Tác động truyền thông chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tới người tiêu dùng

Nghiên cứu - Trao đổi
Trong thời đại công nghệ hiện nay, truyền thông và kĩ thuật đang phát triển một cách nhanh chóng và góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế.
aa

Tóm tắt: Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống và nghiên cứu định lượng qua việc chạy mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) để đánh giá tác động từ truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tới người tiêu dùng. Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập từ 358 người Việt Nam ngẫu nhiên. Nghiên cứu tiến hành xử lí và tính toán bộ dữ liệu thu thập trên Excel và phần mềm SPSS để thu được kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, biến nhận thức tài chính của người tiêu dùng tại Việt Nam tương quan thuận chiều với biến phụ thuộc hành vi tài chính, nghĩa là nhận thức tài chính càng cao thì hành vi tài chính càng cao. Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra rằng, các biến như: Thu nhập, chuyên ngành, nội dung truyền thông và kênh truyền thông có tác động đáng kể tới hành vi tài chính. Dựa trên kết quả này, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị giúp khắc phục các hạn chế và nâng cao tầm ảnh hưởng của truyền thông CSTT đến người tiêu dùng Việt Nam.

Từ khóa: Truyền thông, CSTT, NHNN, ngân hàng trung ương, nhận thức tài chính, hành vi tài chính, người tiêu dùng, mô hình hồi quy Logistic nhị phân.

THE IMPACT OF THE STATE BANK OF VIETNAM MONETARY POLICY COMMUNICATION
ON CONSUMERS

Abstract: The article employs traditional qualitative research methods and quantitative research through running a Binary Logistic Regression model to assess the impact of the State Bank of Vietnam monetary policy communication on consumers. The data used in the research were collected from 358 randomly selected Vietnamese inpiduals. The study processed and computed the collected data on Excel software and tested it on SPSS software to obtain results. The findings of the study indicate that financial awareness of consumers in Vietnam has a positive correlation with financial behavior, meaning that higher financial awareness leads to higher financial behavior. Additionally, the results also demonstrate that variables such as income, major, communication information and media channel significantly impact financial behavior. Based on these findings, the article proposes some recommendations to address limitations and enhance the influence of monetary policy communication on Vietnamese consumers.


Keywords: Communication, monetary policy, the State Bank of Vietnam, central bank, financial awareness, financial behavior, consumers, Binary Logistic Regression.

1. Giới thiệu


Trong thời đại công nghệ hiện nay, truyền thông và kĩ thuật đang phát triển một cách nhanh chóng và góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế. Nắm bắt thời cơ này, các ngân hàng trung ương trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng nhận ra rằng truyền thông đóng vai trò quan trọng như một công cụ truyền dẫn CSTT, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này đã thúc đẩy việc ban hành Quyết định số 1016/QĐ-NHNN ngày 23/5/2017 của Thống đốc NHNN, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Truyền thông; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lí và tổ chức thực hiện hoạt động truyền thông ngành Ngân hàng liên quan đến chức năng quản lí nhà nước của NHNN.

Theo Michael Ehrmann và cộng sự (2022), cách thức truyền thông về CSTT của các ngân hàng trung ương đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Theo T.T.V. Linh và cộng sự (2021), hoạt động truyền thông đang ngày càng được NHNN chú trọng hơn. Đồng thời, hoạt động truyền thông của NHNN cũng được phát huy mạnh mẽ và thể hiện tầm quan trọng ở mức cao nhất trong giai đoạn 2020 - 2021, giai đoạn mà cả Việt Nam đang phải đối mặt với đại dịch Covid-19.

Từ đó, có thể hiểu rằng, tác động của truyền thông CSTT tới người tiêu dùng là sự thay đổi trong quyết định của người tiêu dùng đối với việc thu nhận và tiêu thụ các sản phẩm hoặc dịch vụ, cũng như ý tưởng dự đoán, kì vọng và nhận thức về thị trường thông qua quá trình tiếp nhận các thông tin, tín hiệu CSTT từ ngân hàng trung ương đến thị trường và công chúng. Bản chất truyền thông chính sách là tác động tới hành vi và nhận thức giúp định hướng thị trường trong ngắn hạn, dài hạn dựa trên kì vọng của người tiêu dùng.

2. Tổng quan nghiên cứu


2.1. Tổng quan nghiên cứu về tác động từ truyền thông CSTT của ngân hàng trung ương tới người tiêu dùng

Theo Van der Cruijsen và đồng nghiệp (2010), truyền thông về CSTT tác động chủ yếu đến nam giới và những người có địa vị xã hội cao. Ngoài ra, những người có trình độ kinh tế - xã hội cao thường dễ tiếp thu thông tin được truyền thông qua phương tiện truyền thông hơn, do trình độ học vấn cao hơn và có điều kiện tiếp xúc với tin tức tốt hơn (Tichenor và cộng sự, 1970; Gaziano, 1997; Carpini và Keeter, 1996; Hwang và Jeong, 2009).

Tuy nhiên, Kumar và cộng sự (2015) phát hiện rằng, ở New Zealand, các hình thức truyền thông trực tiếp được sử dụng bởi Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ - Reserve Bank of New Zealand) không thể tiếp cận đến với nhiều người tiêu dùng. Thậm chí, họ còn thiếu kiến thức cơ bản về ngân hàng trung ương. Trái lại, Lena Dräger, Michael J. Lamla, Damjan Pfajfar (2016) đã chỉ ra rằng, thông tin từ ngân hàng trung ương cũng như tin tức về CSTT có thể hỗ trợ hiểu biết của người tiêu dùng về các khái niệm kinh tế chính.

Một số ngân hàng trung ương đã thực hiện khảo sát với công chúng để tìm hiểu họ biết gì về ngân hàng trung ương. Ngân hàng Dự trữ Nam Phi đã thực hiện một cuộc khảo sát vào năm 2011, kết quả chỉ ra rằng, có tới 45% người dân Nam Phi không biết đến sự tồn tại của Ngân hàng Trung ương Nam Phi (Marcus, 2014). Trong một cuộc khảo sát khác, Eurobarometer của Ủy ban châu Âu đã khảo sát công dân từ các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu vào năm 2019, có đến tận 13% người dân được khảo sát không biết đến hoặc chưa từng nghe nói đến sự tồn tại của ECB (Ngân hàng Trung ương châu Âu).

2.2. Tổng quan nghiên cứu về CSTT và người tiêu dùng

Ảnh hưởng của CSTT đến người tiêu dùng được đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau, điển hình là hành vi tiêu dùng và vay mượn của họ. Bernanke và Gertler (1995), Maria Sandstrom (2018) đã nhận ra rằng, CSTT thắt chặt làm tăng lãi suất, dẫn đến việc người dân giảm vay mượn. Và ngược lại, khi CSTT được nới lỏng, lãi suất giảm khuyến khích người dân vay mượn nhiều hơn.

Theo Amato và cộng sự (2003), khi người tiêu dùng nhận được tín hiệu về sự thay đổi trong CSTT, họ sẽ nảy sinh những kì vọng nhất định tùy theo tình hình kinh tế và chính sách. Nghiên cứu của Di Bartolomeo và Rossi (2007) phát hiện rằng, CSTT trở nên hiệu quả hơn khi mức độ tham gia thị trường tài chính giảm.

Bên cạnh đó, Clarida và cộng sự (1999) đã sử dụng mô hình Keynesian, kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, khi lạm phát tăng cao, CSTT thắt chặt giúp cho Chính phủ giảm giá hàng hóa, từ đó kích thích người dân mua sắm. Dynan (2012) đồng tình về việc CSTT tác động lớn đến tiêu dùng, vay mượn và hành vi gửi tiết kiệm của các hộ gia đình. Lilia Cavallari (2020) bổ sung thêm rằng, CSTT ảnh hưởng đến sự co giãn của giá cả. Độ co giãn ngày càng tăng, chi phí ngày càng cao, mức tiêu dùng sẽ giảm. Các nhận định trên đều được Marco Airaudo (2023) ủng hộ bằng mô hình New Keynesian và chỉ ra thế nào là CSTT tối ưu giúp định hướng hành vi của người tiêu dùng.

2.3. Tổng quan nghiên cứu về truyền thông CSTT của ngân hàng trung ương

Trong một cuộc khảo sát năm 2016 giữa các thống đốc ngân hàng trung ương, hơn 80% chỉ ra rằng, hoạt động truyền thông trong tổ chức của họ đã tăng cường kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (Blinder và cộng sự, 2017). Theo Michael Ehrmann và cộng sự (2022), cách thức truyền thông về CSTT của các ngân hàng trung ương đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây.

Theo Sajjad Zaheer và cộng sự (2019), Ngân hàng Trung ương Pakistan (SBP) đã và đang dần dần cải thiện hoạt động truyền thông của mình để phù hợp với các thông lệ quốc tế, đặc biệt là trong thập kỉ qua. Đầu tiên, SBP tăng cường tập trung vào triển vọng kinh tế, thường xuyên đánh giá điều kiện kinh tế, tổ chức họp báo và phát biểu. Đồng thời, cả khuôn khổ CSTT lẫn việc truyền thông về CSTT của SBP cũng đã có những cải tiến quan trọng theo thời gian.

Theo T.T.V. Linh và cộng sự (2021), hoạt động truyền thông đang ngày càng được NHNN chú trọng hơn. Các hình thức truyền thông cũng đang ngày càng được đa dạng hóa. Đồng thời, các thông cáo được NHNN truyền thông cũng chính xác và nhất quán. Hoạt động truyền thông của NHNN được phát huy mạnh mẽ và thể hiện tầm quan trọng ở mức cao nhất trong giai đoạn 2020 - 2021, giai đoạn mà cả nước đang phải đối mặt với đại dịch Covid-19.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô hình nghiên cứu


Đối với mô hình lí thuyết, nhóm tác giả lựa chọn mô hình Shannon. Tuy mô hình này khá đơn giản và phổ thông nhưng nó gợi mở nhiều cách thức sáng tạo về khía cạnh của kênh truyền thông CSTT. Một số điểm mạnh của mô hình Shannon so với các mô hình khác như: Toàn diện và ứng dụng rộng rãi, cơ sở toán học mạnh mẽ, đối tượng rõ ràng, khả năng xác định nhiễu và ứng dụng trong truyền thông số, dữ liệu lớn.

Đối với mô hình nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng mô hình Binary Logistic Regression nhằm đánh giá tác động từ truyền thông CSTT của NHNN tới người tiêu dùng. Mô hình Binary Logistic Regression được trình bày dưới dạng tổng quát như sau:


Trong đó:

pi là xác suất để một biến cố xảy ra, 1-pi là xác suất để biến cố không xảy ra.

Các giá trị β0 β1 β2 ... βn là các hệ số hồi quy.

xi là các biến độc lập được đưa vào mô hình đại diện cho các nhân tố được kì vọng ảnh hưởng đến biến cố.

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu định tính đã được tiến hành bằng cách lựa chọn kĩ lưỡng tài liệu và phân tích các mô hình lí thuyết. Phiếu khảo sát chính thức đã được hoàn thành với 5 thang đo, đo lường 62 biến trên thang đánh giá Likert 5 điểm, từ "Hoàn toàn không đồng ý/quan tâm" đến "Hoàn toàn đồng ý/quan tâm". Nghiên cứu định lượng tiến hành thông qua việc gửi phiếu khảo sát trực tuyến đến 438 người tiêu dùng trong khu vực miền Bắc vào tháng 02/2024. Sau quá trình xử lí, tổng cộng 358 phiếu hợp lệ (hơn 80%) đã được chọn để đưa vào vào phân tích. Dữ liệu được xử lí thông qua phân tích Binary Logistic Regression trong SPSS.

3.3. Các biến trong mô hình (Sơ đồ 1)

Sơ đồ 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất


4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1. Thống kê mô tả

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 358 người tiêu dùng tại Việt Nam qua khảo sát trực tuyến trên Google Form. Nghiên cứu cho thấy, mẫu đại diện tốt về giới tính với 168 nam và 156 nữ, cùng với 34 cá nhân không xác định giới tính. Phần lớn tham gia nghiên cứu nằm trong độ tuổi từ 20 tuổi đến 40 tuổi (299 người), có thu nhập trung bình (22,1% thu nhập từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng và 19% thu nhập từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng). Đối với trình độ học vấn, 62,3% có bằng cao đẳng/đại học và 15,6% là thạc sĩ. Đa số (33%) đến từ ngành kinh tế/tài chính, theo sau là công nghệ/điện tử (18,2%) và xã hội/nhân văn (12,3%).

4.2. Kết quả kiểm định mô hình

Với mô hình Binary Logistic Regression, để kiểm định độ phù hợp của giả thuyết đối với mô hình, nhóm tác giả sẽ sử dụng kiểm định Chi-square.

Bảng 1: Kiểm định Omnibus

Nguồn: Theo tính toán của nhóm tác giả

Nhìn vào bảng Omnibus Tests of Model Coefficients để thấy được kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình.

Căn cứ vào kết quả kiểm định, nhận thấy giá trị Sig. kiểm định Chi-square tại hàng Model là 0,000 < 0,05 nên mô hình là phù hợp và có ý nghĩa thống kê.


Model Summary cho thấy kết quả tóm tắt về sự phù hợp của mô hình hồi quy đề xuất:

Bảng 2: Model Summary

Nguồn: Theo tính toán của nhóm tác giả

Để kiểm định mức độ dự đoán của mô hình, nhóm tác giả căn cứ vào bảng Classification Table dưới đây:

Bảng 3: Mức độ dự báo của mô hình

Nguồn: Theo tính toán của nhóm tác giả

Với tổng số 83 cá nhân có hành vi tài chính thấp (lưu ý dữ liệu xem theo cột), mô hình dự đoán đúng được 66 cá nhân và cho ra tỉ lệ đúng là 67,3%; trong khi đó, có 275 người tiêu dùng có hành vi tài chính, mô hình đã dự đoán được 243 người tương đương với 93,5%. Do đó, tỉ lệ dự báo đúng của mô hình là 86,3%.

4.3. Kết quả hồi quy


Nhóm tác giả đã chạy 6 mô hình đối với từng hành vi của người tiêu dùng nhằm xác định những yếu tố nào tác động tới hoạt động cụ thể của họ. Đối với hành vi mua bán hàng tiêu dùng, người làm khảo sát bị chi phối bởi trình độ học vấn. Trong khi đó, việc tiết kiệm bị tác động bởi thông tin, kênh truyền thông và độ tin tưởng vào hoạt động của ngân hàng. Tương tự các yếu tố như nhận thức tài chính, kênh truyền thông, nội dung truyền thông có sự tác động tới hành vi mua bán chứng khoán hoặc khởi nghiệp. Cuối cùng, các hành vi như mua/bán ngoại tệ sẽ bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, giới tính hay thu nhập của người tiêu dùng. (Bảng 4)

Bảng 4: Kết quả hồi quy mô hình với trung bình các biến hành vi tài chính

Nguồn: Theo tính toán của nhóm tác giả


Như vậy, từ kết quả cho thấy biến FA có ảnh hưởng cùng chiều tới hành vi tài chính của người tiêu dùng tại Việt Nam, tức là nhận thức tài chính càng cao thì hành vi tài chính cũng cao. Trên thực tế, người tiêu dùng có nhận thức tài chính cao thường có khả năng nhìn nhận và hiểu rõ hơn về tình hình tài chính cá nhân của mình. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng các biến như Income, Major, CI và MC cũng có tác động đáng kể đến hành vi tài chính của người tiêu dùng tại Việt Nam.

5. Kết luận và khuyến nghị


Trong bài viết này, nhóm tác giả tập trung vào việc phân tích tác động truyền thông CSTT của NHNN tới hành vi tiêu dùng của người dân. Kết quả cho thấy, truyền thông có tác động tích cực, nâng cao nhận thức tài chính và ảnh hưởng đến các hành vi tiêu dùng như mua/bán hàng hóa, tiết kiệm và đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, nhận thức tài chính của người tiêu dùng ở Việt Nam vẫn còn thấp so với một số quốc gia khác và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như thu nhập, trình độ giáo dục và mức độ tin cậy vào hệ thống tài chính. Dựa trên những kết quả này, nhóm tác giả đề xuất một số chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả của truyền thông CSTT:

Một là, trong thời đại ngày nay, giáo dục về tài chính ngày càng trở nên quan trọng đối với thế hệ trẻ. Các cơ quan giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức và kĩ năng tài chính cho học sinh và sinh viên. Cần tăng cường hợp tác giữa NHNN và các trường đại học, cao đẳng để tạo ra môi trường học tập chuyên nghiệp và sáng tạo. Tổ chức các buổi hội thảo và hoạt động giao lưu giữa NHNN và các trường trung học và đại học, cao đẳng giúp mở rộng kiến thức, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh, sinh viên; đồng thời, thu hút sự chú ý của công chúng về vấn đề tài chính - ngân hàng.

Hai là, người tiêu dùng đóng vai trò là nhân tố quyết định về nhận thức tài chính hay việc tiếp thu những thông tin về CSTT được truyền thông bởi NHNN. Do đó, người tiêu dùng cần nâng cao trình độ học vấn của mình (nếu có điều kiện) để có thể có những quyết định về tài chính sáng suốt hơn. Hơn nữa, những người đã và đang theo học khối ngành khác cũng nên tự trau dồi cho mình khả năng tư duy, hiểu biết tài chính. Đồng thời, người tiêu dùng nên thường xuyên cập nhật tin tức từ những nguồn uy tín, tránh bị tác động tiêu cực bởi những nguồn tin không chính thống.

Tài liệu tham khảo:

1. Amato, J.D. (2002) ‘Communication and Monetary Policy’, Oxford Review of Economic Policy, 18(4), pages 495-503. Available at: https://doi.org/10.1093/oxrep/18.4.495

2. Morris, S. and Shin, H.S. (2002) ‘Social Value of Public Information’, The American Economic Review, 92(5), pages 1521-1534.

3. Gaziano, C. (1997). ‘Forecast 2000: widening knowledge gaps’. Journal. Mass Commun. 74 (2).

4. Carpini, M.D., Keeter, S. (1996). ‘What Americans know about Politics and Why it Matters’. Yale University Press.

5. Hwang, Y., Jeong, S.-H. (2009). ‘Revisiting the knowledge gap hypothesis: a meta analysis of thirty five years of research’. J&MC Q. 86 (3), pages 513-532.

6. Lena Dräger, Michael J. Lamla và Damjan Pfajfar (2016). ‘Are survey expectations theory-consistent? The role of central bank communication and news’.

7. Kumar, S., Afrouzi, H., Coibion, O., Gorodnichenko, Y. (2015). ‘Inflation targeting does not anchor inflation expectations: evidence from firms in New Zealand.’ NBER Working Paper (21814)

8. Van der Cruijsen, C., Jansen, D.-J., Haan, J. D. (2010). ‘How much does the public know about the ecb’s monetary policy? evidence from a survey of Dutch households.’ ECB Working Paper 1265.

9. Marcus, G. (2014). ‘Address to the central banks communicators conference’.

10. Sajjad Zaheer, Fatima Khaliq, Waqas Ahmed (2019). ‘Effectiveness of SBP’s Monetary Policy Communication’. SBP Research Bulletin Volume 15, Number 1.

11. Michael Ehrmann, Sarah Holton, Danielle Kedan, Gillian Phelan (2022). ‘Monetary policy communication - past ECB policymakers commend Bank’s progress and call for more’. European Central Bank Esearch bulletin no.93.

12. Morris, S., Shin, H. S. (2002). ‘Social Value of Public Information’. The American Economic Review, 92(5), pages 1521-1534..

13. Amato, J. D. (2002). Communication and Monetary Policy. Oxford Review of Economic Policy, 18(4), pages 495-503. https://doi.org/10.1093/oxrep/18.4.495

14. World Bank (2014). Global financial development report 2014: Financial inclusion. Washington, D.C’.

15. Linh, T. T. V., Thu, L. H., Hưng, N. T. T., Nam, N. T., và Duẩn, B. V. (2021). ‘Ảnh hưởng của truyền thông ngân hàng trung ương đến hiệu lực điều hành CSTT’. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2021.

16. Dynan, K. (2012). ‘Is a Household Debt Overhang Holding Back Consumption?’. Brookings Papers on Economic Activity, pages 299-362. [Publisher’s Version].

17. Amato, P. R., & Previti, D. (2003). ‘People’s Reasons for Divorcing: Gender, Social Class, the Life Course, and Adjustment’. Journal of Family Issues, 24, pages 602-626.

18. Di Bartolomeo, G., & Rossi, L. (2007). ‘Heterogeneous Consumers, Demand Regimes, Monetary Policy and Equilibrium Determinacy’. Rivista di Politica Economica, 97(5), pages 111-142.

19. Cavallari, L. (2020). ‘Monetary policy and consumers’ demand’. Economic Modelling, 92(C), pages 23-36.

20. Airaudo, M. (2023). ‘Temptation-Driven Preferences: A Resolution to New Keynesian Anomalies’. Journal of Economic Theory.

21. Blinder, A. S., Ehrmann, M., de Haan, J., & Jansen, D. J. (2017). ‘Necessity as the mother of invention: Monetary policy after the crisis’. Economic Policy, 32(92), pages 707-755.


GVCC., TS. Nguyễn Tường Vân, ThS. Lê Văn Hinh,

Lê Đức Minh, Vũ Thị Thu Thủy, Đỗ Ngọc Anh,

Phạm Thị Hồng Ngọc, Phạm Trung Dũng, Nguyễn Minh Thủy Tiên
Học viện Ngân hàng

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành