Đặc biệt, Hiệp hội QTDND dành một chuyên mục hỏi đáp pháp luật trên trang Web nhằm tư vấn, hỗ trợ các QTDND tuân thủ đúng quy định pháp luật, qua đó nâng cao tính ổn định và uy tín của hệ thống QTDND.

2. Mở ra các hoạt động kết nối tăng cường sức mạnh tập thể

Ngoài việc phối hợp triển khai công tác đào tạo, Hiệp hội QTDND đã cùng với Co-opBank nghiên cứu và đưa ra các dự thảo quy định nội bộ mẫu về Điều lệ QTDND; quy định về cho vay đối với thành viên; quy định về giao dịch bảo đảm; quy định về giao dịch tiền gửi tiết kiệm; quy định về quản lý sổ tiết kiệm và ấn chỉ có giá; quy định về giới hạn, tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của QTDND; danh mục các văn bản quy định nội bộ cần ban hành; Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ QTDND… giúp các QTDND ban hành các quy định nội bộ đúng pháp luật, tự xây dựng đề cương chiến lược phát triển QTDND.

Cùng với các hoạt động chuyên môn, thời gian qua, Hiệp hội QTDND đã tạo ra sân chơi gắn kết tập thể như tổ chức các hội thảo, tọa đàm trao đổi về cơ chế chính sách, tổ chức hội thao trong toàn hệ thống. Trong năm 2020, Hiệp hội QTDND đã tổ chức thành công hội thao cho hệ thống QTDND khu vực miền Bắc và miền Trung với sự tham gia của 12 đoàn với hơn 800 vận động viên và cổ động viên đến từ gần 500 QTDND. Đó không chỉ là sân chơi thể thao mà còn là cơ hội để các thành viên giao lưu, học hỏi, thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó, vui khỏe vì sự lớn mạnh của hệ thống QTDND. Tiếp nối thành công đó, năm 2023, Hiệp hội QTDND đã phối hợp với Co-opBank tiếp tục tổ chức 02 đợt hội thao với phạm vị rộng hơn, số lượng hội viên tham gia đông hơn (khoảng trên 2.500 người) của tất cả QTDND và Co-opBank. Bên cạnh ý nghĩa của việc nâng cao rèn luyện sức khỏe, các hội thao đã tạo thêm nhiều cơ hội gắn kết giữa các QTDND và Co-opBank để tăng cường giao lưu học tập, trao đổi kinh nghiệm, thông tin nhiều hơn về hoạt động của hệ thống QTDND, tạo động lực cho cán bộ QTDND và Co-opBank hăng hái hơn vì sự phát triển của hệ thống. Năm 2024, Hiệp hội QTDND đã tổ chức Chương trình Giải chạy “QTDND & Co-opBank Run - 2024” dành cho hệ thống QTDND và Co-opBank thuộc Văn phòng đại diện Thành phố Hà Nội. Với gần 400 người tham gia thi đấu và cổ vũ, giải chạy được xem mang tính quy mô và có sức lan tỏa tới cộng đồng. Hệ thống QTDND và Co-opBank đã khẳng định năng lực và sự cống hiến những giá trị thiết thực cho cộng đồng, xã hội. Sự tham gia đông đảo, nhiệt tình của các thành viên một lần nữa khẳng định sức mạnh đoàn kết, sự quyết tâm, đồng lòng, đồng sức vì một hệ thống phát triển, vững mạnh và trên tất cả là sự tin tưởng, ủng hộ của hội viên, sự đánh giá cao của các cơ quan quản lý Nhà nước dành cho Hiệp hội QTDND.

Cùng với đó, Hiệp hội QTDND đã tổ chức nghiên cứu, xin ý kiến chuyên gia để xây dựng logo cho các QTDND, cho đến nay tất cả các QTDND đều sử dụng logo này. Trong năm 2021, sau khi khảo sát, nghiên cứu cho thấy biển hiệu các QTDND không đồng nhất trong toàn quốc, ảnh hưởng đến sự nhận diện, uy tín và liên kết hệ thống. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hiệp hội QTDND đã chỉ đạo phải thống nhất biển hiệu và bộ nhận diện cho toàn hệ thống QTDND. Với sự quyết tâm cao, Hiệp hội QTDND và Co-opBank đã và đang tiếp tục hoàn thiện bộ nhận diện cho các QTDND trong toàn quốc. Trong năm 2024, đã thí điểm 10 QTDND sử dụng biển hiệu, logo, slogan mới... Điều này đã tạo nên tính liên kết không thể tách rời và gia tăng sự nhận diện hệ thống QTDND trên toàn quốc.

Tất cả những hoạt động trên đã làm tăng sức mạnh của hệ thống, tạo ra tiếng nói chung vì sự phát triển an toàn và bền vững, tạo điều kiện để các QTDND phát huy hiệu quả thế mạnh mang đến nhiều lợi ích cho các thành viên.

3. Điểm tựa hỗ trợ về công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trong bối cảnh hiện đại hóa, số hóa nền kinh tế, việc nâng cao năng lực cho các QTDND là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhận thức rõ vấn đề này, Hiệp hội QTDND đã thúc đẩy việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý và điều hành hỗ trợ các sáng kiến mới, sáng tạo trong việc cải tiến sản phẩm, dịch vụ tài chính của các QTDND thông qua việc xây dựng, vận hành Công ty TNHH Phát triển và ứng dụng tin học trực thuộc Hiệp hội (Công ty tin học) từ ngày 12/8/2008. Những năm qua, sản phẩm phần mềm của Công ty tin học luôn được các QTDND đánh giá là chương trình dễ khai thác sử dụng, phù hợp với hệ thống QTDND.

Hiện nay, Công ty tin học đã triển khai phần mềm cho hơn 404 QTDND trên địa bàn 39 tỉnh, thành phố khắp cả nước và 01 Hội Phụ nữ nghèo ở tỉnh Phú Thọ. Với mục tiêu luôn đồng hành và hỗ trợ các QTDND khai thác tối đa, hiệu quả các tính năng, tiện ích, hệ thống báo cáo của phần mềm quản lý nghiệp vụ ITD-VAPCF, cũng như thường xuyên chú trọng nâng cấp, phát triển phần mềm nhằm phục vụ hiệu quả hội viên. Công ty tin học đã đáp ứng yêu cầu cấp thiết của việc tin học hóa hoạt động của các QTDND hội viên, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ hội viên thông qua khai thác sử dụng phần mềm ITD-VAPCF. Việc phát triển phần mềm ITD-VAPCF quản lý dành cho hệ thống QTDND và phần mềm báo cáo theo yêu cầu của NHNN trong từng giai đoạn của Công ty phát triển Công nghệ tin học ITD-VAPCF cũng đã được các hội viên ghi nhận hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành quỹ.

Hiệp hội QTDND đã phối hợp với Co-opBank hỗ trợ các QTDND chuyển đổi số qua việc mở các lớp học nâng cao nhận thức cho lãnh đạo và cán bộ, nghiên cứu đề xuất kế hoạch, lộ trình, chiến lược bước vào hành trình chuyển đổi số của QTDND.

Có thể nói, bằng cách kết nối các QTDND trong một mạng lưới liên kết, Hiệp hội QTDND đã tạo dựng một hệ thống các QTDND có kết nối chặt chẽ, đồng bộ, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động và đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế. Điều này không chỉ có lợi cho các QTDND mà còn giúp cho các cộng đồng mà QTDND phục vụ thông qua việc cung cấp nhiều dịch vụ tín dụng hợp lý, hiệu quả. Xét toàn diện, tính liên kết hệ thống QTDND đã có sự đổi mới, đi vào chiều sâu, tuy nhiên vẫn còn có những khía cạnh chưa thực sự chặt chẽ, chưa phát huy hết tiềm năng thực sự của mô hình hợp tác xã.

4. Tháo gỡ rào cản, tăng cường tính liên kết hệ thống

Xét trên khía cạnh kinh tế, tính liên kết hệ thống chỉ chặt chẽ khi các mối liên kết dọc, ngang được hình thành trên cơ sở lợi ích giữa các bên được đảm bảo. Tính liên kết hệ thống đối với hệ thống QTDND bao gồm: Mối liên kết dọc giữa QTDND với các thành viên; mối liên kết ngang giữa các QTDND với nhau và với Co-opBank. Hiện nay các mối liên kết này đã được hình thành, nhưng tính chặt chẽ chưa cao.

Thực tế thời gian qua cho thấy, thành viên của các QTDND chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động của các QTDND, đôi khi còn lúng túng trong việc giám sát hoạt động của QTDND. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội QTDND, do đặc tính vốn có của người dân trên địa bàn nông thôn có suy nghĩ đơn giản, cùng với hiểu biết hạn chế về tài chính, ngân hàng nên người dân ít quan tâm, tìm hiểu sâu về hoạt động của QTDND. Nhiều người dân trở thành thành viên của QTDND xuất phát từ lòng tin, sự tín nhiệm đối với người đứng đầu QTDND hơn là sự hiểu biết những quy định có tính pháp lý đối với hoạt động của QTDND, do đó, sự gắn kết của thành viên đối với QTDND chưa cao…

Để tăng cường mối liên kết dọc giữa QTDND và thành viên thì việc thiết lập một cơ chế kiểm soát nội bộ, gia tăng vai trò giám sát của các thành viên đối với hoạt động của QTDND cần được nghiên cứu thêm để có giải pháp phù hợp, có tính khả thi. Các giải pháp cần hướng tới bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên.

Hiện nay, nhiều QTDND đã thực hiện những giải pháp dựa trên cơ sở tạo lợi ích từ QTDND cho các thành viên như thăm hỏi, tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa tại địa phương để hỗ trợ thành viên; thực hiện khen thưởng đối với các thành viên tại kỳ Đại hội QTDND… Tuy nhiên, để tính liên kết ngang trong chính các QTDND tăng lên, trong bối cảnh hiểu biết về tài chính của thành viên còn hạn chế, QTDND cần chủ động tiếp cận sâu hơn thông qua việc thông tin với thành viên về quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng những sản phẩm của QTDND; phổ biến cho thành viên những kiến thức cơ bản về việc lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh, quản lý dòng tiền thu nhập và chi phí, lên phương án/dự án vay vốn QTDND; tạo lập thói quen tiết kiệm, lựa chọn sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của QTDND…, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và cải thiện đời sống gia đình của thành viên giúp cho thành viên thấy được lợi ích thực sự khi gắn bó với QTDND.

Trong mối liên kết ngang này, vai trò của Co-opBank là rất quan trọng để gia tăng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số của QTDND cung ứng cho thành viên, hỗ trợ các QTDND bước sâu vào hành trình chuyển đổi số dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại của Co-opBank. Để tăng cường mối liên kết này, trước hết cần nâng cao vai trò đầu mối của Co-opBank, nâng cao năng lực tài chính cho Co-opBank qua việc cấp thêm vốn điều lệ lên 5.000 tỉ đồng, đầu tư đổi mới công nghệ để Co-opBank phát huy hiệu quả vai trò là ngân hàng của tất cả các QTDND.

Về phía Hiệp hội QTDND, thời gian tới, cần tiếp tục phát huy vai trò của mình để hỗ trợ các QTDND hội viên trong quá trình phát triển, tăng cường liên kết dọc. Trong đó, đẩy mạnh công tác tư vấn, đào tạo cho các QTDND không chỉ quản trị điều hành, kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, phát triển bộ nhận diện thương hiệu của hệ thống mà còn trang bị cho các QTDND những kiến thức về chăm sóc thành viên, phổ biến những kiến thức tài chính… để các QTDND tiếp cận gần hơn các thành viên của mình và thực hiện đúng tôn chỉ mục đích là TCTD hợp tác xã. Đồng thời, Hiệp hội QTDND tiếp tục làm tốt vai trò cầu nối với các cơ quan quản lý Nhà nước để kịp thời phản biện và đề xuất, kiến nghị tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nhân rộng hình ảnh, thương hiệu của hệ thống QTDND và Co-opBank trên toàn quốc.■

Tài liệu tham khảo:

1. Đề tài nghiên cứu khoa cấp cơ sở “Giải pháp cải thiện vai trò của Hiệp hội QTDND Việt Nam", Mã số: ĐTNH-CS.006/19.

2. Website NHNN.

Nguyễn Đức Dũng
Tổng Thư ký Hiệp hội QTDND

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng