Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chính sách
Đi cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng nhanh chóng, sâu rộng và những tiến bộ vượt bậc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế số. Tại Việt Nam, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành từ cuối thế kỷ XX cho đến nay.
aa

Tóm tắt: Đi cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng nhanh chóng, sâu rộng và những tiến bộ vượt bậc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế số. Tại Việt Nam, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành từ cuối thế kỷ XX cho đến nay. Quá trình này nhằm chuyển đổi từ nền sản xuất và xã hội ở trình độ nông nghiệp lạc hậu, tiến tới xã hội có trình độ công nghiệp với việc sử dụng các công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại và văn minh. Do đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế số là bước đi tất yếu của Việt Nam. Bài viết này sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để nêu rõ thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp phát triển kinh tế số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Từ khóa: CMCN 4.0, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế số, thương mại điện tử.

DIGITAL ECONOMY DEVELOPMENT IN VIETNAM IN THE PROCESS OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION

Abstract: Along with the trend of increasingly rapid and extensive international integration, and significant progress from the Fourth Industrial Revolution, the requirement for each country is to promote the development of digital economy. In Vietnam, the issue of industrialization and modernization of the country has been advocated by the Party and State since the end of the twentieth century until now. This process aims to transform from production and society at the backward agricultural level to the industrial level with the use of increasingly advanced, modern and civilized technologies. Therefore, the process of industrialization and modernization associated with the digital economy development strategy is an inevitable step in Vietnam. This article uses the method of document analysis (Content-analysis) to analyze the current situation of the digital economy development in Vietnam. Thereby, the article offers solutions to develop the digital economy in Vietnam in the process of industrialization and modernization of the country.

Keywords: The Fourth Industrial Revolution, industrialization, modernization, digital economy, e-commerce.

1. Giới thiệu

Cuộc CMCN 4.0 đã làm cho xu hướng số hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ và có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống, dựa trên các nền tảng công nghệ mới như: Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT). Công nghệ số được ứng dụng ở tất cả các lĩnh vực của ngành kinh tế, khi đó thuật ngữ kinh tế số trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng khoa học, đặc biệt là các diễn đàn kinh tế và các phương tiện truyền thông khác.

Nosova và cộng sự (2018) cho rằng, trong tương lai gần nền kinh tế số sẽ bao phủ phần lớn các nền kinh tế trên thế giới. Với sự xuất hiện của phương tiện kỹ thuật số (Internet, điện thoại di động, các phương tiện thu thập, lưu trữ, phân tích và cung cấp thông tin khác) thì việc sao chép và phân phối dữ liệu kỹ thuật số được diễn ra một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn. Thuật ngữ kinh tế số đề cập đến các hoạt động kinh tế, mà yếu tố chính trong quá trình sản xuất là dữ liệu dưới dạng kỹ thuật số.

Tại Việt Nam, Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nêu rõ, kinh tế số là hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) - viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế.

Nền kinh tế số trên thế giới đang phát triển rất nhanh chóng, trở thành chìa khóa cho nhiều nền kinh tế vươn ra toàn cầu, điển hình là tại Trung Quốc. Đối với Việt Nam, dư địa phát triển nền kinh tế số đang rất lớn, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, kinh tế số Việt Nam năm 2021 chiếm 8,2% GDP với 163 tỷ USD. Kinh tế số đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ cuối thế kỷ XX. Ngày 03/6/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu: Vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực ra toàn cầu. Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%. Đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%. Tương tự, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng xác định, đến năm 2025, kinh tế số đạt tỷ trọng 20% GDP; đến năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP.

2. Cơ sở lý thuyết

Ustyuzhanina và cộng sự (2017) cho rằng, nền kinh tế số là sự thay đổi trong mô hình phát triển kinh tế kéo theo những thay đổi trong bản chất của sự phân công lao động, cách thức tương tác giữa các chủ thể kinh doanh và nền tảng về quyền lực kinh tế. Theo BEA (Bureau of Economic Analysis), kinh tế số là nền kinh tế chủ yếu dựa trên nền tảng Internet và CNTT và truyền thông (ICT) có liên quan (Barefoot và cộng sự, 2018).

Với IMF (2018), nền kinh tế số đôi khi được định nghĩa theo nghĩa hẹp là các nền tảng trực tuyến và các hoạt động tồn tại nhờ vào các nền tảng đó. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng thì tất cả các hoạt động sử dụng dữ liệu số hóa được xem là một phần của nền kinh tế số trong các nền kinh tế hiện đại và toàn bộ nền kinh tế.

Tại “Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2019”, các chuyên gia đã định nghĩa kinh tế số là toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số, phát triển kinh tế số được xem là việc ứng dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới (Tô Trọng Hùng, 2021). Bản chất của nền kinh tế số là hoạt động liên quan trực tiếp đến sự phát triển của công nghệ số, bao gồm cung cấp các dịch vụ trực tuyến, thanh toán điện tử, thương mại điện tử (TMĐT) và huy động vốn từ cộng đồng (Borremans và cộng sự, 2018).

Mô hình kinh tế số được cấu thành từ ba phần cơ bản là kinh tế số ICT/VT, kinh tế số Internet/nền tảng và kinh tế số ngành/lĩnh vực, trong đó: (1) Kinh tế số ICT/VT là dịch vụ viễn thông và lĩnh vực CNTT; (2) Kinh tế số Internet/nền tảng gồm các hoạt động kinh tế dựa trên Internet, kinh doanh dựa trên dữ liệu số, kinh doanh các dịch vụ số trực tuyến và các hình thức kinh doanh khác dựa trên mạng Internet; (3) Kinh tế số ngành/lĩnh vực là các hoạt động kinh tế dựa trên việc áp dụng các công nghệ số, nền tảng số vào các lĩnh vực và ngành truyền thống nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra giá trị kinh tế mới, giá trị tăng thêm cho xã hội. (Hình 1)

Hình 1: Các cấu phần của nền kinh tế số


Nguồn: Cục Chuyển đổi số Quốc gia - AITA (2021)

Theo Bondarenko (2020), nền kinh tế số chỉ được xem là hiệu quả khi có sự gắn kết chặt chẽ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và lợi ích của từng cá nhân ở những thời điểm khác nhau. Điều này sẽ giúp giải quyết vấn đề đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân nói chung và mỗi cá nhân nói riêng.

3. Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Theo báo cáo của e-Conomy SEA (2020), chỉ tính riêng cấu phần kinh tế số Internet/nền tảng, tổng giá trị hàng hóa (GMV) của Việt Nam năm 2020 đạt 14 tỷ USD, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, đáng chú ý Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất với tỷ lệ tăng là 16%, xếp sau đó là Indonesia với 11% và Thái Lan là 7%. Bất chấp sự ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nền kinh tế số Internet/nền tảng của Việt Nam năm 2020 vẫn tăng trưởng ở mức hai con số. Cũng theo báo cáo này, kinh tế số Internet/nền tảng của Việt Nam được dự báo đến năm 2025 đạt 52 tỷ USD. (Hình 2)

Hình 2: GMV của nền kinh tế Internet khu vực Đông Nam Á năm 2020

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Báo cáo e-Conomy SEA 2020

Cũng theo e-Conomy SEA (2021) (Hình 3), chỉ tính riêng cấu phần kinh tế số Internet/nền tảng, GMV của Việt Nam năm 2021 đạt 21 tỷ USD, ngang bằng với Malaysia, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, với tốc độ tăng trưởng là 7%, giảm 9% so với năm 2020. Điều này có thể lý giải rằng, năm 2021 Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nặng nề từ đại dịch Covid-19, ngành du lịch giảm 45% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được bù đắp bởi hoạt động TMĐT, vận tải và thực phẩm, tăng lần lượt 53% và 35% YoY.

Bên cạnh đó, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, kinh tế số Việt Nam năm 2021 đạt khoảng 163 tỷ USD, chiếm khoảng 8,2% GDP cả nước, trong đó cấu phần kinh tế số ICT/VT đạt 126 tỷ USD, chiếm 5,5% GDP, kinh tế số Internet/nền tảng đạt 14 tỷ USD, chiếm 1% GDP và kinh tế số ngành/lĩnh vực đạt khoảng 23 tỷ USD, chiếm 1,7% GDP (Phùng Thị Hiền, 2022).

Hình 3: GMV của nền kinh tế Internet khu vực Đông Nam Á năm 2021

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Báo cáo e-Conomy SEA 2021


Theo nhận định của Báo cáo Chỉ số TMĐT EBI năm 2022 do Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) vừa công bố, lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam tiếp tục duy trì được đà phát triển nhanh và ổn định. Năm 2021, tốc độ tăng trưởng TMĐT của Việt Nam trên 20% với quy mô ước đạt trên 16 tỷ USD, trong khi năm 2017 con số này chỉ ở mức 8 tỷ USD. Đồng thời, theo thống kê của Bộ Công Thương, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước có tốc độ tăng trưởng thị phần bán lẻ trực tuyến cao nhất khu vực Đông Nam Á. Hơn nữa, theo Báo cáo e-Conomy SEA năm 2021 (Hình 4), Việt Nam là quốc gia có 71% người dùng Internet đã thực hiện ít nhất một lần mua hàng trực tuyến năm, xếp vị trí thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á. Là một quốc gia có hơn 73% dân số sử dụng Internet (tính đến cuối quý III/2022), tốc độ tăng trưởng TMĐT của Việt Nam được dự báo sẽ cao hơn nhiều trong thời gian tới do kiểm soát tốt dịch Covid-19 và những động lực tăng trưởng từ chủ trương của Chính phủ.

Tính đến cuối năm 2021, Việt Nam có hơn 150 công ty Fintech cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thanh toán điện tử, ví điện tử, cho vay ngang hàng (P2P Lending) và quản lý tài chính cá nhân... số lượng công ty Fintech đã tăng gấp 4 lần so với năm 2016 (Đỗ Quang Trị, 2021). Nhìn chung, hoạt động của các công ty Fintech tại Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều điểm nổi bật nhờ vào việc ứng dụng sâu rộng công nghệ kỹ thuật số trong kinh doanh, cùng với sự bùng nổ mạnh mẽ của TMĐT cả về quy mô, hình thức và chủ trương đẩy mạnh thanh toán kỹ thuật số của Chính phủ.

Về việc xây dựng Chính phủ điện tử (E-Government), theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2015) “Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp”. Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai xây dựng Chính phủ điện tử và đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận như: Xây dựng và đưa vào vận hành một số cơ sở dữ liệu quan trọng; cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân; một số bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường Internet; hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về CNTT của Việt Nam cũng được nâng cao. Một trong những dấu ấn đặc biệt trong việc xây dựng Chính phủ điện tử là sự kiện khai trương Cổng dịch vụ công quốc gia vào ngày 09/12/2019 với 08 dịch vụ công, tính đến ngày 29/11/2022 có đến 1.462 dịch vụ công trực truyến được tích hợp cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia với tổng số 4.258 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền; hơn 150 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; gần 6 triệu hồ sơ thực hiện trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Từ những con số trên cho thấy, kỳ vọng và nhu cầu rất lớn của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện giao dịch trực tuyến với Chính phủ trên cổng tập trung.

Cho đến nay, nền kinh tế số Việt Nam đã đạt được những thành tựu ban đầu đáng ghi nhận, nhưng so với khu vực Đông Nam Á và rộng ra thế giới thì quá trình phát triển kinh tế số của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, tồn tại một số hạn chế và khó khăn nhất định, cụ thể:

Hệ thống thể chế và môi trường pháp lý liên quan đến kinh tế số ở Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện và thiếu đồng bộ trong quá trình thực hiện các giao dịch về cơ sở dữ liệu nên chưa thể khai thác và phát huy hết tiềm năng để phát triển kinh tế số. Nguồn nhân lực quốc gia hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là nguồn nhân lực CNTT còn thiếu kỹ năng số. Mức độ nhận thức của cộng đồng xã hội về nền kinh tế số chưa cao, nhiều cán bộ, doanh nghiệp và người dân chưa nắm bắt kịp thời những chủ trương, chính sách và quy định từ Đảng và Nhà nước để thực hiện đồng bộ.

Tương lai bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của TMĐT ở Việt Nam sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng thu hút vốn đầu tư vào các nền tảng trong hệ sinh thái kinh doanh trực tuyến, cũng như đội ngũ nhân sự chất lượng cao. Theo Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam năm 2022, nguồn nhân lực TMĐT ở Việt Nam còn thiếu, đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho việc lựa chọn tên miền chưa phù hợp cũng như hiệu quả hoạt động rất thấp của các sàn TMĐT tại các vùng nông thôn, vùng kinh tế kém phát triển. Mức độ phát triển TMĐT ở Việt Nam thường không đồng đều giữa khu vực thành thị (Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội) và nông thôn, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.

Bên cạnh đó, việc đảm bảo an ninh mạng, bảo mật và an toàn thông tin ở Việt Nam còn nhiều bất cập và đối mặt với không ít rủi ro. Bởi lẽ, phát triển kinh tế số được dựa trên nền tảng của CNTT thông qua Internet, do đó nguy cơ xảy ra các cuộc tấn công an ninh mạng, rò rỉ thông tin dữ liệu của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế số là rất cao. Đặc biệt, trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, hình thức làm việc từ xa được rất nhiều doanh nghiệp triển khai thực hiện, hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro bảo mật thông tin xuất phát từ hệ thống mạng và hành vi của nhân viên. Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là nước có tỷ lệ nhiễm mã độc và xảy ra nhiều cuộc tấn công mạng thuộc nhóm cao trên thế giới.

Ngoài ra, hạ tầng viễn thông, CNTT có tốc độ truy cập chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển IoT, thành phố thông minh, phương tiện tự động, sản xuất thông minh... (Bộ Công Thương, 2021). Trong nền kinh tế số, nguồn dữ liệu là tài nguyên quan trọng. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu của ở nước ta còn phân tán, chưa được đồng đều, việc tiếp cận dịch vụ Internet băng rộng ở khu vực nông thôn, miền núi còn hạn chế.

4. Giải pháp phát triển kinh tế số cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ nhất, Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0. Việc hoàn thiện khung pháp lý có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cải thiện môi trường kinh doanh kinh tế số. Khi đó, các mô hình kinh doanh số như TMĐT, tài chính số và ngân hàng số được hoạt động theo khuôn khổ nhất định, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia có liên quan.

Thứ hai, các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương cần nhanh chóng hoàn thiện, đồng bộ và nâng cấp hạ tầng số, nhằm tăng tính an toàn bảo mật thông tin trên mạng Internet cho các chủ thể tham gia vào nền kinh tế số. Đồng thời, để tạo điều kiện cho TMĐT có thể bùng nổ trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có liên quan cần xây dựng các chính sách quản lý, phát triển hoạt động TMĐT phù hợp; chính quyền địa phương cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho các doanh nghiệp, hộ cá nhân về kỹ năng TMĐT, khuyến khích cộng đồng xã hội ứng dụng TMĐT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, để có thể đáp ứng các yêu cầu cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, Việt Nam cần chú trọng phát triển hạ tầng viễn thông bao gồm hạ tầng băng rộng cố định, di động và đặc biệt là hạ tầng trung tâm dữ liệu quốc gia. Các cơ quan chính quyền địa phương cần đẩy mạnh huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp tư nhân vào phát triển hạ tầng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước cần phân bổ nguồn lực phù hợp đến các khu vực chưa có hạ tầng mạng cáp quang. Bộ Thông tin và Truyền thông cần tích cực triển khai mạng di động 5G, xem xét dừng sử dụng công nghệ 2G nhằm khuyến khích người dân sử dụng Smartphone; thúc đẩy thị trường bán buôn truy cập dịch vụ Internet băng rộng.

Thứ tư, chú trọng công tác đào tạo và nâng cao nguồn nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Để làm được điều này, hệ thống giáo dục của các trường đại học, cao đẳng cần cải cách chương trình đào tạo phù hợp với định hướng pháp triển nền kinh tế số. Đặc biệt, chương trình đào tạo ngành CNTT cần tập trung vào công nghệ mới như: AI, IoT, công nghệ Blockchain, đẩy mạnh liên kết đào tạo và thực hành giữa các trường và đơn vị doanh nghiệp trong ứng dụng CNTT...

Thứ năm, giải pháp về vấn đề an ninh mạng, bảo mật và an toàn thông tin là nhiệm vụ rất cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế số. Để giảm thiểu rủi ro xảy ra các cuộc tấn công an ninh mạng, cần có sự chung tay phối hợp từ cơ quan Nhà nước đến các doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào nền kinh tế số. Trước tiên, Chính phủ cần nhanh chóng bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quản lý các dịch vụ viễn thông, Internet, cần lưu ý đến tính hiệu lực thi hành của các văn bản này. Đồng thời, Chính phủ cần xem xét và sửa đổi cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm an ninh mạng, đặc biệt là chế tài xử phạt cần được áp dụng phù hợp với tính chất nguy hiểm của vụ việc. Cùng với đó, các doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào nền kinh số cần phải hết sức thận trọng và nâng cao nhận thức về rủi ro an ninh mạng.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Nội chính Trung ương (2021), Thủ tướng: Phát triển Chính phủ điện tử là một điểm sáng nổi bật trong nhiệm kỳ, truy cập ngày 12/7/2022, https://noichinh.vn/tin-tuc-su-kien/202103/thu-tuong-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-la-mot-diem-sang-noi-bat-trong-nhiem-ky-309281/

2. Barefoot, K., Curtis, D., Jolliff, W., Nicholson, J. R., & Omohundro, R. (2018), “Defining and measuring the digital economy”, US Department of Commerce Bureau of Economic Analysis, Washington, DC.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2015), Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam Phiên bản 1.0 ban hành kèm theo Văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015.

4. Borremans, A. D., Zaychenko, I. M., & Iliashenko, O. Y. (2018), “Digital economy, IT strategy of the company development”, In Matec Web of Conferences, Vol 170, Page 01034, EDP Sciences.

5. Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

6. Chính phủ (2022), Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

7. Bộ Công Thương (2021), Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển hạ tầng số, truy cập ngày 14/7/2022, https://congthuong.vn/viet-nam-con-gap-nhieu-kho-khan-trong-phat-trien-ha-tang-so-167482.html

8. Cục Chuyển đổi số quốc gia (2021), Tình hình phát triển kinh tế số tại Việt Nam, truy cập ngày 24/11/2022, https://aita.gov.vn/tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-so-tai-viet-nam

9. Đỗ Quang Trị (2021), Cơ hội và thách thức phát triển Fintech tại Việt Nam, Tạp chí Công Thương, số 27, tháng 12, truy cập ngày 11/7/2022, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/co-hoi-va-thach-thuc-phat-trien-fintech-tai-viet-nam-86436.htm

10. Google, Temasek, Bain & Company (2021), E- Conomy SEA 2021.

11. Google, Temasek, Bain & Company (2020), E- Conomy SEA 2020.

12. IMF (2018), Measuring the Digital Economy, truy cập ngày 24/11/2022, https://www.imf.org/en/Publications/Policy-Papers/Issues/2018/04/03/022818-measuring-the-digital-economy

13. Nosova, S. S., Norkina, A. N., Makar, S. V., Arakelova, I. V., Medvedeva, A. M., & Chaplyuk, V. Z. (2018), “The digital economy as a new paradigm for overcoming turbulence in the modern economy of Russia”, Espacios, 39 (24), 11.

14. Phùng Thị Hiền (2022), Thực trạng và giải pháp phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, truy cập ngày 11/7/2022, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-nen-kinh-te-so-tai-viet-nam-346308.html

15. Tô Trọng Hùng (2021), “Nhận thức về kinh tế số và một số giải pháp phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam: Tạp chí Công thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 9 tháng 4/2021.

16. Ustyuzhanina, E. V., Sigarev, A. V., Komarova, I. P., & Novikova, E. S. (2017), “The impact of the digital revolution on the paradigm shift in the economic development”, Revista Espacios, 38 (62).


ThS. Đoàn Thị Cẩm Thư
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng