Tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) là ngân hàng có chức năng thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; hoạt động của NHCSXH không vì mục tiêu lợi nh...
aa

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) là ngân hàng có chức năng thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; hoạt động của NHCSXH không vì mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước; là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Đảng và Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế và gắn liền với xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

DNNVV là đối tượng cần được chú trọng phát triển để có thể tiếp cận nguồn vốn
chính sách nhanh chóng kịp thời với mức lãi suất ưu đãi

Một số kết quả hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH

Những năm qua, NHCSXH luôn bám sát các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thống đốc NHNN và Nghị quyết HĐQT, phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên tất cả các lĩnh vực hoạt động.

Đến 31/12/2018, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 194.420 tỷ đồng, tăng 19.038 tỷ đồng so với năm 2017, trong đó, vốn ngân sách trung ương cấp (bao gồm vốn điều lệ và vốn cấp các chương trình tín dụng) chiếm 15,8%/tổng nguồn vốn. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt 187.792 tỷ đồng, tăng 16.003 tỷ đồng(+9,3%) so với năm 2017, với gần 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách đang được vay vốn, trong đó, dư nợ tín dụng thực hiện theo kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đạt 165.142 tỷ đồng, tăng 12.938 tỷ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch.

Riêng năm 2018, tổng doanh số cho vay của NHCSXH đạt 62.079 tỷ đồng với 2,1 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn. Hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã góp phần giúp hơn 338 nghìn hộ vượt qua ngưỡng nghèo, hỗ trợ vốn đầu tư SXKD, tạo việc làm cho gần 246 nghìn lao động, giúp hơn 6 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp hơn 51 nghìn HSSV có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập; xây dựng trên 1,3 triệu công trình cung cấp nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; xây dựng gần 30 nghìn căn nhà ở cho hộ nghèo ổn định cuộc sống, hơn 2,8 nghìn căn nhà ở xã hội theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, NHCSXH chủ động khai thác, huy động các nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tăng cường công tác kiểm tra giám sát, tích cực thực hiện các giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng một cách bền vững. Đồng thời chủ động, tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Tổng nguồn vốn tín dụng của NHCSXH đến ngày 30/6/2019 đạt 207.217 tỷ đồng, tăng 12.796 tỷ đồng so với năm 2018. Nguồn vốn nhận ủy thác từ ngân sách địa phương đạt 14.128 tỷ đồng, tăng 2.318 tỷ đồng so với năm 2018.

Nguồn vốn đã đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu giải ngân các chương trình tín dụng chính sách, chất lượng tín dụng được củng cố và ngày càng nâng cao. Đến ngày 30/6/2019, tổng dư nợ của NHCSXH đạt 198.505 tỷ đồng, trong đó, dư nợ các chương trình tín dụng theo chỉ tiêu tăng trưởng của Thủ tướng Chính phủ giao đạt 173855 tỷ đồng, đạt 66% kế hoạch tăng trưởng dư nợ của Thủ tướng Chính phủ giao. Tổng dư nợ quá hạn và nợ khoanh chỉ chiếm 0,75%/tổng dư nợ, trong đó, nợ quá hạn chiếm 0,41%/tổng dư nợ. Đã có đã có hơn 1.158.000 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH. Vốn tín dụng chính sách góp phần hỗ trợ kịp thời vốn đầu tư SXKD, tạo việc làm cho gần 113.000 lao động, trong đó hơn 3.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp hơn 8.000 lượt HSSV có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập; xây dựng gần 760.000 công trình nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; xây dựng hơn 10.000 căn nhà ở cho các đối tượng chính sách...

Hơn 20 chương trình tín dụng chính sách được NHCSXH thực hiện cho nhiều đối tượng và mục tiêu đa dạng, đã tạo nên bước đột phá về điều kiện sống và làm việc cho người nghèo, góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Trong đó, có chương trình tín dụng chính sách dành cho đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Cơ chế - chính sách cho vay của NHCSXH đối với DNNVV

Hiện nay, NHCSXH đang triển khai 3 chương trình cho vay đến đối tượng là DNNVV gồm: (i) Chương trình phát triển DNNVV vay vốn KFW; (ii) Chương trình tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn; và (iii) Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm.

Chương trình Dự án phát triển DNNVV vay vốn KFW

Nguồn vốn cho vay của Chương trình này là khoản cho vay lại của Bộ Tài chính cho NHCSXH vay để cho vay bằng đồng Euro tương đương 10.000.000 EUR (Mười triệu Euro) từ nguồn vốn vay của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) để thiết lập Quỹ tín dụng quay vòng nhằm cho vay tới các DNNVV thuộc vùng dự án. Cụ thể theo Hợp đồng vay lại ký ngày 26/8/2005, thời gian kết thúc là ngày 30/12/2025 và Hợp đồng vay lại ký ngày 03/9/2007, thời gian kết thúc là ngày 30/6/2027.

Các đơn vị thực hiện cho vay bao gồm 23 đơn vị: Sở giao dịch, NHCSXH các tỉnh, thành phố: Hưng Yên, Tp. Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tp. Cần Thơ, Thanh Hóa và Lâm Đồng.

Đối tượng vay vốn: Là DNNVV có đăng ký thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Hiện nay thực hiện theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV.

Về điều kiện vay vốn: Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; có dự án vay vốn phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh đã được thông báo công khai trên Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; có tài sản bảo đảm theo quy định.

Về mức cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay: Mức cho vay không quá 80%/giá trị của dự án xin vay, khách hàng có thể vay vốn cho nhiều dự án nhưng tổng dư nợ không quá 01 tỷ đồng/01 khách hàng và không quá 70% giá trị của tài sản bảo đảm. Lãi suất cho vay do NHCSXH quyết định theo từng thời kỳ, mức lãi suất cho vay hiện nay đang áp dụng là 0,75%/tháng (9%/năm), lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.Thời hạn cho vay tối đa 60 tháng (05 năm); thời hạn cho vay cụ thể do NHCSXH và khách hàng vay vốn thỏa thuận, căn cứ vào nguồn vốn của dự án do NHCSXH quản lý, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn.

Chương trình tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn

Đối tượng được vay vốn chương trình này là thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên ở vùng khó khăn, bao gồm: Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

Điều kiện được vay vốn: Phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thương nhân hoạt động thương mại xác nhận có thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên trên địa bàn, trường hợp tổ chức kinh tế mở văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại vùng khó khăn phải có thêm Giấy phép hoạt động; Phải có vốn tự có tham gia tối thiểu bằng 20% tổng nhu cầu vốn vay cho hoạt động thương mại tại địa bàn vùng khó khăn; Đối với thương nhân vay vốn trên 50 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo hướng dẫn của NHCSXH.

Về mức cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay: Đối với thương nhân là DNNVV được thành lập hợp pháp mức vốn cho vay tối đa là 500 triệu đồng. Lãi suất cho vay do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH. Hiện nay, lãi suất cho vay là 0,75%/tháng (9%/năm), lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Thời hạn cho vay được xác định theo các loại cho vay: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhưng tối đa không quá 5 năm; tuy nhiên thời hạn cho vay tối đa không quá thời hạn hoạt động còn lại theo Giấy phép hoạt động (nếu có).

Phương thức cho vay: Đối với thương nhân là DNNVV, thực hiện cho vay trực tiếp tại Hội sở Ngân hàng NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện.

Về bảo đảm tiền vay có hai mức: Mức cho vay đến 50 triệu đồng, thì người vay không phải thực hiện bảo đảm tiền vay; Mức cho vay trên 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng người vay phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của NHCSXH.

Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm

Đối tượng vay vốn của chương trình này gồm các DNNVV, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh (cơ sở sản xuất, kinh doanh), người lao động. Các đối tượng này phải đáp ứng được các điều kiện vay vốn sau: Được thành lập và hoạt động hợp pháp; Có dự án vay vốn khả thi tại địa phương, phù hợp với ngành, nghề sản xuất kinh doanh, thu hút thêm lao động vào làm việc ổn định; Dự án vay vốn có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án; Có bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật.

Về mức cho vay: Đối với DNNVV, mức vay 01 dự án tối đa là 01 tỷ đồng và không quá 50 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm.

Về lãi suất vay vốn: Bằng lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Hiện nay, lãi suất vay vốn là 0,55%/tháng (6,6%/năm). Các trường hợp được vay vốn với mức lãi suất bằng 50% lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định gồm: DNNVV sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật; DNNVV sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số; DNNVVsử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.

Về thời hạn vay vốn: Thời hạn vay vốn không quá 60 tháng (5 năm).

Về điều kiện bảo đảm tiền vay: Đối với mức vay trên 50 triệu đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa phải có tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật. (Bảng 1)

Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả cung ứng vốn tín dụng năm 2017, 2018 và 6 tháng đầu năm 2019

của 3 chương trình cho vay với đối tượng DNNVV

Đơn vị: Triệu đồng


Nguồn: NHCSXH

Thực trạng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách của DNNVV

Về cơ bản, cơ chế chính sách của NHCSXH về cho vay đối với DNNVV đã hoàn thiện. Công tác tuyên truyền thông tin về các chính sách tín dụng được NHCSXH quan tâm thường xuyên và tích cực phổ biến rộng rãi đến tận thôn, bản, xã, phường... Cán bộ NHCSXH luôn nhiệt tình giúp đỡ, giải đáp, hướng dẫn về hồ sơ, quy trình, thủ tục cho vay với mọi đối tượng khách hàng. Do vậy, việc tiếp cận nguồn vốn của các DNNVVtừ NHCSXH là rất dễ dàng. Hiện nay, tổng dư nợ cho vay với khách hàng DNNVV là 143.827,62 triệu đồng, trong đó: Dự án phát triển DNNVV KFW là 79.255,84 triệu đồng, chương trình thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn đạt 3.839 triệu đồng, chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm 60.732,78 triệu đồng. Cụ thể:

- Đối với Dự án Chương trình phát DNNVV KFW: Tổng nguồn vốn của Dự án được ghi tại 02 Hợp đồng cho vay lại, với tổng trị giá tương đương là 10 triệu Euro, tương đương 217,4 tỷ VND; Số vốn đã trả cho Bộ Tài chính là 131,13 tỷ đồng (Theo hợp đồng đã ký kết); Số vốn NHCSXH đang quản lý là 86,27 tỷ đồng; Tổng dư nợ đến ngày 30/06/2019 là 79,26 tỷ đồng, với 126 doanh nghiệp nhỏ và vừa đang vay vốn.

NHCSXH đã giải ngân chiếm 91,87% trên tổng số nguồn vốn đang quản lý, chứng tỏ khách hàng DNNVV được tiếp cận vốn nhanh, nguồn vốn giải ngân kịp thời. Hiện nay còn lại 16/23 tỉnh đang còn dư nợ, dư nợ cao tập trung chủ yếu ở các đơn vị: Sở Giao dịch (15.415 triệu đồng), Hưng Yên (11.600 triệu đồng), Bắc Ninh (6.560 triệu đồng), Bình Dương (24.073,43 triệu đồng).

Mặc dù nhu cầu của khách hàng DNNVV là rất nhiều, tuy nhiên, do nguồn vốn của dự án có hạn, hàng năm, NHCSXH còn phải trả lại một phần vốn cho Bộ Tài chính theo hợp đồng đã ký kết, do vậy, số lượng khách hàng của Dự án KFW không tăng lên, mà hằng năm còn bị giảm đi. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác khiến các DNNVV chưa được vay vốn NHCSXH là do thiếu tài sản bảo đảm, không chứng minh được hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách rành mạch (quá khứ, hiện tại và cơ hội tương lai), phương án kinh doanh để vay vốn không rõ ràng, thiếu sức thuyết phục…

- Chương trình thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn: Chương trình này khuyến khích đối tượng là thương nhân hoạt động kinh doanh để phát triển kinh tế vùng khó khăn. NHCSXH luôn hỗ trợ tối đa để mọi khách hàng được tiếp cận nguồn vốn chính sách, do vậy, với mức cho vay của chương trình thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn còn thấp chưa thu hút được đối tượng là các DNNVV. Ngoài ra, tại vùng khó khăn, số lượng DNNVV cũng rất ít.Vì vậy, dư nợ của khách hàng DNNVV tính đến 30/6/2019 là 3.839 triệu đồng với 13 DNNVV đang vay vốn, chỉ chiếm 1,8% trên tổng dư nợ của chương trình thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn.

- Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm: Đến 30/6/2019, chương trình đang cho vay 126 DNNVV với tổng dư nợ 60.732,78 triệu đồng (chỉ chiếm 0,36% trên tổng dư nợ của chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm). Mặc dù với mong muốn của NHCSXH là hỗ trợ tối đa để mọi khách hàng đều được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, song với nguồn vốn còn hạn chế, chưa thể đáp ứng được nhu cầu vay của hàng triệu khách hàng (cả cá nhân và tổ chức), do vậy, dư nợ cho vay khách hàng là DNNVV mới chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, bên cạnh đó còn có nguyên nhân khác khiến DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn này là do giá trị thế chấp nhỏ, không có khả năng bảo lãnh tín dụng.

Định hướng cho vay DNNVV và một số đề xuất giải pháp

Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2018, cả nước có 131,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Đây là năm thứ ba liên tiếp Việt Nam đạt kỷ lục về tăng trưởng doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp của Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ phải đối diện nhiều khó khăn, rủi ro. Việt Nam hiện có hơn 600.000 doanh nghiệp, trong đó khối kinh tế tư nhân có gần 500.000 doanh nghiệp. Trong số này, hơn 96% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, 2% doanh nghiệp quy mô vừa và 2% doanh nghiệp lớn. Trong đó, có đến 80% các doanh nghiệp mới thành lập không thể tồn tại quá hai năm. Do vậy, DNNVV là đối tượng cần được chú trọng phát triển để có thể tiếp cận nguồn vốn chính sách nhanh chóng kịp thời với mức lãi suất ưu đãi.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DNNVV nâng cao khả năng tiếp cận được nguồn vốn của NHCSXH để đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất - kinh doanh, cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Cụ thể:

Thứ nhất, NHCSXH cần tiếp tục phối hợp, phát huy vai trò của xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự phát triển của DNNVV. Theo đó, cần nâng cao vai trò, năng lực của các hiệp hội nhằm hỗ trợ DNNVV và tăng cường chức năng tham vấn và phản biện xã hội.

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về các gói vay tín dụng chính sách đối với DNNVV, tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được với các chương trình vay.

Thứ hai, đối với chương trình phát triển DNNVVđang triển khai tại NHCSXH, đề nghị ký lại hợp đồng để gia tăng thêm nguồn vốn, gia hạn thời gian trả lại nguồn vốn, ưu đãi lãi suất cho vay đối với DNNVV.

Thứ ba, đối với chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, đề nghị tăng thêm nguồn vốn sử dụng Quỹ Quốc gia về việc làm, cũng như thông qua đề án kiến nghị nâng mức lãi suất của chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm.

Thứ tư, đối với chương trình tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn, đề nghị Chính phủ quan tâm nhiều hơn tới các doanh nghiệp hoạt động trong vùng khó khăn bằng việc tăng mức vay vốn từ tối đa 500 triệu lên 1 tỷ đồng để đáp ứng kịp nhu cầu, tình hình phát triển kinh tế của doanh nghiệp trong thời đại mới.

Thứ năm, đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách nhằm mục đích cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường trong nước và ngoài nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Các báo cáo của NHCSXH: năm 2018; 6 tháng đầu năm 2019

- vbsp.org.vn

- Một số tài liệu khác.


Trần Hiền

Nguồn: TCNH - CĐĐB 2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Xem thêm
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng