Một số điều cần biết về thông tin tín dụng và hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kinh tế - xã hội
Thông tin tín dụng là các thông tin về khách hàng vay và những thông tin liên quan đến khách hàng vay tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong đó: Khách hàng vay là pháp nhân, cá nhân có quan hệ tín dụng với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
aa

1. Thông tin tín dụng và hoạt động của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC)

Thông tin tín dụng là các thông tin về khách hàng vay và những thông tin liên quan đến khách hàng vay tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong đó: Khách hàng vay là pháp nhân, cá nhân có quan hệ tín dụng với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động cấp tín dụng của các TCTD.


Nguồn ảnh: Internet

Ở Việt Nam, hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) do CIC làm đầu mối tổ chức, thực hiện. Theo đó, CIC thực hiện các chức năng sau: (i) Thu nhận, xử lý, lưu trữ và quản lý cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng quốc gia; (ii) Cung cấp thông tin tín dụng nhằm mục đích phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng; (iii) Chấm điểm, xếp hạng tín dụng pháp nhân và thể nhân trên lãnh thổ Việt Nam phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của NHNN; (iv) Cung ứng sản phẩm dịch vụ thông tin tín dụng theo quy định của NHNN và pháp luật.

Hiện nay, kho dữ liệu Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam do CIC quản lý lưu giữ thông tin của hơn 55 triệu hồ sơ khách hàng, với sự tham gia báo cáo thông tin của 100% các TCTD hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức tự nguyện. Hoạt động thông tin tín dụng hướng tới những mục đích sau:

Thứ nhất, hỗ trợ NHNN thực hiện chức năng quản lý, hoạch định chính sách, thanh tra giám sát của NHNN; góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Thứ hai, hỗ trợ TCTD ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.

Thứ ba, hỗ trợ khách hàng vay trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các tổ chức cấp tín dụng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

2. Những điều cần biết trong hoạt động thông tin tín dụng

Điểm tín dụng là một chỉ số phản ánh mức độ tín nhiệm của khách hàng vay. Điểm số đó cho biết khả năng một khách hàng vay có thể trả nợ và thanh toán các khoản vay đầy đủ và đúng hạn. Điểm tín dụng càng cao tương ứng với rủi ro không thanh toán được các khoản nợ càng thấp và khả năng tiếp cận tín dụng càng cao.

Mỗi cơ quan, tổ chức thực hiện chấm điểm tín dụng sẽ có các thang điểm tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau. Tại CIC, điểm tín dụng là kết quả của quá trình tính toán kết hợp các thông tin tín dụng của khách hàng vay bao gồm: Thông tin định danh, thông tin về dư nợ của khách hàng, lịch sử thanh toán các khoản vay và một số thông tin liên quan khác.

Theo mô hình chấm điểm tín dụng thể nhân của CIC, điểm tín dụng của khách hàng vay được áp dụng theo nguyên tắc: Hạng thấp, điểm cao - Mức độ rủi ro thấp; Hạng cao, điểm thấp - Mức độ rủi ro cao. Cụ thể, điểm tín dụng của khách hàng vay (từ 403 - 706) được chia làm 5 cấp độ: Xấu (hạng 9, hạng 10); dưới trung bình (hạng 7, hạng 8); trung bình (hạng 5, hạng 6); tốt (hạng 3, hạng 4) và rất tốt (hạng 1, hạng 2); tương ứng với 10 hạng từ thấp nhất là hạng 10 và cao nhất là hạng 01.

Để có thể nâng cao được điểm tín dụng của mình, tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn tại các TCTD, các khách hàng cần cân nhắc thực hiện:

Một là, chỉ vay vốn/mở thẻ tín dụng khi thực sự cần thiết và tính toán kĩ khả năng trả nợ dựa trên thu nhập thực tế.

Hai là, có kế hoạch trả nợ đầy đủ và đúng hạn; luôn cân nhắc về khả năng tài chính của mình để hoạch định kế hoạch chi tiêu nhằm trả nợ đủ và đúng thời gian; luôn có ý thức trả nợ, dù là khoản nợ nhỏ (có thể sử dụng các công cụ nhắc nợ tự động như phần mềm ghi nhớ trên điện thoại).

Ba là, thường xuyên kiểm tra thông tin tín dụng của bản thân để giám sát thông tin và mức độ tín nhiệm về bản thân và tránh bị kẻ gian lợi dụng, có phương án xử lý nếu phát hiện thông tin của mình chưa chính xác.

Khi có nhiều khoản nợ cùng lúc khách hàng nên cố gắng chi trả dần số dư nợ hiện tại, không nên phát sinh thêm nhiều khoản nợ mới, đặc biệt là nợ tín chấp, nợ vay tiêu dùng.

Theo quy định tại Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ tại các TCTD được chia thành 05 nhóm, trong đó, nợ quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên được coi là nợ xấu, bao gồm các nhóm nợ như sau: Nhóm 3 dưới tiêu chuẩn (quá hạn từ 91 - 180 ngày), nhóm 4 nghi ngờ (quá hạn từ 181 - 360 ngày) và nhóm 5 có khả năng mất vốn (quá hạn trên 360 ngày). Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ đã không được thanh toán đúng hạn và đã quá hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.

Theo Thông tư số 03/2013/TT-NHNN ngày 28/01/2013 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của NHNN, mọi thông tin tiêu cực về khách hàng vay được CIC sử dụng để tạo lập sản phẩm thông tin tín dụng theo thời gian tối đa 05 năm kể từ ngày kết thúc thông tin tiêu cực đó.

Khách hàng có lịch sử nợ xấu vẫn có cơ hội tiếp cận tín dụng, căn cứ khẩu vị rủi ro và nguyên tắc đánh giá khách hàng vay của TCTD.

Việc đánh giá rủi ro đối với khách hàng dựa trên nhiều yếu tố theo quy định pháp luật và quy định nội bộ của từng TCTD; thông tin do CIC cung cấp là một trong nhiều kênh tham khảo, hỗ trợ, không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến quyết định của TCTD.

Khi phát hiện thông tin tín dụng bị sai, khách hàng cần thực hiện những bước sau đây:

Bước 1: Đăng ký tài khoản và tự kiểm tra thông tin tín dụng của bản thân tại CIC.

Bước 2: Nếu phát hiện thông tin bị sai sót, khách hàng phản ánh với CIC qua tổng đài 1800585891 hoặc chuyên mục “Khiếu nại/phản hồi” tại website: http://cic.gov.vn (gửi kèm giấy tờ chứng minh).

Nếu trường hợp sai sót trong quá trình xử lý dữ liệu, CIC có trách nhiệm điều chỉnh sai sót và thông báo kết quả đến khách hàng.

Nếu trường hợp dữ liệu tại CIC đúng, CIC sẽ yêu cầu TCTD kiểm tra, xác minh thông tin. Sau khi xác minh thông tin, TCTD gửi văn bản trả lời cụ thể tới CIC và đề xuất điều chỉnh dữ liệu (nếu cần). CIC sẽ căn cứ vào kết quả phản hồi từ TCTD xử lý và thông báo kết quả đến khách hàng.

Tất cả thông tin của khách hàng tại CIC được cập nhật/lưu trữ trung thực, khách quan đúng theo các thông tin được các TCTD báo cáo. CIC hay bất kỳ tổ chức/cá nhân nào đều không được phép tự ý điều chỉnh các thông tin này. Mọi quảng cáo về dịch vụ xóa nợ xấu đều là hành động lừa đảo.

Thông tin tín dụng chỉ có thể được điều chỉnh nếu ghi nhận các sai sót do lỗi tác nghiệp và phải tuân thủ quy trình xác minh, kiểm tra nghiêm ngặt.

3. Sản phẩm do CIC cung cấp

CIC cung cấp các nhóm sản phẩm, báo cáo sau đây cho TCTD:

Nhóm các sản phẩm thông tin tín dụng khách hàng: Sản phẩm thông tin Quan hệ tín dụng (QHTD) (R10A, R11A, S10A, S11A); sản phẩm thông tin bảo đảm tiền vay (R20, R21); sản phẩm thông tin chủ thẻ tín dụng (R14); cảnh báo tức thời (S37).

Nhóm các sản phẩm chấm điểm, xếp hạng tín dụng: Sản phẩm chấm điểm tín dụng khách hàng vay (S40); sản phẩm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp (XH50); sản phẩm xếp hạng tín dụng tập đoàn, tổng công ty (XH51); sản phẩm bộ chỉ số trung bình ngành (XH53).

Nhóm sản phẩm báo cáo thông tin doanh nghiệp: Báo cáo thông tin doanh nghiệp nước ngoài (S70).

Nhóm sản phẩm dịch vụ cảnh báo và theo user: Cảnh báo nhóm chi nhánh TCTD (S33 - dành cho Hội sở TCTD); cảnh báo nhóm khách hàng pháp nhân, thể nhân (S34, S35); cảnh báo nhóm khách hàng của chi nhánh TCTD có nợ xấu tại chi nhánh TCTD khác (S36); khách hàng có phát sinh nợ cần chú ý trong kỳ (S39); khai thác nhu cầu vay trên cổng thông tin kết nối khách hàng vay.

Nhóm các sản phẩm được CIC cung cấp theo yêu cầu: Tùy theo nhu cầu sử dụng thông tin của các TCTD mà CIC có cung cấp các sản phẩm phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau của đơn vị như tìm kiếm khách hàng, quản trị danh mục đánh giá khách hàng, quản trị rủi ro, xây dựng mô hình, thẻ điểm…

Các hình thức khai thác thông tin tín dụng dành cho TCTD qua hai kênh chính:

Hình thức 1: CIC cung cấp tất cả các sản phẩm trong danh mục sản phẩm qua hai trang web: cic.org.vn và cic.gov.vn.

Hình thức 2: Thông qua kênh kết nối trực tiếp H2H, chỉ cung cấp một bộ phận sản phẩm trong danh mục sản phẩm hiện hữu của CIC (sản phẩm làm sẵn, một số sản phẩm theo yêu cầu…).

Một số trường hợp đặc biệt (gói dữ liệu lớn, đơn vị đề xuất nhận dữ liệu qua văn bản…), CIC có thể triển khai cung cấp qua các thiết bị lưu trữ hoặc văn bản.

Các đơn vị TCTD bao gồm: Hội sở, các chi nhánh, phòng giao dịch (được ủy quyền của chi nhánh) đều có thể trực tiếp ký kết hợp đồng dịch vụ thông tin tín dụng với CIC để khai thác các sản phẩm. Đơn vị ký hợp đồng chủ động quản lý cán bộ và đăng ký bổ sung/thay đổi theo nhu cầu thực tế.

Mỗi hợp đồng dịch vụ, TCTD chỉ được đăng ký 01 user thanh toán, đơn vị sử dụng user này để đăng nhập; chủ động đối chiếu số liệu khai thác, in thông báo thanh toán và hóa đơn giá trị gia tăng cho các dịch vụ đã sử dụng.

CIC chỉ cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho các pháp nhân có ký hợp đồng khai thác thông tin với CIC. Theo đó, các đơn vị ngoài TCTD muốn khai thác thông tin về đối tác cần cung cấp cam kết của chủ thể thông tin cho phép đơn vị được khai thác thông tin của chủ thể tại kho dữ liệu của CIC.

Với khách hàng cá nhân, CIC cung cấp báo cáo tín dụng về bản thân khách hàng (K11 - Sản phẩm thông tin tín dụng khách hàng vay cá nhân).

Để tra cứu thông tin tín dụng của bản thân, khách hàng cần đăng ký tài khoản bằng cách tải ứng dụng iCIC/CIC Credit Connect (CICB) trên điện thoại thông minh hoặc truy cập website của CIC.

Khi được cấp tài khoản (đăng ký thành công), khách hàng có quyền: Khai thác báo cáo tín dụng của bản thân miễn phí 1 lần trong 1 năm; được tìm kiếm thông tin về các sản phẩm vay/thẻ tín dụng của các TCTD trên địa bàn được đăng tải trên cổng thông tin kết nối khách hàng vay của CIC; được đăng ký nhu cầu vay/mở thẻ với các TCTD, được TCTD kết nối, tư vấn, lựa chọn gói vay phù hợp với nhu cầu của bản thân, tiết kiệm được chi phí đi lại, thời gian khi sử dụng dịch vụ ngân hàng, qua đó tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng dễ dàng và nhanh chóng hơn; được CIC giải thích/tư vấn về cách cải thiện điểm tín dụng, giải quyết các khiếu nại điện tử liên quan đến thông tin tín dụng của bản thân; được tiếp cận một kênh tư vấn tài chính hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức trong việc kiểm soát, bảo mật thông tin tín dụng của cá nhân.

Khách hàng có nghĩa vụ cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin khi đăng ký tài khoản. Mỗi khách hàng chỉ đăng ký một tài khoản với một số điện thoại (đối với cá nhân) hoặc với một mã số doanh nghiệp. Ngoài ra, CIC cũng cung cấp báo cáo theo gói phục vụ các khách hàng vay có nhu cầu tra cứu thông tin nhiều lần trong một năm, giúp khách hàng tiết kiệm chi phí và thuận tiện hơn trong quá trình khai thác.

CIC có chính sách chiết khấu đối với các đơn vị hỏi tin theo số lượng lớn/ tần suất nhiều lần. Cụ thể, hiện tại CIC đang áp dụng chính sách giá bán bậc thang đối với các TCTD tra cứu số lượng lớn theo tháng hoặc theo từng lượt khai thác số lượng lớn hỏi tin sản phẩm theo yêu cầu. Ngoài ra, CIC có áp dụng các hệ số chiết khấu đối với gói dữ liệu xây dựng mô hình.

Đơn vị sử dụng không phải trả khoản phí nào liên quan đến việc duy trì hợp đồng và quản trị tài khoản. CIC chỉ thu phí trên bản trả lời tin có thông tin tín dụng do CIC cung cấp thành công cho đơn vị.

CIC luôn công khai chính sách giá về các sản phẩm, dịch vụ do CIC cung cấp cho các đối tượng được khai thác báo cáo. Các đơn vị sử dụng có thể chủ động truy cập website của CIC để cập nhật chính sách giá sản phẩm, dịch vụ mới nhất đang được áp dụng.

Ngày 30/12/2022, Tổng Giám đốc CIC đã ban hành Quyết định số 269/QĐ-TTTD quy định về giá sản phẩm dịch vụ thông tin tín dụng của CIC. Theo đó, CIC vẫn tiếp tục duy trì chính sách ưu đãi đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và đối với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Hợp tác xã lần lượt bằng 20% và 50% so với mức giá sản phẩm tương ứng cung cấp cho TCTD. Đặc biệt, đối với các TCTD được vinh danh là đơn vị xuất sắc của năm được hưởng chiết khấu 2% trên tổng số tiền khai thác trong năm kế tiếp; TCTD được vinh danh là đơn vị tiêu biểu của năm được hưởng chiết khấu 1% tương ứng.

Nhật Minh




https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Sáng 30/6/2026, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Xem thêm
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam