Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Chính sách
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) mới đây đã công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là một trong những lĩnh vực được phép thử nghiệm.
aa

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) mới đây đã công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là một trong những lĩnh vực được phép thử nghiệm. Trước mắt, Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát sẽ có những quy định rõ ràng về điều kiện và tiêu chuẩn hoạt động P2P Lending, làm cơ sở cho cơ quan nhà nước thanh lọc thị trường, loại bỏ những đơn vị trá hình vận hành App cho vay theo kiểu tín dụng đen đang gây hệ lụy tiêu cực cho thị trường.

Theo đó, các giải pháp tham gia vào Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech (Cơ chế thử nghiệm) sẽ được đặt dưới sự giám sát thường xuyên, liên tục của cơ quan quản lý ngân hàng - tài chính nhằm hạn chế ở mức thấp nhất rủi ro, hệ lụy phát sinh. Thông tin, dữ liệu, kết quả thử nghiệm đối với các sản phẩm, dịch vụ tham gia vào Cơ chế thử nghiệm sẽ là cơ sở, căn cứ để cơ quan quản lý, giám sát cũng như nhà cung ứng dịch vụ tiềm năng tham gia vào Cơ chế thử nghiệm đánh giá tính khả thi, lợi ích, rủi ro của giải pháp, từ đó đưa ra quyết định, cách thức ứng xử phù hợp tiếp theo.

Nội dung trọng tâm của Dự thảo Nghị định tập trung thúc đẩy các giải pháp sáng tạo, đồng thời đảm bảo kiểm soát rủi ro, bảo vệ người tiêu dùng và duy trì ổn định tài chính.

Sắp có Cơ chế thử nghiệm hoạt động P2P Lending

Theo đó, các giải pháp Fintech trong lĩnh vực ngân hàng được phép thử nghiệm tại Cơ chế thử nghiệm gồm những lĩnh vực như cấp tín dụng trên nền tảng công nghệ, chấm điểm tín dụng, chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng (API). Ngoài ra còn có P2P Lending, ứng dụng công nghệ chuỗi khối, sổ cái phân tán (Blockchain Technology - DLT) trong hoạt động ngân hàng, ứng dụng các công nghệ khác trong hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, triển khai mô hình hợp tác kinh doanh đổi mới sáng tạo.


Thời gian thử nghiệm các giải pháp Fintech tối đa là 02 năm tùy từng giải pháp và lĩnh vực cụ thể, tính từ thời điểm được NHNN cấp Giấy chứng nhận tham gia Cơ chế thử nghiệm.

Về điều kiện và tiêu chí tham gia Cơ chế thử nghiệm: Là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản theo quyết định đã được ban hành; không thuộc nhóm tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt theo Luật Các tổ chức tín dụng; người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức đề nghị tham gia Cơ chế thử nghiệm phải có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc lĩnh vực phụ trách. Người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty Fintech đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và an ninh mạng. Đội ngũ cán bộ thực hiện giải pháp Fintech thử nghiệm có trình độ chuyên môn về lĩnh vực đảm nhiệm.

Dự thảo Nghị định cũng nêu rõ công ty P2P Lending trong quá trình tham gia Cơ chế thử nghiệm không được thực hiện các hành vi như cung cấp biện pháp bảo đảm tiền vay; cung cấp dịch vụ môi giới thông tin cho việc vay tiền phục vụ hoạt động đầu tư cổ phiếu và các hoạt động mang tính rủi ro cao khác; sử dụng trái phép nguồn tiền từ khách hàng,...

Bên cạnh đó, giải pháp P2P Lending đề nghị tham gia Cơ chế thử nghiệm phải thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Dự thảo Nghị định như: (i) Là giải pháp mà nội dung kỹ thuật và nghiệp vụ hoàn toàn chưa được quy định tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào hoặc quy định pháp lý hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho việc triển khai, áp dụng; (ii) Là giải pháp có tính đổi mới sáng tạo, đem lại lợi ích, giá trị gia tăng cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam, đặc biệt là các giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy mục tiêu phổ cập tài chính; (iii) Là giải pháp đã thiết kế, xây dựng được khung quản lý rủi ro, hạn chế tác động tiêu cực tới hệ thống ngân hàng và hoạt động ngân hàng - tiền tệ - ngoại hối; đã xây dựng phương án hợp lý về xử lý, khắc phục các rủi ro xảy ra trong quá trình thử nghiệm phù hợp; (iv) Là giải pháp đã được tổ chức tham gia Cơ chế thử nghiệm thực hiện các biện pháp rà soát, đánh giá đầy đủ, trên các khía cạnh hoạt động và chức năng, công dụng, tính hữu ích; (v) Là giải pháp có tính khả thi để có thể cung ứng ra thị trường sau khi hoàn thành quá trình thử nghiệm.

Giới chuyên gia đánh giá, khuôn khổ pháp lý Cơ chế thử nghiệm phù hợp với thực tiễn, thông lệ quốc tế, tiến tới việc ban hành khuôn khổ pháp lý và quản lý chính thức (trong đó có Cơ chế thử nghiệm đối với hoạt động P2P Lending).

Cụ thể, Cơ chế thử nghiệm sẽ mở ra cơ hội để các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực P2P Lending bứt phá, phát huy hết tiềm lực, phát triển tương xứng với quy mô của thị trường và tận dụng lợi thế của công nghệ 4.0. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý thử nghiệm sẽ giúp các công ty P2P Lending đẩy mạnh hỗ trợ nhóm khách hàng yếu thế không tiếp cận được kênh tín dụng chính thức, thúc đẩy tài chính toàn diện, đẩy lùi tín dụng đen... Việc ban hành hành lang pháp lý thử nghiệm P2P Lending cũng giúp thanh lọc thị trường, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, đơn vị hoạt động trá hình đang gây nhiễu loạn thị trường, làm mất niềm tin của người tiêu dùng, giảm uy tín của lĩnh vực P2P Lending tại Việt Nam. Cơ chế thử nghiệm sẽ có những quy định rõ ràng về điều kiện và tiêu chuẩn hoạt động P2P Lending, làm cơ sở cho cơ quan nhà nước thanh lọc thị trường, loại bỏ những đơn vị trá hình vận hành App (ứng dụng) cho vay theo kiểu tín dụng đen đang gây hệ lụy tiêu cực cho thị trường.


Theo NHNN, P2P Lending là hoạt động cho vay trên nền tảng công nghệ được thiết kế và thực hiện dựa trên ứng dụng Fintech do công ty P2P Lending thực hiện với vai trò trung gian kết nối người đi vay với người cho vay. Công ty P2P Lending là công ty Fintech cung cấp giải pháp P2P Lending ra thị trường.

Số lượng các công ty có hoạt động hoặc tham gia cung ứng dịch vụ, giải pháp Fintech tại Việt Nam đã tăng nhanh, từ khoảng 40 công ty vào cuối năm 2016 lên khoảng 200 công ty ở thời điểm hiện tại với nhiều mảng, lĩnh vực hoạt động khác nhau như thanh toán, P2P Lending, chấm điểm tín dụng, quản lý tài chính cá nhân...

Trong số đó, các công ty hoạt động trong lĩnh vực thanh toán chiếm tỷ trọng lớn với 47 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) đã được NHNN cấp Giấy phép, còn trong lĩnh vực P2P Lending là khoảng hơn 100 công ty với nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài.

Hoạt động P2P Lending xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2016 dưới dạng các công ty Fintech và thường nhắm đến phân khúc đối tượng khách hàng không tiếp cận được với ngân hàng, công ty tài chính.

Theo khảo sát của Vụ Chính sách tiền tệ và Vụ Thanh toán (NHNN), một số mô hình P2P Lending đã và đang triển khai thực hiện tại Việt Nam cho thấy hoạt động P2P Lending tại các công ty đang được triển khai theo 04 mô hình cơ bản sau:

Mô hình 1: Mô hình công ty cầm đồ cho vay online.

Mô hình 2: Mô hình công ty P2P Lending hợp tác với công ty cầm đồ.

Mô hình 3: Mô hình công ty P2P Lending hợp tác với tổng đại lý phát triển khách hàng của công ty tài chính để giới thiệu khách hàng cho công ty tài chính.

Mô hình 4: Mô hình công ty P2P Lending là trung gian kết nối giữa người đi vay cá nhân/tổ chức với người cho vay là cá nhân.

Theo đó, rất ít công ty thực hiện theo đúng mô hình P2P Lending truyền thống trên thế giới (mô hình P2P Lending hợp tác với ngân hàng, mô hình P2P Lending cam kết về lợi nhuận) mà có hiện tượng biến tướng của công ty cầm đồ cho vay online, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Các bên tham gia trong mô hình: Trong 04 mô hình P2P Lending nêu trên có sự tham gia của các bên liên quan, như: Công ty P2P Lending, người đi vay, người cho vay (cá nhân/công ty tài chính/công ty cầm đồ), ngân hàng, công ty cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (ví điện tử), công ty bảo hiểm, công ty thu hồi nợ..., cụ thể:

Công ty P2P Lending: Phát triển nền tảng cho vay trực tuyến (trên website hoặc ứng dụng trên điện thoại di động); áp dụng hệ thống chấm điểm tín dụng để chấm điểm tín nhiệm đối với từng đơn vay; trung gian kết nối giữa người đi vay và người cho vay; tư vấn khoản vay, thực hiện xác thực thông tin về khách hàng và hỗ trợ việc ký hợp đồng, hỗ trợ công tác nhắc nợ, mua bảo hiểm đầu tư cho người cho vay theo sự ủy quyền của người cho vay.

Người đi vay (borrower): Sử dụng dịch vụ do hệ thống của công ty P2P Lending cung cấp; có nghĩa vụ cung cấp các thông tin trung thực, chính xác, chịu trách nhiệm đối với các thông tin cung cấp; trả gốc, lãi, phí đúng hạn...

Người cho vay (lender): Sử dụng dịch vụ do hệ thống của công ty P2P Lending cung cấp; có nghĩa vụ cung cấp các thông tin trung thực, chính xác, chịu trách nhiệm đối với các thông tin cung cấp, được hưởng lãi và phí theo thỏa thuận với người vay...

Trung gian thanh toán: Hợp tác với công ty P2P Lending để cung cấp dịch vụ thanh toán bên trong mô hình P2P Lending, giúp luân chuyển, thanh toán tiền giữa các bên thông qua nghiệp vụ ví điện tử.

Tiến tới thanh lọc thị trường P2P Lending tại Việt Nam

Thực tế, hoạt động P2P Lending nổi lên tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây, một số công ty lấy danh nghĩa mô hình P2P Lending lợi dụng sự thiếu kiến thức, hiểu biết của người dân để lừa bịp, gian dối, quảng cáo sai sự thật, hứa hẹn lợi nhuận cao, lãi suất cao để lừa đảo, chiếm đoạt tiền vốn của người dân bỏ tiền đầu tư mô hình cho vay này hoặc lừa dối người vay về lãi suất “thấp”, điều kiện vay ưu đãi trong khi cách tính và áp dụng mức lãi suất thực tế cao “cắt cổ”, tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân. Một số thỏa thuận giữa các bên tham gia trong mô hình P2P Lending (công ty P2P Lending và nhà đầu tư, công ty P2P Lending và bên thứ ba, công ty P2P Lending và khách hàng vay…) thiếu rõ ràng, minh bạch, thiếu ràng buộc có tính pháp lý, chưa có cơ chế giám sát, hậu kiểm đối với việc sử dụng, quản lý vốn vay đúng mục đích của người đi vay nên có thể dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện giữa các bên.

Thời gian qua, cơ quan chức năng liên tục có các cảnh báo nguy cơ biến tướng tín dụng đen của hoạt động cho vay này.

Trên mạng xã hội, hàng loạt các App cho vay tiền trực tuyến xuất hiện công khai với những lời mời chào rất hấp dẫn, kèm theo thủ tục vay tiền rất đơn giản nhằm lôi kéo người vay tham gia. Số tiền họ nhận được thấp hơn nhiều so với số tiền vay và cũng sẽ phải đối mặt với vô vàn kiểu khủng bố tinh thần, đe dọa nếu chẳng may không trả nợ đúng hạn.

Trong dự thảo Báo cáo đánh giá tác động của một số loại hình kinh tế chia sẻ chính tới nền kinh tế gửi các bộ, cơ quan ngang bộ lấy ý kiến, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra cảnh báo về hoạt động P2P Lending của nước ngoài hiện đang gia tăng hoạt động tại Việt Nam, có thể gây rủi ro, trong khi nhiều nước đang tăng cường quản lý, thắt chặt và giám sát chặt chẽ. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua, cơ quan chức năng liên tục triệt phá các đường dây cho vay nặng lãi, tín dụng đen qua các ứng dụng cho vay trực tuyến trên mạng xã hội.

Trước diễn biến phức tạp của hoạt động cho vay qua App “đội lốt” P2P Lending, nhiều loại tội phạm cho vay nặng lãi, tín dụng đen… đã núp bóng, trá hình hoạt động bất hợp pháp, một số vụ việc đã được cơ quan chức năng xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, NHNN đã có công văn chỉ đạo tới các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TCCƯDVTGTT) và các tổ chức tín dụng.

Theo đó, để ngăn ngừa những tác động tiêu cực của hoạt động P2P Lending, NHNN đã có văn bản đề nghị các TCCƯDVTGTT: Tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ TGTT, không hợp tác cung ứng dịch vụ TGTT cho các công ty P2P Lending có hoạt động vi phạm pháp luật; thường xuyên rà soát các đối tác có hợp tác liên quan đến hoạt động P2P Lending (nếu có) để triển khai thực hiện các giải pháp kiểm soát, xử lý phù hợp. Trường hợp phát hiện những đối tác nào có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ngừng ngay việc hợp tác giao dịch dưới mọi hình thức, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng và các bên liên quan biết để có giải pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế tối đa rủi ro có thể phát sinh theo quy định của pháp luật.

Đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, liên quan đến P2P Lending, NHNN cũng có các công văn cảnh báo các tổ chức tín dụng tăng cường kiểm tra, giám sát việc hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực P2P Lending nhằm ngăn ngừa rủi ro, phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực này. Theo đó, NHNN yêu cầu tổ chức tín dụng: Tuân thủ đúng quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng; rà soát các hợp đồng, thỏa thuận đã ký kết với các đối tác là các công ty cung cấp dịch vụ P2P Lending hoặc có hợp tác liên quan đến hoạt động P2P Lending. Trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật của các đối tác này, tổ chức tín dụng phải ngừng ngay việc hợp tác dưới mọi hình thức và tiến hành các thủ tục thanh lý các hợp đồng, thỏa thuận đã ký, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật; đồng thời báo cáo cơ quan chức năng và các bên liên quan để có giải pháp ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế rủi ro có thể phát sinh; thường xuyên rà soát, tăng cường kiểm tra, giám sát trong nội bộ tổ chức tín dụng (bao gồm các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng nếu có) về các rủi ro tiềm ẩn của hoạt động P2P Lending, bao gồm rủi ro pháp lý và các rủi ro khác, trong bối cảnh pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có khung pháp lý cụ thể điều chỉnh hoạt động P2P Lending, nhằm phòng ngừa rủi ro phát sinh.

Bên cạnh đó, NHNN cũng đã đẩy mạnh triển khai các giải pháp truyền thông: Khuyến cáo người dân, doanh nghiệp tìm hiểu kỹ, thận trọng khi tham gia các nền tảng P2P Lending trong bối cảnh chưa có hành lang pháp lý rõ ràng điều chỉnh đối với lĩnh vực này và khuyến nghị người dân tiếp cận vốn qua kênh tín dụng ngân hàng chính thống, tránh bị lừa đảo, rơi vào vòng xoáy cho vay nặng lãi của tín dụng đen; chỉ đạo tổ chức tín dụng lưu ý về các rủi ro trong hoạt động P2P Lending; thận trọng trong ký kết và thực hiện các thỏa thuận hợp tác với các công ty P2P Lending, đảm bảo đúng quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến hoạt động, uy tín của tổ chức tín dụng cũng như an toàn của hệ thống ngân hàng.

Cần tăng cường cơ chế quản lý, giám sát để hoạt động P2P Lending trở thành kênh cung ứng vốn hiệu quả

Việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động cho vay qua mạng (quan hệ vay mượn dân sự) cũng như để xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động này thuộc trách nhiệm của nhiều bộ, ngành.

Để khuyến khích hoạt động P2P Lending an toàn, trở thành kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khách hàng nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, thời gian tới, cần đẩy mạnh một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý quản lý P2P Lending, trong đó phân công cụ thể cơ quan quản lý đầu mối (nên là NHNN và áp dụng các Luật liên quan) và các cơ quan phối hợp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan.

Thứ hai, về phía các cơ quan quản lý:

(i) NHNN phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an hoàn thiện các quy định, giải pháp về dữ liệu, cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa tổ chức tín dụng và Fintech, Bigtech... để tạo điều kiện cho phát triển hệ sinh thái tài chính số nói chung và P2P Lending nói riêng;

(ii) NHNN, Bộ Công Thương, Bộ Công an cần phối hợp nghiên cứu và áp dụng các biện pháp quản lý và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư tham gia hoạt động P2P Lending để tránh các hệ lụy kinh tế - xã hội trong trường hợp xảy ra rủi ro. Chẳng hạn như thiết lập các quy định và giám sát tuân thủ về các giới hạn đầu tư so với thu nhập của nhà đầu tư, quy định về giới hạn góp vốn của mỗi nhà đầu tư, quy định về quyền tiếp cận thông tin...; tăng cường quy định và chế tài xử phạt nếu công ty P2P Lending hoạt động vi phạm pháp luật về cho vay (như lãi suất quá cao, đòi nợ kiểu xã hội đen...);

(iii) NHNN cần có quy định chặt chẽ về an toàn hoạt động, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ đối với các công ty P2P Lending.

Thứ ba, ở tầm vĩ mô, để hoạt động P2P Lending phát triển an toàn, hiệu quả, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần chú trọng nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin quốc gia, nhất là cơ sở dữ liệu định danh cá nhân, chính quyền điện tử… cũng như chú trọng yêu cầu về quản lý rủi ro công nghệ thông tin của hệ thống tài chính - ngân hàng, từ đó không chỉ tạo nền tảng quản lý P2P Lending mà còn hỗ trợ cho cả thị trường tài chính - ngân hàng số nói chung.

Thứ tư, ngành Ngân hàng phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, chính quyền các địa phương, các cơ quan báo, đài triển khai mạnh hoạt động truyền thông giáo dục tài chính, hướng đến đối tượng người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa (nơi tín dụng đen diễn biến phức tạp), người yếu thế, người chưa có tài khoản ngân hàng... nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với các sản phẩm tài chính công nghệ, trong đó có P2P Lending. Qua đó, giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh, cũng như người dân nói chung nâng cao khả năng nhận thức về dịch vụ P2P Lending, giúp giảm thiểu rủi ro khi sử dụng dịch vụ này cũng như nâng cao các kiến thức cơ bản về tài chính, ngân hàng khác.

Thứ năm, cần tăng cường vai trò của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng (trong đó có bảo vệ người tiêu dùng tài chính), nhằm ngăn ngừa rủi ro, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính, đảm bảo an toàn, tránh các hệ lụy cho xã hội.

Thời gian tới, khi Cơ chế thử nghiệm được thông qua, NHNN cần có hướng dẫn cụ thể đối với các TCCƯDVTGTT để quá trình triển khai thử nghiệm đạt hiệu quả, an toàn.

Về phía các công ty P2P Lending được tham gia thử nghiệm phải đảm bảo đáp ứng các tiêu chí, điều kiện theo quy định, trong đó cần các tiêu chuẩn về vốn tối thiểu, năng lực về công nghệ, hệ thống công nghệ thông tin và quản lý rủi ro; đội ngũ quản lý và nhân viên tay nghề cao, am hiểu pháp luật về tín dụng ngân hàng và quy định pháp luật liên quan...

Tài liệu tham khảo:


1. Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng.

2. Cổng thông tin điện tử NHNN: sbv.gov.vn

3. Cổng thông tin điện tử Bộ Công an: bocongan.gov.vn


Phan Linh (NHNN)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng