Tín dụng học sinh, sinh viên: Tiếp sức xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao quốc gia

Hoạt động ngân hàng
7 năm triển khai Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên (HSSV), đặc biệt, từ sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội...
aa

17 năm triển khai Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên (HSSV), đặc biệt, từ sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội, chương trình tín dụng đối với HSSV thực sự trở thành chương trình tín dụng lớn, không chỉ hỗ trợ HSSV không phải bỏ học vì khó khăn về kinh tế mà còn góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa Việt Nam phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực địa phương

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hưng Yên, Trưởng Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Hưng Yên Nguyễn Lê Huy cho biết, theo Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 489/QĐ-TTg ngày 10/6/2024, tỉnh Hưng Yên được Quy hoạch 35 khu công nghiệp và 50 cụm công nghiệp. Tính đến nay, tỉnh Hưng Yên đã giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng hạ tầng với gần 3.000 ha để sẵn sàng cho việc tiếp nhận các dự án đầu tư. Chính vì vậy, nhu cầu về nguồn nhân lực đối với địa phương là rất cấp thiết.

Theo dự tính đến năm 2030, mỗi năm, tỉnh Hưng Yên có thêm khoảng 30.000 lao động có việc làm, trong đó Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đặt ra là trên 71% lao động qua đào tạo. “Vì vậy, bên cạnh việc ban hành nhiều chính sách, bố trí nguồn lực để hỗ trợ đào tạo nghề, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, UBND tỉnh đã chỉ đạo Chi nhánh NHCSXH tỉnh Hưng Yên phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền địa phương các cấp thực hiện tốt công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện chính sách tín dụng đối với HSSV theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, thực hiện chủ trương không để HSSV nào phải bỏ học vì khó khăn về tài chính”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Nguyễn Lê Huy cho biết.



Nguồn vốn tín dụng HSSV đã hỗ trợ em Vũ Văn Anh theo đuổi ước mơ học đại học

Kết quả chỉ riêng 10 năm trở lại đây, đã có hơn 6 nghìn HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn, giúp các em có cơ hội học tập, phấn đấu cho tương lai, đồng thời đây cũng là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển tỉnh Hưng Yên trong hiện tại và tương lai.

Như trường hợp em Vũ Văn Anh, lớp 106214 Khoa Cơ khí Động lực của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, cư trú tại Thôn Hạ, xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cuộc sống rất khó khăn khi nhà có 3 anh em đang tuổi ăn, tuổi học, trông cả vào việc cha mẹ đi làm thợ xây. Bà Lê Thị Nga, mẹ của Vũ Văn Anh cho biết, năm đầu tiên con đi học dù khó khăn nhưng gia đình vẫn cố gắng gồng gánh lo cho con ăn học. Tuy nhiên, bước vào năm học thứ 2, bà Nga phát hiện mình bị bệnh tim nặng, chỉ tính riêng tiền thuốc mỗi tháng đã tiêu tốn khoảng 3,5 triệu đồng, chưa kể chi phí phẫu thuật.

“Lúc đó tôi rất hoang mang, không biết tương lai mình ra sao”, bà Nga tâm sự. Trước đây, cả hai vợ chồng đi làm được 550 nghìn đồng/ngày, làm đủ cả tháng cũng được 17 triệu đồng, nhưng khi bà Nga ốm, trông cả vào thu nhập của chồng là 12 triệu đồng, không đủ chi tiêu, thuốc thang. “Nếu không vay được nguồn vốn tín dụng HSSV, gia đình cũng không có nguồn thu nào thêm cho cháu đi học, chắc chắn cháu phải bỏ học”, bà Nga cho biết.

Cũng nhờ nguồn vốn vay HSSV, đến nay, Vũ Văn Anh đã bước vào năm học thứ 4. Gánh nặng chi phí tài chính cho con ăn học giảm giúp bà Nga dành dụm được tiền để phẫu thuật tim lần thứ nhất. Năm nay, con trai thứ hai của bà Nga cũng đỗ vào trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, còn bà thì đang gom góp có đủ tiền để làm phẫu thuật tim lần thứ hai vào tháng 10/2024. Nhiều người khuyên bà Nga cho con nghỉ học, đi làm đỡ đần cha mẹ, song bà nghĩ “đời mình đã khổ chỉ mong con mình sau này có tương lai tươi sáng hơn bố mẹ”. Vì vậy, bà Nga lại tiếp tục làm hồ sơ vay cho con thứ hai đi học. “Chúng tôi nghĩ, cố gắng tạo hết mọi điều kiện cho con đi học, mẹ bị bệnh nhưng không vì thế mà con phải nghỉ học. Tất cả là đều nhờ NHCSXH đã tạo điều kiện giúp cho gia đình được tiếp cận nguồn vốn vay HSSV để các cháu có cơ hội học tập, tạo dựng tương lai”, bà Nga chia sẻ.

Ông Nguyễn Minh Quý, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên cho biết, sinh viên học tại trường đến từ các tỉnh, thành trong cả nước, phần lớn là con em nông dân, điều kiện kinh tế gia đình nhiều em còn khó khăn, cần hỗ trợ tài chính để học tập. Chính vì vậy, ngay từ khi các em nhập trường, nhà trường đã phối hợp với NHCSXH tuyên truyền chương trình tín dụng HSSV, đồng thời, tạo điều kiện cấp giấy xác nhận học tập tại trường hằng năm để các em kịp thời vay vốn. Bình quân hằng năm có khoảng 450 - 500 sinh viên của nhà trường vay vốn HSSV để học tập.

Ông Nguyễn Minh Quý cũng cho biết, khóa 18 của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên có hai em là thành viên xuất sắc của đội tuyển Robocon giành giải Nhất và giải Nhì trong Chung kết cuộc thi sáng tạo Robot Việt Nam - Robocon Việt Nam 2024 và một em đạt giải quốc gia trong kỳ thi Olympic Toán học sinh viên và học sinh toàn quốc cũng đang vay vốn HSSV để học tập. “Đây là minh chứng cho thấy chính sách cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn là quan trọng hỗ trợ không chỉ cho sinh viên mà cả nhà trường trong việc thực hiện chủ trương đào tạo sinh viên khoa học kỹ thuật có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu xã hội và định hướng phát triển công nghiệp của cả nước”, ông Quý chia sẻ.

Điều tra, khảo sát của nhà trường cho thấy, sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên khi ra trường làm việc tại các sở, ngành, doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong tỉnh luôn được đánh giá cao. 60 - 70% có việc làm trong 3 tháng đầu tiên và tỉ lệ này lên tới hơn 90% sau một năm ra trường.

Động năng phát triển cho các địa phương

Hiệu ứng dòng chảy tín dụng chính sách càng thêm mạnh khi nhiều HSSV sau khi được vay vốn đi học và tốt nghiệp ra trường đã trở về nơi “chôn rau cắt rốn”, vùng sâu, vùng xa của Tổ quốc góp phần kiến thiết địa phương.

Như ở Thượng Nông, xã nghèo nhất của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, nhờ có nguồn vốn tín dụng HSSV mà ông Lường Xuân Việt, dân tộc Tày, thôn Bản Khoan, xã vùng III Thượng Nông đã gồng gánh được 8 đứa con học hành đến nơi đến chốn. Trong đó, 5 người tốt nghiệp đại học, 1 người tốt nghiệp cao đẳng, 2 người tốt nghiệp trung cấp nghề. Đặc biệt, con gái ông là Lường Thị Oanh, tốt nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) hiện đang công tác tại UBND xã Thượng Nông trên cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, đang hằng ngày cùng NHCSXH hỗ trợ bà con xã Thượng Nông tiếp cận tín dụng, phát triển kinh tế, gieo thêm niềm tin và hy vọng đổi đời cho những người dân vùng quê nghèo khó.

Đối với gia đình ông Vi Văn Tiên, dân tộc Nùng, xóm Làng Tràng, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên thì niềm tự hào không chỉ là gia đình ông đã ra khỏi danh sách hộ nghèo, hiện có 1 ha bưởi chuyển đổi từ trồng ngô cùng 1 mẫu ruộng và thu nhập làm công nhật những ngày nông nhàn đủ để gia đình ông có cuộc sống ổn định, mà hơn thế là 3 đứa con đều học đại học, tốt nghiệp ra trường, hiện tại đang tận lực đóng góp vào sự nghiệp trồng người và chăm sóc sức khỏe người dân Thái Nguyên.

Chị Vi Thị Phụng, con gái lớn của ông Tiên giờ đang là giáo viên Trường Tiểu học Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Ngày ấy nhà em thuần nông, công việc trong gia đình do em đỡ đần hết, nên khi nhận được giấy trúng tuyển Trường Cao đẳng Thái Nguyên, em đã rất lo lắng và có ý định nghỉ học để đỡ tạo gánh nặng kinh tế cho gia đình. Nhờ có sự động viên của gia đình, em có suy nghĩ tích cực hơn về tương lai cho bản thân, gia đình và xã hội. Em quyết tâm theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo đưa con chữ, mang tương lai tri thức đến cho các em, cũng như mong muốn bản mình vươn lên thoát khỏi cuộc sống khó khăn và có thể giúp đỡ bố mẹ”. Ước mơ của chị Phụng giờ đã trở thành hiện thực. Bên mái ấm với người chồng cũng là đồng nghiệp và sự yêu thương của gia đình, chị Phụng càng có thêm động lực, niềm tin, ý chí mang những con chữ và tri thức thắp sáng tương lai cho các con em quê hương mình.

Đó chỉ là một vài nét sơ thảo về hiệu quả của việc triển khai chính sách tín dụng HSSV thời gian qua. Hiện nay, mức cho vay đối với HSSV được nâng lên, lãi suất cho vay của chương trình tín dụng HSSV được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với thực tế trong từng thời kỳ. Theo Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg ngày 23/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, chính sách tín dụng đối với HSSV được áp dụng để hỗ trợ cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn, góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của HSSV trong thời gian theo học tại trường bao gồm: Tiền học phí, chi phí mua sắm sách, vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại. Đối tượng vay vốn được mở rộng đến các HSSV có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm: HSSV mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; HSSV là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: Hộ nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật, hộ cận nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật, hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật; HSSV mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với NHCSXH và các bộ, ngành liên quan thành lập Đoàn công tác liên ngành làm việc với một số ngân hàng và tập đoàn kinh tế để trao đổi, thảo luận các nội dung liên quan đến việc tham gia đóng góp nguồn vốn cho chương trình tín dụng HSSV. Các ngân hàng và tập đoàn kinh tế được tiếp xúc đều ủng hộ mục tiêu xã hội hóa nguồn vốn cho vay đối với chương trình tín dụng HSSV và coi đây là trách nhiệm mà các đơn vị sẵn sàng gánh vác cùng Chính phủ trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Một số đơn vị như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB)... đã tham gia đầu tư trái phiếu NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh, qua đó gián tiếp tạo nguồn vốn cho NHCSXH để thực hiện cho vay chương trình tín dụng HSSV.

Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, NHCSXH trong công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện; giải đáp kịp thời những ý kiến thắc mắc trong quá trình thực hiện của các địa phương, cơ sở đào tạo và đối tượng thụ hưởng... Đồng thời, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Qua 17 năm thực hiện chương trình tín dụng HSSV, đã có trên 3,9 triệu lượt HSSV được vay hơn 80 nghìn tỉ đồng để trang trải chi phí học tập. Nguồn vốn tín dụng chính sách không chỉ tạo chỗ dựa, niềm tin cho HSSV nghèo mà còn góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia.

Chính sách cần bao quát và đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW nhận định: “Kết quả đạt được cho thấy, đây là một trong các chính sách của Nhà nước nhằm thực hiện công bằng xã hội, hỗ trợ và tạo cơ hội cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt trong thời gian theo học tại trường. Chính sách này đã giúp cho một bộ phận nhân dân có thu nhập thấp có được sự bình đẳng về đào tạo, hỗ trợ kinh phí để theo học các bậc học khác nhau, kể cả đào tạo nghề, giúp họ có thể có một việc làm ổn định, phát triển kinh tế cho bản thân và gia đình”. Với ý nghĩa to lớn đó, chính sách tín dụng đối với HSSV đã đi vào cuộc sống, được nhân dân đón nhận và nhiệt tình ủng hộ.



Nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách, chị Vi Thị Phụng đã thực hiện được ước mơ

trở thành giáo viên Trường Tiểu học Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Đây cũng là thách thức mới cho các nhà làm chính sách cũng như NHCSXH trong việc tận dụng chương trình tín dụng HSSV đáp ứng yêu cầu mới và vận hội nước nhà.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tín dụng HSSV cũng cho thấy một số vấn đề cần được tháo gỡ. Đặc biệt, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế số, xã hội số, nhu cầu vay vốn của sinh viên không dừng lại ở việc chi trả chi phí học tập mà còn phục vụ nhu cầu mua sắm các trang thiết bị phục vụ việc học tập, nghiên cứu ở mức độ cao như máy tính cá nhân tốc độ cao...

Hiện nay, tại một số địa phương, việc triển khai rà soát, xác định thu nhập của hộ gia đình có mức sống trung bình theo Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg ngày 16/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 -

2025; Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH ngày 18/7/2021 của Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo, xác định thu nhập của hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 và mẫu biểu báo cáo thực hiện chưa kịp thời, các hộ dân mặc dù đã được tuyên truyền nhưng chưa chủ động, chưa mạnh dạn đề nghị chính quyền điều tra, xác nhận là hộ có mức sống trung bình để được vay vốn. Do đó, nhiều hộ chưa được tiếp cận nguồn vốn tín dụng HSSV.

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc này, NHCSXH đã phối hợp với chính quyền địa phương và nhà trường để triển khai thực hiện chương trình tín dụng HSSV, nắm bắt tình hình HSSV vay vốn, phối hợp quản lý việc sử dụng nguồn vốn vay; tiếp tục tuyên truyền sâu rộng trong toàn thể HSSV về ý nghĩa, mục đích của chương trình, nhắc nhở HSSV được vay vốn khi tốt nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ cho NHCSXH và yêu cầu sinh viên ký cam kết trả nợ trước khi tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành cần đề xuất với Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, đánh giá nhu cầu vay vốn của HSSV, xây dựng các gói vay phù hợp với nhu cầu của HSSV; bảo đảm mức vay vốn đáp ứng được nhu cầu tối thiểu, đủ để trang trải các chi phí học tập, đặc biệt tại các thành phố lớn. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ sinh viên tìm kiếm việc làm, khởi nghiệp hoặc tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp. Trong đó, có thể xây dựng, hình thành các Quỹ cộng đồng để giúp sinh viên tốt nghiệp có thể vay vốn phát triển các dự án khởi nghiệp.

Minh Ngọc (NHNN)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng