Niêm yết cổ phiếu trên thị trường quốc tế đối với các ngân hàng thương mại nhà nước - Mục tiêu nhiều thách thức

Thị trường tài chính
Niêm yết cổ phiếu (niêm yết) trên thị trường quốc tế là lựa chọn cho nhiều doanh nghiệp khi muốn tiếp cận thị trường vốn quốc tế.
aa

Tóm tắt: Niêm yết cổ phiếu (niêm yết) trên thị trường quốc tế là lựa chọn cho nhiều doanh nghiệp khi muốn tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Đối với ngành Ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018. Chiến lược này đề ra mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2025 có 3 - 5 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025” được phê duyệt tại Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ cũng tiếp tục đề ra mục tiêu đến năm 2025 phấn đấu có 1 - 2 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế.

Là những tổ chức tín dụng dẫn đầu hệ thống ngân hàng về tổng tài sản, vốn hóa thị trường, thị phần tín dụng, huy động vốn, các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM) nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đều đề ra mục tiêu nghiên cứu, phấn đấu niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế1. Năm 2025 gần đến, nhưng xem ra, việc thực hiện mục tiêu mà các NHTM nhà nước đã đề ra vẫn là thách thức lớn.

Từ khóa: Niêm yết cổ phiếu, chứng khoán, NHTM nhà nước.

LISTING STATE - OWNED COMMERCIAL BANKS’ STOCKS ON THE INTERNATIONAL MARKET
- A CHALLENGING GOAL

Abstract: Listing stocks on the international market is an option for businesses to access the international capital market. For the Vietnamese banking industry, Decision No. 986 dated August 8th, 2018 of the Prime Minister approved the Strategy for the development of the Vietnamese banking industry to 2025, with a vision to 2030. This Strategy sets a goal of striving to have 3 - 5 banks’ shares listed on international stock markets by the end of 2025. The project “Restructuring the system of credit institutions associated with handling non-performing loan in the period 2021 - 2025” approved in Decision No. 689 dated June 8th, 2022 of the Prime Minister also aims to have 1 - 2 banks’ shares listed on the international stock market by 2025.

As the leading credit institutions in the banking system in terms of total assets, market capitalization, credit market share, capital mobilization, State - owned joint stock commercial banks in which the State holds more than 50% of charter capital set the goal of researching and listing their stocks on the international stock market. However, that is a huge challenges for these banks.

Keywords: Stock listing, securities, State-owned commercial banks.

1. Thuận lợi khi niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán quốc tế

Niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán quốc tế có thể giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động, thương hiệu và tiềm năng phát triển. Các lợi ích này có thể được đánh giá qua một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, niêm yết trên sàn giao dịch cho phép các ngân hàng huy động vốn quốc tế bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng. Nguồn vốn này có thể được sử dụng để mở rộng hoạt động kinh doanh, cải tiến công nghệ hoặc nâng cao chất lượng dịch vụ. Đồng thời, việc niêm yết quốc tế tạo điều kiện cho các ngân hàng tiếp cận nhà đầu tư nhiều hơn, bao gồm cả nhà đầu tư tổ chức và cá nhân trên thị trường quốc tế, từ đó có thể giảm chi phí vốn. Ngoài ra, các ngân hàng niêm yết công khai có thể đạt được lợi thế cạnh tranh nhờ tính minh bạch cao và chi phí vay thấp hơn, qua đó nâng cao sự tin tưởng của khách hàng, mở rộng cơ hội kinh doanh.

Thứ hai, niêm yết quốc tế giúp nâng cao tính thanh khoản cho cổ phiếu của ngân hàng, giúp các cổ đông, nhà đầu tư dễ dàng mua, bán cổ phiếu hơn.

Thứ ba, giá trị thị trường của ngân hàng niêm yết được định giá chính xác, chuyên nghiệp, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Việc này có thể đóng vai trò như một chỉ số chuẩn để đánh giá hiệu suất, tính hữu ích cho việc hoạch định chiến lược và sáp nhập của ngân hàng.

Thứ tư, việc niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán quốc tế lớn sẽ thúc đẩy gia tăng khả năng nhận diện thương hiệu, nâng cao uy tín, danh tiếng của ngân hàng với khách hàng, nhà đầu tư và đối tác kinh doanh.

Thứ năm, việc tuân thủ các tiêu chuẩn của một sàn giao dịch chứng khoán quốc tế lớn là động lực cho các ngân hàng để cải thiện hiệu quả quản trị doanh nghiệp, củng cố phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

2. Khó khăn khi niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán quốc tế

Niêm yết thành công tại thị trường quốc tế là chiến lược huy động vốn lâu dài, hiệu quả, thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược với nguồn vốn dồi dào, bề dày kinh nghiệm quản lý. Đây cũng là cơ hội để các NHTM nhà nước quảng bá thương hiệu, tạo được sự ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và tổ chức tài chính. Tuy nhiên, quy trình niêm yết tại thị trường chứng khoán quốc tế rất khắt khe, buộc các NHTM nhà nước phải đầu tư về cả thời gian, nguồn lực tài chính. Để được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế lớn, ngân hàng phải chi trả nhiều loại chi phí, chấp nhận gánh nặng tuân thủ và có nguy cơ đối mặt một số bất lợi, rủi ro có thể phát sinh đi kèm với việc niêm yết. Tác giả xin nêu ra một số vấn đề cần cân nhắc:

Một là, những chi phí chủ yếu

- Chi phí phát hành thứ cấp: Bao gồm phí bảo lãnh phát hành, phí pháp lý, phí kế toán và chi phí marketing. Ngoài ra, chưa tính đến chi phí thuê tư vấn quốc tế có kinh nghiệm để hỗ trợ triển khai.

- Phí niêm yết: Bao gồm phí niêm yết ban đầu và hằng năm phải trả cho sàn giao dịch chứng khoán, dựa trên vốn hóa thị trường của ngân hàng và các yếu tố khác. Ví dụ, một doanh nghiệp muốn niêm yết trên SGX phải chi trả nhiều khoản chi phí liên quan đến niêm yết ban đầu, niêm yết bổ sung; bên cạnh đó, doanh nghiệp phải trả phí niêm yết hằng năm và phí xử lý liên quan đến thông tin tài liệu… (Bảng 1)

Bảng 1: Một số chi phí dự kiến khi niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế2



- Chi phí tuân thủ quy định: Ngân hàng phải đáp ứng thêm nhiều yêu cầu tuân thủ và các yêu cầu tuân thủ cũng khắt khe hơn so với thị trường Việt Nam. Ví dụ: Khi tổ chức đại hội đồng cổ đông, các NHTM nhà nước có thể sẽ vi phạm thời hạn cung cấp tài liệu họp theo quy định của pháp luật do nhiều nội dung phải xin ý kiến cơ quan quản lý nhà nước trước khi trình đại hội đồng cổ đông. Trên SGX, việc vi phạm các quy định về công bố thông tin như vậy sẽ đi liền với các án phạt nghiêm khắc, bao gồm cả việc hủy niêm yết.

- Chi phí hành chính, chi phí bảo hiểm, chi phí pháp lý…: Niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế đòi hỏi nhiều chi phí hành chính liên quan đến quản lý thông tin liên lạc với cổ đông, thành lập và vận hành các bộ phận phụ trách quản trị và giám sát tuân thủ; chi phí bảo hiểm và pháp lý của ngân hàng sẽ tăng lên do mức độ giám sát cao và khả năng kiện tụng từ phía cổ đông nước ngoài. Trường hợp cần thiết, ngân hàng có thể phải tổ chức một bộ phận riêng biệt gồm các nhân sự có trình độ cao để theo dõi, quản lý, phục vụ các hoạt động có liên quan tới việc niêm yết quốc tế.

Hai là, một số bất lợi và rủi ro khi niêm yết quốc tế

Bên cạnh gia tăng chi phí, việc niêm yết quốc tế có thể khiến ngân hàng phải đối mặt với một số bất lợi và rủi ro đáng kể, cần được cân nhắc nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của ngân hàng hoặc phát sinh chi phí cao để khắc phục hậu quả.

- Tăng áp lực giám sát và nguy cơ kiện tụng: Ngân hàng niêm yết công khai chịu sự giám sát liên tục từ các nhà phân tích, nhà đầu tư và cơ quan quản lý quốc tế. Người điều hành đôi khi buộc phải tập trung vào kết quả ngắn hạn thay vì mục tiêu chiến lược dài hạn do yêu cầu của thị trường chứng khoán và nhà đầu tư. Ngoài ra, hoạt động trên thị trường quốc tế, với luật lệ và hệ thống pháp lý phức tạp, cách thức tổ chức thực hiện, điều hành có nhiều điểm khác biệt so với Việt Nam có thể làm tăng nguy cơ kiện tụng, tranh chấp pháp lý giữa ngân hàng với đối tác, cổ đông.

Cùng với việc có thêm nhiều bên liên quan, quy trình ra quyết định có thể trở nên phức tạp và mất nhiều thời gian, làm chậm sự đổi mới, tính linh hoạt và khả năng phản ứng của ngân hàng.

- Giảm tính bảo mật: Khi niêm yết trên thị trường quốc tế, ngân hàng có thể sẽ phải công bố bổ sung một lượng thông tin đáng kể theo yêu cầu của cơ quan quản lý nước sở tại. Điều này có thể dẫn đến giảm tính bảo mật liên quan đến hoạt động, hiệu suất tài chính và kế hoạch chiến lược của ngân hàng.

Đây là vấn đề trọng yếu không chỉ của các NHTM nhà nước mà còn liên quan tới an ninh tài chính tiền tệ quốc gia do các ngân hàng này có vai trò chủ đạo, chủ lực trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia (lãi suất, tỉ giá, thanh khoản…).

- Biến động thị trường: Giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi các xu hướng thị trường rộng lớn hơn, vượt ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, gây ra sự bất ổn đối với tình hình kinh doanh và khả năng quản trị rủi ro. Ví dụ, niêm yết trên SGX giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường tài chính tiền tệ của Singapore, trong đó có biến động của đồng đô la Singapore. Đối với thị trường chứng khoán Hồng Kông, rủi ro từ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung có thể gây ra những xáo trộn trên thị trường, ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

3. Điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế

Để được chấp thuận niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế, các NHTM nhà nước phải đáp ứng các điều kiện về yêu cầu tài chính, quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và công bố thông tin theo yêu cầu của thị trường đó. Các NHTM nhà nước cơ bản đáp ứng các yêu cầu về tài chính (quy mô tổng tài sản, lợi nhuận, vốn hóa…), nhưng khó có khả năng đáp ứng các yêu cầu về quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và công bố thông tin. Ví dụ, SGX yêu cầu nhà phát hành nước ngoài phải có ít nhất 2 thành viên hội đồng quản trị độc lập, cư trú tại Singapore; yêu cầu mỗi công ty niêm yết phải thành lập 3 ủy ban vào thời điểm niêm yết, trong đó, mỗi ủy ban gồm ít nhất 3 thành viên, phần lớn trong số này, bao gồm cả chủ tịch mỗi ủy ban, phải là thành viên độc lập. Trong khi đó, các NHTM nhà nước hiện tại đều chỉ có 1 thành viên hội đồng quản trị độc lập, cư trú tại Việt Nam. Đồng thời, SGX yêu cầu báo cáo tài chính phải được lập theo SFRS(I) (tiêu chuẩn báo cáo tài chính của Singapore), IFRS hoặc US GAAP. Hiện tại, các báo cáo tài chính của phần lớn các NHTM nhà nước đều được lập theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam. (Bảng 2)

Bảng 2: Một số điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế5




4. Giải pháp để các NHTM nhà nước sớm niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế

Việc niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế đòi hỏi một số điều kiện mà hiện nay các NHTM nhà nước chưa thể đáp ứng hoặc khó đáp ứng. Đồng thời, ngân hàng sẽ phát sinh nhiều khoản chi phí liên quan tới việc phát hành, duy trì trạng thái niêm yết, thực hiện các yêu cầu tuân thủ của sở giao dịch chứng khoán quốc tế và hệ thống luật pháp của nước sở tại; ngân hàng cũng có khả năng đối mặt với một số bất lợi và rủi ro về áp lực giám sát, nguy cơ kiện tụng, bảo mật, biến động thị trường. Trong khi đó, lợi ích của việc niêm yết quốc tế trong ngắn hạn là chưa thật sự rõ nét. Cụ thể:

- Các NHTM nhà nước đã và đang thực hiện tốt việc huy động vốn từ thị trường trong nước và cả quốc tế thông qua các kênh truyền thống. Chi phí huy động vốn bằng ngoại tệ của các NHTM nhà nước luôn ở mức tương đối thấp và trong mấy năm gần đây cũng như hiện nay, chi phí huy động vốn từ thị trường vốn quốc tế không thật sự hấp dẫn.

- Cổ phiếu các NHTM nhà nước đang được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có thanh khoản tốt, ổn định.

- Trên thị trường, các NHTM nhà nước được đánh giá là thương hiệu mạnh, uy tín; quy trình quản trị điều hành chuyên nghiệp, hiệu quả. Các ngân hàng này cũng đã chủ động triển khai nhiều dự án nâng cao năng lực quản trị tiệm cận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đề cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Nhìn từ thời điểm hiện nay, có thể khẳng định các NHTM nhà nước đều khó có thể thực hiện niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế vào năm 2025 như mục tiêu đã xác định.

Trong giai đoạn tới, để khai thác tối đa lợi ích và hạn chế rủi ro cho các NHTM nhà nước khi niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế, cần xem xét một số giải pháp sau:

Thứ nhất, về phía các cơ quan quản lý nhà nước: Cần có cơ chế thí điểm, tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM nhà nước niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế như định hướng thị trường, hợp tác chia sẻ thông tin, hướng dẫn thủ tục; giảm thời gian phê duyệt; cho phép tăng tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hoặc bơm thêm vốn từ cổ đông Nhà nước để đối ứng với phần vốn huy động từ nước ngoài; tạo điều kiện cho các NHTM nhà nước tăng tính độc lập trong quản trị doanh nghiệp, tăng số lượng thành viên hội đồng quản trị độc lập, bố trí thành viên hội đồng quản trị độc lập giữ vị trí chủ tịch các ủy ban kiểm toán, nhân sự của hội đồng quản trị...

Thứ hai, về phía các NHTM nhà nước: Cần nâng cao hơn nữa tính minh bạch và tuân thủ trong hoạt động quản trị, hướng đến thực hành theo chuẩn quốc tế, cải thiện cơ hội đáp ứng các yêu cầu niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế như: Xây dựng báo cáo theo chuẩn mực IFRS, tăng tính tuân thủ trong công bố thông tin, thiết lập bộ máy quản trị nội bộ đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường mục tiêu…

Niêm yết trên thị trường quốc tế dẫu chưa thực sự là mục tiêu khả thi trong ngắn hạn nhưng là định hướng đúng đắn đối với các NHTM nhà nước. Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ thời điểm này thì mục tiêu đó hoàn toàn có thể được hiện thực hóa trong giai đoạn tiếp theo, góp phần khẳng định vị thế của các ngân hàng Việt Nam trong hội nhập quốc tế.


1 Căn cứ Nghị quyết đại hội đồng cổ đông, Báo cáo thường niên của NHTM Công thương Việt Nam (Vietinbank), NHTM Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NHTM Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).

VietinBank: Nghị quyết số 20/NQ-ĐHĐCĐ ngày 23/4/2019 đề ra mục tiêu “Phấn đấu trở thành 1 trong 2 ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế”.

BIDV: Báo cáo thường niên từ năm 2019 đã thông tin về hoạt động “nghiên cứu các thủ tục, điều kiện để xây dựng kế hoạch phát hành và niêm yết cổ phiếu của BIDV trên thị trường chứng khoán quốc tế uy tín”.

Vietcombank: Báo cáo thường niên năm 2023 đã thông tin về mục tiêu chiến lược “Nghiên cứu, phấn đấu phát hành cổ phiếu và niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế”.

2 Căn cứ theo thông tin tại Báo cáo hướng dẫn niêm yết xuyên biên giới tại Website của Hãng Luật BakerMcKenzie.
3 Công ty mua lại có mục đích đặc biệt (SPAC: Special-purpose acquisition company) là một loại công ty vỏ bọc chuyên mua lại hoặc sáp nhập với một công ty khác, với mục đích chính là đưa công ty đó lên sàn giao dịch chứng khoán.
4 ADR issuer: Nhà phát hành chứng chỉ lưu ký tại Mỹ (American Depositary Receipt).
5 Căn cứ theo thông tin tại Báo cáo hướng dẫn niêm yết xuyên biên giới tại Website của Hãng Luật BakerMcKenzie.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nghị quyết đại hội đồng cổ đông, báo cáo thường niên của các NHTM nhà nước các năm 2019 - 2023.

2. Báo cáo Hướng dẫn niêm yết xuyên biên giới - Baker Mckenzie.

3. Website của SGX, HKSE, LSE…

ThS. Lê Hoàng Tùng và Ban Chiến lược Thư ký HĐQT Vietcombank
Vietcombank


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không phụ thuộc vào một mô hình phát triển duy nhất mà đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở những ưu tiên chính sách giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao.
Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến nhiều biến động lớn của kinh tế thế giới khi các rủi ro địa chính trị, năng lượng và thương mại diễn ra đồng thời và có tác động lan tỏa mạnh mẽ tới thị trường tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều quốc gia. Là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu năng lượng cũng như xuất khẩu sang các thị trường lớn, Việt Nam chịu ảnh hưởng tương đối rõ nét từ các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đầy đủ cơ chế truyền dẫn, phân tích tác động đối với nền kinh tế Việt Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều hành chính sách trong ngắn hạn cũng như nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng  từ các quốc gia đang phát triển

Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng từ các quốc gia đang phát triển

Bài viết phân tích tác động của tài chính toàn diện dựa trên công nghệ tài chính (Fintech) đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia mới nổi, qua đó khẳng định vai trò của đổi mới tài chính và chuyển đổi số trong nâng cao năng lực chống chịu của ngân hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển hệ thống tài chính bền vững.
Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh kinh tế số và công nghệ tài chính (Fintech) phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại, lấy lĩnh vực tài chính làm động lực tăng trưởng mới, được xem là hướng đi chiến lược để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và từng bước khẳng định vị thế trong hệ thống tài chính quốc tế.
VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

Không đi theo quỹ đạo phát triển của các Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) truyền thống, IFC Việt Nam (VIFC) tại Đà Nẵng (VIFC-DN) được định vị theo hướng trở thành một “phòng thí nghiệm tài chính” hiện đại. Mô hình này nhấn mạnh tính chuyên biệt, gắn kết chặt chẽ với các trụ cột kinh tế số và tài chính xanh, qua đó tạo không gian thử nghiệm và triển khai các sáng kiến tài chính mới. Với định hướng này, Đà Nẵng được kỳ vọng hình thành cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh bởi căng thẳng địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, Việt Nam đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được xem là bước đi chiến lược trong tiến trình “Đổi mới 2.0” hay Đổi mới lần 2 - là giai đoạn chuyển mình chiến lược nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại, kết nối sâu với thị trường toàn cầu. Trên cơ sở các định hướng lớn của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cùng các cơ chế đặc thù để triển khai IFC với tinh thần chủ động, quyết liệt, vừa làm vừa hoàn thiện thực tiễn, qua đó tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao và nâng tầm vị thế kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế biển xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tài chính biển xanh, khơi thông dòng vốn cho các ngành kinh tế biển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia.
Xem thêm
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy